Phần V
VÔ-THƯỢNG-ĐẲNG KHÔNG BAO GIỜ NÓI HAY CHỈ DẠY
******
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM NÓI DẠY ĐỂ CHO CHÚNG-SANH
TỎ-TÂM GIÁC-NGỘ
TỎ-TÂM GIÁC-NGỘ
NẦY THIỆN-NAM-TỬ, THIỆN-NỮ-NHƠN, Bản-Thể Chân-Tâm Bất-Sanh Bất-Diệt Bất-Cấu Bất-Tịnh Bất-Tăng Bất-Giảm. Do một khởi-sanh Diệu Giác soi khắp Pháp-Giới trở thành PHÁP-THÂN. Chẳng khởi sanh-diệt đó chính NHƯ-LAI đồng hiệp TẠNG liền Diệu-Giác-Minh, gọi là NHƯ-LAI-TẠNG. Tự phân biệt theo biệt phân nó là PHÁP-GIỚI. Từng Pháp-Giới lầm mê trở thành CHÚNG-SANH-GIỚI. Có chúng sanh cần phải tu tâm mà thu-nhiếp đoạt Bản Thể CHÂN-TÂM.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, đối với Chân-Tâm thì không chỗ chỉ, nhưng kể từ hàng tu-tâm để nói lên có thể đưa đến Tâm-Giác phần nào. Bậc tu tâm qua các phẩm Hạnh-Nguyện đoạt đến Tâm-Thông. Lúc Tâm-Thông vạn-pháp đoạt đến Tâm-Không. Thật Chứng Chân-Không, hạnh-nguyện Tròn Nguyện Trọn-Giác Bát-Nhã-Trí, Sở-Đắc TỔNG-TRÌ ĐÀ-LA-NI-TẠNG. Nơi Tổng Trì soi khắp tỏ rõ thật biết tỉ mỉ không thiếu sót. Từ nơi ẨN Mật-Pháp đến Hiện-Tướng tương sanh, từ ĐẠO-PHẨM rốt ráo đoạt VÔ-THƯỢNG CHÁNH-GIÁC.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, đối với bậc Vô-Thượng Chánh-Giác không thể nào chỉ điểm được, vì sao? Vì Chân-Tâm còn không thể nào chỉ điểm diễn nói được mà làm thế nào chỉ đặng VÔ-THƯỢNG-ĐẲNG CHÁNH-GIÁC. Đối với pháp TỐI-THƯỢNG còn có thể diễn nói chỉ dạy, chớ Vô-Thượng-Đẳng Chánh-Giác không thể chỉ nơi Giác Vô-Thượng được, mà chính Vô-Thượng không bao giờ nói hay chỉ dạy, có nói có dạy chăng không phải lời nói dạy của Vô-Thượng, mà chính lời nói dạy của TỰ-TẠI ĐẠI- BI-TÂM nói dạy để cho chúng-sanh có Tín-Tâm mới Tỏ-Tâm Giác-Ngộ, gọi là Tâm truyền cho Tâm, TÂM TRỌN-GIÁC.
Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, chớ nên lầm tưởng Vô-Thượng-Đẳng đã nói, đã dạy. Khi lầm-tưởng như thế đương nhiên lòng Tự-Mãn phát sinh Tăng-Thượng. Tăng-Thượng ấy do lòng Tự-Mãn nên tự xưng Tối-Thượng Chánh-Giác. Đó chính là tự mình lầm-lẫn mất nơi Cung-Kính, mất tinh-thần Tối Cao Vô-Thượng Chánh-Giác.
Các Thiện-Nam, hàng Thiện Nữ, nên biết tất cả Kinh-Pháp Tam-Tạng Kinh-Điển đã từng diễn nói chỉ dạy, chẳng phải lời nói, lời chỉ dạy của Vô-Thượng-Đẳng Chánh-Giác, mà lời nói lời chỉ dạy kia chính là lời chỉ dạy của ĐẠI-BI-TÂM, TỰ-TẠI-TÂM vì thương xót Chúng-Sanh mê-Lầm nên bị vướng-vào Ngũ-Độc, chịu nơi Sanh-Tử. Chỉ vì cuồng-Tín vọng-tâm mong cầu CHÁNH BÁO từng sát-na nhịp-nhàng may rủi, lúc sa cơ CHỊU-BÁO than van buồn khổ điên đảo tưởng mơ thọ-nghiệp, thọ chủng-tánh, thọ tâm-sanh, mà phải thọ Chúng-Sanh-Giới, nên cách biệt Chân Tâm trăm vạn nẻo đường về Chánh-Giác. Bởi nó như thế nên chi TỰ-TẠI-ĐẠI-BI-TÂM mới chỉ dạy Tu-Tâm Hành-Sự đầy đủ Pháp-Môn Tri-Kiến Giải-Thoát.
Sự diễn nói của ĐẠI-BI, nói lên lời nói thương xót Chúng-Sanh quan-niệm lầm lẫn sai biệt với Thể Tánh Chân-Tâm, cốt đưa Chúng-Sanh tu đúng, hành đúng đồng hợp Bản-Thể mà CHÁNH-GIÁC. Lời dạy của TỰ-TẠI-TÂM nói lên lời Tự-Tại phá mê chấp, giải những vọng-tưởng cầu mong sai biệt, dẹp tất cả những nghi ngờ, cốt giải các Năng-Sở-Kiến-Tri an trụ.
Tự-Tại-Tâm nói lên các pháp Tự-Tại, chỉ vì thương Chúng-Sanh thường trụ, thường chấp, thường bị tập nhiễm vương mang vọng-tưởng, thường hoài mong nơi TU-CHỨNG mau chậm, lại thường quan niệm mơ màng, nên TỰ-TẠI-TÂM mới nói: “Sự Tu-Chứng nó không có thứ lớp, nơi Sở-Đắc nó không có chừng đổi. Vì sao? – Vì Phàm-Phu nương nhờ nơi Nhân-Duyên mà thọ lãnh. Còn bậc Tu Chứng nhờ vào CĂN-CƠ mà Sở-Đắc, do đó nên Tu-Chứng không có thứ lớp.”
Đến lúc sự tu-hành thuần-túy, tùy căn-cơ, tùy Trí-Tuệ, tùy Phẩm-Hạnh, tùy Hạnh-Nguyện còn thiếu khuyết phải nói rằng tu-hành nó có nhiều thứ bậc làm cho chúng-sanh suy ngẫm chu đáo thật biết tỉ mỉ từng pháp-giới, được Tinh-Tấn, được Nhẫn-Nhục và đến NHƯ TRÍ Thiền-Định thật CHÁNH-GIÁC.
TỰ-TẠI-ĐẠI-BI, vì chúng sanh CẤU và LY nên thường nói pháp Tối-Thượng Phi-Đẳng, cốt yếu khi chúng-sanh Cấu-Nhiễm liền Xuất-Ly Cấu-Nhiễm. Lúc chúng sanh LY chẳng CẤU thì liền nói pháp NHIẾP-THÂU CẤU-TỊNH đó chính là pháp THIỆN-XẢO. Cũng như chúng sanh TIN-PHẬT quá Tín, thì nói rằng: phải Tu-Tâm giải Nghiệp mới là Tin-Phật, chớ chẳng nên ngồi quán-tưởng mà có Phật. Đến giai-đoạn chúng-sanh tu tâm giải nghiệp CÓ, liền mang nghiệp HƯ-KHÔNG Phi-Tưởng thì lại nói phải nhìn phải thường hướng về Chư-Phật tán thán Công-Đức vô lượng vô biên Chư-Phật đã làm, ngày nay phải Tự Nguyện đang làm, cốt đem lại cho chúng sanh DIỆU-GIÁC MINH-TÂM soi khắp muôn phương không thiếu sót, từ nơi Chiêm-Ngưỡng đến Tâm Cung-Kính Cung-Nghinh mà sở-đắc các pháp vi-diệu, các lý-sự chưa bao giờ biết hôm nay được biết, những gì chưa được thấy hôm nay nhờ Thanh Tịnh Bình-Đẳng đến Đại-Thanh-Tịnh mà được Thấy huy-hoàng không hai Tướng, thi-hành nơi Hành-Dụng, Diệu-Dụng nhận tỏ rõ nên mới xưng-tán NHƯ LAI.
TỰ-TẠI-TÂM, nói các pháp Tự-Tại không chướng-ngại, cốt yếu mở đường-dẹp lối cho Chúng-Sanh. Chúng-Sanh từ Trí-Thức mơ màng đang sống nơi Mê-Lầm hỗn-loạn, nhiều Vọng hơn là Thực-Thể, nhiều sự lầm lạc hơn là lần bước trên đường đi đứng đắn để được an vui trong lẽ sống huy-hoàng. Khi Chúng-Sanh tu-tập theo lời liền nhận để biết, nhận đặng nghe, nhận mà thấy, thì nơi Nghe-Thấy-Biết thảy đều là chân thật, ít lâm vào nơi điên đảo phân vân nghi ngờ nơi Tâm-Thức nữa. Pháp Tự Tại là một pháp cứu cánh, khi bậc đang tu-hành mỗi ngày Cổi-Giải-Tâm tạo nên Đạo-Đức, càng phá mê-chấp bao nhiêu thì càng hiểu biết thêm bấy nhiêu. Càng thi-hành nơi LÝ bao nhiêu, thì phải thực-hành nơi SỰ bấy nhiêu. Nương nhờ nơi LÝ-SỰ tương song để tỏ ngộ đó chính là pháp-môn tu không lìa Thể-Tánh. Bằng đương nhiên nghi ngờ nơi Thần-Thức di-chuyển CÓ-KHÔNG và KHÔNG-CÓ mà thọ-chấp lấy mỗi một bên thảy đều điên đảo. Như kẻ nhìn MẶT TRĂNG, mắt lòa hai ánh xao-xuyến, hai Tướng Có-Không đều là Tâm-Vọng. Ví như cây SEN đang sanh sống thu hút màu mỡ, bỗng nhiên SEN nghĩ có hút bùn hay không hút bùn? -Chỉ vì SEN kia tự nhận thấy bùn nhơ đâm ra như thế. Chẳng khác bậc tu-hành đang tu BI-CHÍ-DŨNG GIỚI-ĐỊNH-TUỆ cùng các Pháp Môn, tự nhiên suy nghĩ CHÂN-GIẢ, GIẢ-CHÂN xong trở lại suy tính NÓ cũng CHÂN MÀ NÓ CŨNG GIẢ. Nơi CÓ KHÔNG cũng thế, nếu SEN kia cứ mãi nhiếp thu màu mỡ đương nhiên ngày kia đặng có HOA. Bậc tu cứ mãi tu-trì đương nhiên Đắc-Quả, đó chính thật là minh xác vậy.
ĐẠI-BI-TÂM chỉ rõ để nói lên tất cả chúng-sanh từ nơi CHÂN-TÁNH sáng suốt của mình chẳng biết dùng nó, từ nơi TÂM-GIÁC, TÂM-THÔNG nơi mình không biết dụng nó. Chỉ nhận lấy SẮC-TƯỚNG mà dùng, nhận lấy bề ngoài làm nơi minh xác, do Tâm thường mắc miếu năng phân bị-biệt trở thành giới hạn khác nhau. Vì vậy mới có từng sắc-thái, từng Chủng-Tộc đến Y Áo Giai-Cấp. Lý-Trí chẳng đồng đương sinh khắc biệt. Từ chỗ khắc biệt nên có tranh giành thù-hận gây tạo hoàn-cảnh đủ điều để mà suy nghĩ tính toán. Bởi nó như thế nên tâm thường động vọng, tâm hay điên-đảo, tâm thường cách-biệt, tâm thường hay ghét-thương, tâm thường hay luyến-ái, tâm thường hay sợ sệt lo âu, ít khi tâm được thong thả thảnh thơi chỉ vì sáu bộ trên nên trở thành Tâm Sanh-Tử.
ĐẠI-BI-TÂM thật biết đứng về Nhân-cách, Thiên-cách, Tiên-cách, Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục, tư-cách của họ không bao giờ muốn như thế, nhưng vì trót mê-lầm nên thường bề ngoài để mà CÁCH TƯỚNG, thường nhận lấy bề ngoài làm nơi hiểu biết tư-cách cá nhân mình trở thành dị biệt thiểu-trí lầm mê. Chẳng khác kẻ uống lầm Ngũ-độc mặt mày xây xẩm, đứng trước tấm gương nhìn trong gương thấy mặt mình quá to sợ hoảng la hét. Nếu kẻ ấy nhận biết mình đang lầm say Ngũ-độc mà thấy nó như thế, thì không bao giờ hoảng sợ. Bậc tu-hành biết chính mình đang bị lầm lẫn sống theo ý-thức vọng-tâm, nay đã nhận nơi TÂM-GIÁC để mà TỰ GIÁC thì không bao giờ sợ vạn-pháp. Nơi Tâm-Giác ấy chính là TRÍ TUỆ THIỀN-ĐỊNH.
ĐẠI-BI-TÂM thật biết sự lầm mê của chúng-sanh bỏ Tâm-Giác mà phải nhìn nhận Sắc-Pháp dị-biệt nên mới nói: “TÁNH THÌ BÌNH-ĐẲNG, CÒN SẮC TƯỚNG BẤT BÌNH-ĐẲNG”. Bên ngoài không bao giờ bình-đẳng, duy nhất Tâm Giác mới nhận thấy bình-đẳng mà thôi. Nói đến bên ngoài từ Sắc-Thái, Chủng Tộc, Tướng-Mạng của mỗi Dân-Tộc, y-áo của mỗi bậc, sự hiểu biết nhiều ít, nặng nhẹ, khôn-dại trở thành giai cấp thứ bậc khác nhau, đó chính là lẽ dĩ nhiên của nó phải như thế.
ĐẠI-BI-TÂM mới khuyên tu CHỦ QUÁN THIỀN-TỌA để tự quán thân Tứ Đại của con người, nhờ Thiền-Tọa Chủ Quán nên mới nhận thấy con người, dù cho có trăm vạn người chăng thì mỗi một người có Ruột-Gan-Phèo-Phổi-Tim-Óc-Máu-Mủ, tổng cộng 36 thứ bất tịnh in nhau. Đồng với Nghe-Thấy-Biết đều nhau. Nếu sửa Tánh Tu-Tâm hoặc chịu khó học hỏi, cầu lấy sự tiến bộ đồng nhau, bằng tu-tập liền đến Giác-Ngộ đồng-đẳng như nhau. Nhờ nhận biết như thế nên được Tâm-Giác Bình-Đẳng Sở-Đắc Thanh-Tịnh. Khi Thanh-Tịnh-Tâm thi-hành BÌNH-ĐẲNG TÁNH-TRÍ mới nhận biết được Pháp môn Tọa-Thiền cốt nhận được Tâm-Giác để Giác-Ngộ, chớ chẳng phải theo sự mơ ước ảo-huyền nhập Thiền ra vào Cảnh-Giới Tiên-Thần để nuôi mộng trên hình-thức SẮC-TƯỚNG lầm mê như những kẻ nói trên đã bị đứng trước Sắc-Tướng cầu mong.
ĐẠI-BI TỰ-TẠI-TÂM minh xác thật thể nhìn chúng-sanh đang đứng trước mơ màng viễn-vông quá ư lầm mê trong vạn-pháp. Do đó nên mới KHAI để cho nó THỊ mới đến đặng cho nó NGỘ-NHẬP bằng đủ phương-tiện cốt đưa nó nhận chân để đến Giác-Ngộ. Vì nó mơ màng viễn-vông lầm mê như thế nên có bậc hỏi nó: Sống để làm gì? Thì nó chẳng biết nói sao hơn là: Sống để ăn. Nếu hỏi ăn để làm gì? – Thì nó lại nói: Ăn để sống. Hoặc giả bậc ấy hỏi nó: Làm để làm gì? – Nó cũng chẳng biết nó mãi làm rồi để làm gì.
Do đó, lúc nó tu-hành nó chưa nhận định được nó tu để làm gì. Dù cho nó có nhận định với mức của nó đã hiểu chăng đi nữa cũng không ngoài ra tu để tạo lấy Đức-Tánh tốt, hoặc nhẹ bớt cho Tâm khỏi nghĩ viễn-vông bận rộn, hoặc tu để nhờ kiếp sau nhàn hạ. Chúng Sanh nó luôn luôn suy nghĩ, nơi suy nghĩ của nó không ngoài vạn-pháp Luân-Hồi.
May ra nó gặp đặng Bậc Thiện-Trí-Thức Giác-Ngộ mới tận tường Chủng Trí của nó mơ màng nhiều viễn-vông thường cố chấp trên sự lầm lạc của nó, mới tùy phương-thức nơi nó mà KHAI để cho nó THỊ, lập thể biết nó đã có sự TIN-VÂNG mới ĐỐN đặng cho nó NGỘ, khi nó Ngộ mới khuyến-khích cho nó thực hành cốt cho nó thật tỏ rõ để giúp cho nó NHẬP, cứ đưa cho nó lần lần hiểu, đến lần lần biết, đến bá thiên lần KHAI, bá thiên lần cho nó THỊ, qua bá thiên lần ĐỐN, trọn đến bá thiên lần nó NGỘ, nó phải Hạnh-Nguyện qua bá thiên lần như thế cho thật rốt ráo mới NHẬP hoàn toàn Giác-Ngộ.
ĐẠI-BI TỰ-TẠI-TÂM thật biết nơi mê lầm của chúng-sanh, từ Biển cả rộng rãi, từ Đại-Hải-Trí nó lầm bỏ để nhận lấy Bọt-Nước. Do lẽ ấy nên chi chủng-trí thấp kém khi gặp Bậc Thiện-Tri-Thức Khai-Thị cho nó, dạy dỗ cho nó, lần đưa cho nó Trí-Tuệ, đối với nó chẳng bao giờ muốn thọ chấp để an-trụ, do nó an-trụ vì chính nó chưa biết. Bởi nó như thế nên chi chính miệng nó nói là Tâm nó chưa biết.
Vì lẽ miệng nói TÂM chưa biết, nên chi Bậc Chỉ-Đạo mới khuyên Miệng nói TÂM chưa biết thì cần phải học lại lời nói đã nói nơi miệng đi. Đến chừng miệng nói Tâm biết, hay Tâm đã biết miệng mới nói, đó gọi là GIÁC-TÂM TỎ-PHÁP.
Tình-trạng nầy thời ĐỨC THẾ TÔN vẫn thường có Chư Bồ-Tát đã từng thuyết-pháp có lúc thuyết thời pháp quá tầm tuyệt-mỹ, chưa bao giờ có những lời thuyết ấy, mới về bạch Đức THẾ-TÔN, Ngài nói: Ông nương vào Công-Đức của Như-Lai mới nói được như thế. Chừng đó Bồ-Tát nhận biết khi miệng nói Tâm chưa biết cần học lại lời nói của miệng. Đối với Chúng-Sanh đang đứng trước mơ màng thích thú chuyện viễn-vông rất dễ lầm-nhận, vẫn yên trí rằng chính miệng mình đã nói đương nhiên mình đã Giác, dù muốn hoặc giả chưa muốn cũng bị lầm.
Do nơi lầm ấy mà phần nhiều nói: Tôi đọc tụng Bát-Nhã hay tu Bát-Nhã, chưa biết Bát-Nhã là chi. Dù có trích yếu văn-tự nhìn hai chữ Bát-Nhã là TRÍ-TUỆ vẫn chưa hiểu Trí-Tuệ thế nào là Trí-Tuệ Bát-Nhã. Đôi khi quan niệm tùy theo Thiểu-Trí mơ màng cho là Trí-Tuệ rỗng không mà thủ-chấp nơi không để đến nỗi không biết, không Tâm yên-lặng, Tịnh-Khẩu cầu lấy Thanh Tịnh.
NÓI VỀ
BÁT-NHÃ
BÁT-NHÃ thì tất-cả đều có sẵn. Bát-Nhã là gì ?- Bát-Nhã dịch văn-tự là Trí-Tuệ. Trí-Tuệ đều có sẵn không mấy ai chẳng có. Nhưng chênh-lệch nhau nơi biết dùng rộng rãi thanh cao, chưa biết dùng trở thành vụng về nhỏ nhen đen tối. Do đó mới có Thiểu-Trí, Trung-Trí và Đại-Trí, chớ Trí thì Bình Đẳng. Các Bậc Tu-Hành nhiếp thu các Trí làm cho Trí-Tuệ mỗi ngày càng thêm tăng trưởng. Sự nhiếp-thu buổi ban đầu phá mê giải chấp, sau có một trình-độ Công-Năng mới phát Đại Nguyện tu trên Phẩm Bát-Nhã đến rốt-ráo Ba-La-Mật.
Tu Bát-Nhã phải nhiếp-thu tất cả các Trí-Tuệ từng lớp, từng bậc về với chính mình, khi đặng rốt-ráo liền đoạt đến BÁT-NHÃ-TRÍ. Các Trí-Tuệ nhiếp thu không phân biệt Thiện-Ác, Tốt-Xấu, Hư-Nên, Tịnh hoặc Bất-Tịnh, sự Thủ-Chấp hay không Thủ-Chấp. Từ nơi tiến bộ của Trí-Tuệ hoặc thoái bộ nhất nhất đều nhiếp-thu không thiếu sót.
Nơi nhiếp-thu phải có cơ bản nhiếp-độ. Bậc nhiếp-thu phải là bậc Hỷ Xả Vị-Tha trên mọi mặt, mọi hoàn cảnh, bậc nầy vững tâm giúp đỡ cứu vớt đồng với nhiếp-thu đương sinh Bát-Nhã. Bậc tu Bát-Nhã thường xem con đường nhiếp-độ làm mục đích, dù đứng trước Thuận hay Nghịch vẫn một lòng giúp đỡ, không vì nơi nào vẫn cứu giúp. Bằng tu Bát-Nhã mà thường Trụ-Ngã hoặc Thiên-Ngã, Nhân-Ngã, Chúng-Sanh-Ngã để Thọ-Ngã mà an-trụ, đó chưa phải là bậc nhiếp-độ tu Bát-Nhã, vì sao? – Vì từ mỗi một Trí cạn cợt nhỏ bé đứng nơi tư thế THIỂU TRÍ, bậc nhiếp-thu cho đặng bá thiên vạn trí THIỂU hay còn hơn thế nữa mới trưởng thành TRUNG TRÍ. Bậc đã có mỗi một Trung-Trí phải nhiếp-thu cho đặng bá thiên vạn Trung hoặc hơn thế nữa mới trưởng thành mỗi một ĐẠI. Từ một Đại nhiếp-thu bá thiên vạn Đại mới trưởng thành ĐẠI TRÍ. Khi có mỗi Đại-Trí thường phải dung thông nhiếp-độ Từ-Bi Hỷ-Xả đúng với TÔN-CHỈ ĐẠO-PHẬT, hoàn mỹ bá thiên vạn Đại còn hơn thế nữa mới trưởng thành BÁT-NHÃ-TRÍ.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM nói lên Bát-Nhã-Trí đã đặng thành-tựu sung mãn, không còn gọi là Trí Bát-Nhã nữa, vì sao? – Vì Trí ấy vượt qua bờ bên kia, văn-tự dịch ĐÁO-BỈ-NGẠN hay BA-LA-MẬT, chớ nên lầm lẫn Bát-Nhã TRÍ là không-trí theo ngoại-giáo thường chấp-thủ.
NÓI VỀ
CÁC PHẨM HẠNH THẢY ĐỀU
TRỢ – ĐẠO CHO BÁT- NHÃ
Phần trên Tu BÁT-NHÃ, nói chuyên về nhiếp-thu Trí-Tuệ, còn dưới đây nói các Phẩm-Hạnh thảy đều là Trợ-Đạo cho Bát-Nhã. Các bậc tu hành cần phải Hạnh-Nguyện, phải tu tập đầy đủ các Phẩm-Hạnh, các Pháp môn, chung gồm không Trụ-Chấp, đó chính là pháp THƯỜNG-CHÂN BÁT-NHÃ. Nếu chưa Thực-Hành thì chưa bao giờ Thực-Chứng. Bậc tu đến giai-đoạn tu Bát-Nhã chẳng phải ngồi yên Chủ Quán KHÔNG-TƯỚNG, KHÔNG-THỨC, KHÔNG-TRÍ mà Tròn-Giác Bát-Nhã. Bát-Nhã phải thật tỏ rõ, quá ư tỏ rõ, từ Ý THỨC phân biệt tỉ mỉ ra sao, TRÍ THỨC nếp sống như thế nào, văn-tự hành-sự ra sao? TẠNG-THỨC suy nghĩ thế nào? lúc hành-sự ra sao? NHƯ-THỨC an-nhiên tự-tại vui thích như thế nào, Chánh-Báo ra sao? NHƯ-TẠNG thật biết tỏ rõ sự sắp xếp của NHƯ-TẠNG, từ một lời nói nhỏ cũng không mất, tất-cả Vũ Trụ Nhân-Sinh nói năng ngôn-ngữ đến sự hiểu biết của Nhân-Sinh qua Chư Thiên-Tiên các cõi thảy đều sắp xếp tuần-tự có thứ lớp không sai chạy. NHẤT-THIẾT CHỦNG-TRÍ đoạt thành NHẤT TRÍ thật biết tỏ rõ chủng-trí trăm người bị hoàn-cảnh ra sao? đương sanh vui-buồn sướng-khổ thế nào cũng đồng chung NHẤT-TRÍ trong trường hợp in nhau. Thật biết sự suy tính trong một trăm bậc, đồng Lý, đồng Trí, đồng trường-hợp in nhau vẫn đồng có sự vui buồn sướng-khổ, Chánh-Báo Thọ-Báo in nhau. NHƯ-TRÍ chính là một TRÍ NGUYÊN-THỂ, NGUYÊN-DỤNG, NGUYÊN-HÀNH, NGUYÊN-ĐỘ, NGUYÊN KHỨ, NGUYÊN LAI, thật tỏ rõ không hai tướng chẳng hai tánh, rốt-ráo thành-tựu Bát-Nhã-Trí.
TỰ-TẠI-TÂM nói các phẩm như Công-Đức, Hạnh-Nguyện, Lục-Ba-La-Mật-Đa, Tứ-Nhiếp-Pháp, Hành-Thâm Pháp-Giới đều là Phẩm TRỢ-ĐẠO để thành-tựu BÁT-NHÃ-TRÍ. Mỗi một PHẨM hoặc mỗi một HẠNH đều có một BỔN-PHẬN MỤC-TIÊU chính của Phẩm của Hạnh, đến nơi kết quả mục đích của Phẩm-Hạnh ấy. Cũng như THÂN-PHẬT, MẮT-PHẬT để sáng soi, TAI-PHẬT để nghe, MŨI-PHẬT để ngửi, đối với Phẩm-Hạnh đều có mục đích chính, bậc tu cần phải có đầy đủ liền đặng sự phối hợp Giác-Ngộ. Bằng thiếu khuyết thì bậc tu phải chịu lấy thiệt thòi nơi thiếu khuyết vậy.
Nói về Hạnh-Nguyện, một văn-tự liên hệ chia ra thành hai phẩm. Nơi Phẩm-Hạnh thuộc về ĐẠO-HẠNH. Nơi Nguyện thì có Phẩm-Nguyện Độ Sanh Tự-Lợi Tha-Lợi.
Bậc biết tu Đạo-Hạnh tức nhiên biết tạo nên ỨNG-THÂN ĐẮC CHÂN-LÝ. Bậc biết thi hành Phẩm-Nguyện tức nhiên bậc nầy biết Tự-Độ và Tha-Độ thi hành nơi Tự-Lợi Tha-Lợi, chính mình đặng lợi liền Sở-Đắc PHÁP-THÂN CHÂN-LÝ. Khi Pháp-Thân cùng Ứng-Thân đắc Chân-Lý thì lúc bấy giờ đến BÁO THÂN CUNG ỨNG CHÁNH-BÁO CHÁNH-GIÁC, đó chính là mục đích hoàn-mỹ Hạnh Nguyện.
Về TỨ-NHIẾP-PHÁP chính là một pháp-độ chung gồm tất cả các Pháp Môn, các Phẩm-Hạnh để thật-hành LÝ-SỰ đồng song. Thời Trung-Kiếp công dụng Tứ-Nhiếp làm mục-tiêu chính. Thời nầy vừa Giáo-Lý Thực-Hành tương song, qua Mạt-Pháp Hạ-Kiếp có Giáo-Lý kém Thực Hành nên NGỘ-NHẬP rất hiếm. Thời Trung-Kiếp đào tạo Chân-Tâm Thật-Tánh làm căn-bản tu-hành nên đúng với tinh thần Chân-Lý. Thời Hạ-kiếp kém đào tạo Chân-Tâm Thật-Tánh, chỉ cố gắng trên Lý-Trí tìm tòi, do đó thiếu căn bản, giảm tinh-thần Chân-Lý thành thử Thật-Chứng hiếm hoi, Chân-Lý sai lạc trở thành MẠT-PHÁP.
TỨ-NHIẾP-PHÁP mục-tiêu nhiếp độ, thu-nhiếp thi-hành Lục-Hòa hóa độ chung nhau trở thành NHẤT-HẠNH, nên chi có Bốn Phẩm Thật-Hành tu-tập như: ĐỒNG-HÀNH, ĐỒNG-SỰ, ÁI-NGỮ, VỊ-THA, nhiếp-thu dụng-độ lẫn nhau trở thành hiểu biết chung nhau. Nếu các bậc Tu-Hành thiếu kém phần nào thì vẫn chưa thành tựu.
TỰ-TẠI-TÂM nói lên Lý-Sự ĐỒNG-HÀNH ĐỒNG-SỰ là một Bảo-Phẩm nhiếp độ lẫn nhau thật-hành với mục tiêu giúp đỡ, thân cận chỉ bày nhau, phá giải nghi chấp cho nhau trong lúc đi đứng, trong khi lập Hành-Nguyện chung trên con đường Phật-Sự thảy đều thật hành nâng đỡ, thảy đều tán trợ nhau để Tự Lợi Tha-Lợi với nhau. Sau khi đoạt đến đích tỏ rõ các Chủng-Tánh, Nghiệp-Lậu, Pháp-Giới, Trí-Tuệ, Đức-Hạnh của mỗi bậc Thường-Trụ, Thường-Chấp, Thường-Nghi, hoặc giả năng-phân bị biệt lầm mê nơi Tự-Ngã, đắm chìm chốn Sở-Ngã Sắc- Tướng Danh-Giả. Bậc ấy thật tỏ rõ có kẻ lìa Ngã tìm Chân, có người lìa Ngã trụ Phi-Ngã, nhờ Đồng-Hành Đồng-Sự-nhiếp như thế nên Thật-Giác Chứng-Tu Thọ-Ngã của từng bậc, nơi mình chẳng còn lấy một Ngã Chánh-Giác.
ÁI-NGỮ, VỊ-THA: Nơi Ái-Ngữ Vị-Tha có liên-hệ với nhau, bậc Tứ Nhiếp thi-hành Ái-Ngữ, chưa thực-hành Vị-Tha chẳng khác nào KẺ DỤ DỖ NGƯỜI ĐỂ CƯỚP CỦA hay mưu sang đoạt gia-tài. Loài Ma-Ba-Tuần thường dùng nơi Ái-Ngữ để thuyết-giải, lập Đồ-Chúng chẳng tí nào Vị-Tha Bác-Ái. Đối với bậc tu Tứ-Nhiếp chẳng thực hành Vị-Tha cũng như Ma-Ba-Tuần dối phỉnh. Chư-Phật đang còn áp dụng Bác-Ái đến Vị-Tha làm TÔN CHỈ. Còn Chư Bồ-Tát chỉ vì Vị-Tha mới thi hành Hạnh-Nguyện đồng đưa Chúng-Sanh đến đích Giải-Thoát.
Lời ÁI-NGỮ tự nơi lòng Vị-Tha mà phát-triển nó rất quan hệ đến Đức Trí. Nó có mối tình Duy-Nhất, nó cũng là một Pháp-Độ vô biên. Khi bậc tu Tứ-Nhiếp thi-hành đúng đắn nhiếp-độ cho tất-cả liền đặng tất-cả thọ-trì ÁI KÍNH. Ái-Ngữ Vị-Tha không khác mấy với lời Vàng của CHÍ TÔN kêu gọi các con trở về với mẹ, làm thức tỉnh Chúng-Sanh tâm hồi hướng. Ái-Ngữ là tiếng chuông vàng cứu-độ Chúng-Sanh thoát nơi Sanh-Tử.
Nếu bậc tu Tứ-Nhiếp-Pháp có Đồng-Hành, Đồng-Sự-Nhiếp, mà chẳng công dụng Ái-Ngữ Vị-Tha, không khác nào món ăn thiếu tất cả hương-vị ngọt ngào, tình-nghĩa duy-nhất ấm-êm trong bữa tiệc. Đây chính là lời nói Chân Truyền Tứ-Nhiếp-Pháp, là một Pháp-Độ tối cần cho các bậc tu trong Lý-Sự đồng-song, Đức-Trí không hai hoàn mỹ nhiếp-độ trở thành BÁT-NHÃ CHÂN GIÁC.
NÓI VỀ
HÀNH-THÂM PHÁP-GIỚI
CỐT TỎ RÕ
KHỎI LẦM PHÁP-GIỚI.
HÀNH-THÂM PHÁP-GIỚI
CỐT TỎ RÕ
KHỎI LẦM PHÁP-GIỚI.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM chỉ đặc điểm Hành-Thâm Pháp-Giới mục-đích chính cốt tỏ-rõ những điều lầm mê tạo thành Pháp-Giới,cùng các Cảnh-Giới, các Cõi trở thành Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, chịu nơi Pháp-Giới mà sanh tử luân-hồi.
Do lầm tự tạo Pháp-Giới, do Thọ-Nghiệp tạo Pháp-Giới, do Ảo-Tượng tạo Pháp-Giới, do tu-hành Định-Tưởng hoặc Lầm-Tưởng lập-thành Cảnh-Giới, do Thọ-Ngã mộng-tưởng sở-đắc tạo thành các Cõi. Bậc Hành-Thâm Pháp-Giới thật biết như thế thì mới mong rốt-ráo, khỏi lầm nơi Pháp-Giới. Phải viễn-ly sự điên-đảo ấy mới là bậc dùng nơi để cứu-cánh lấy NIẾT-BÀN.
Khi bậc đã thật-hành đứng trước Lý cũng như Sự, tự mình phá mê giải chấp, tỏ rõ nơi mê chấp của mình cứu mình bị trong vòng mê-chấp đương nhiên chính đã tạo thành Pháp-Giới để mình tự đóng lấy mình. Đó chính bậc đã nhận biết đường lối Hành-Thâm để thật rõ Pháp-Giới nguy-hại, cốt khỏi lầm Pháp-Giới thì hết mê mà Giác-Ngộ.
Pháp-Giới nó đưa đến cho kẻ mê rất nhiều phương-diện, nhưng chung lại chỉ có Pháp-Giới CHÍNH và PHỤ. Pháp-Giới chính ấy là: Tư-thế của một vị Vua phải có rất nhiều pháp giới phụ-thuộc diễn-cảnh pháp-giới của vị Vua ấy. Phải làm cùng phải có trách-nhiệm trong hành-sự của nhà Vua. Như tư thế vị Quan (Pháp-Giới chính) có rất nhiều pháp-giới phụ thuộc diễn-ảnh của pháp-giới (hoàn cảnh) phải làm, phải có trách-nhiệm hành-sự của vị Quan ấy. Như tư thế làm tên Lính là pháp-giới chính, phải có nhiều Công-Vụ hoàn-cảnh giai-cấp tên Lính, đó là Pháp-Giới phụ-thuộc, tên Lính phải lo cho tròn trách nhiệm bổn phận của tên ấy.
TỰ-TẠI-TÂM nói lên để các bậc Hành-Thâm Pháp-Giới được tỏ. Pháp-Giới chính là pháp đã thọ-nghiệp, pháp giới phụ thuộc tức nhiên vạn-pháp diễn-hành. Khi diễn-hành kẻ mê lầm thọ-chấp, quan-niệm đúng đặng gìn giữ lấy trở thành Pháp-Giới.
Bồ-Tát thật biết nơi suy-tưởng của mê mờ nó luôn luôn luân-chuyển nghĩ suy, Bồ-Tát mới nương theo suy tưởng ấy mà tỏ ngộ, còn kẻ lầm mê thường suy-tưởng để tìm nơi hiệp ý mà an trụ trở thành Pháp-Giới. Khi Bồ-Tát cứu-độ kẻ lầm mê Thọ-Chấp suy tưởng mới giải mê phá chấp, đem cho kẻ kia suy tưởng thung dung qua cơn an trụ, đó chính là Bồ-Tát độ Pháp-Giới.
Bậc Hành-Thâm Pháp-Giới giải mê phá chấp cho kẻ khác thì được, nhưng khi chính mình đang bị suy tưởng lầm mê mà tự giải được mới gọi là Hành-Thâm, bằng mình hiệp ý an-trụ thọ-giới chưa phải là Hành-Thâm Pháp-Giới. Vì thường vấp phải như thế nên chi Bồ-Tát hay dùng Tự-Lợi Tha-Lợi để thật tỏ rõ khỏi lầm mà mình được lợi.
ĐẠI-BI-TÂM nói rõ: có bậc Tu Hành đã biết nơi suy-tưởng chấp nhận trở thành Chấp-Pháp tạo nên Pháp-Giới, do lẽ ấy nên chi gìn giữ Thanh Tịnh-Tâm để khỏi tạo Pháp-Giới, nhưng chính ra tạo nơi Pháp-Giới Thanh Tịnh mà trở thành Cõi để Chánh-Báo các Cõi.
Bồ-Tát thật biết tường tận pháp Tịnh chỉ độ lúc bộc khởi quá nhiều hoặc trong khi nóng giận lầm lỗi. Còn pháp Động tỏ biết mới chính thật là PHÁP-GIÁC, gọi là TỊNH để ĐỘ, ĐỘNG thì GIÁC.
Nói đến Pháp-Giới thật quá kể, nói đến Bậc đã bước vào con đường thề nguyện Hành-Thâm thì kể qua những yếu điểm, cốt để lại cho các Bậc Tu làm một bài CẨM-NANG HÀNH-THÂM. Đối với Hành-Thâm Pháp-Giới nơi Kinh HOA NGHIÊM kể đến hơn 2.000 trang mà chưa hết, thế mà bậc Tu vẫn thường lầm nhận tạo thành Pháp-Giới, do bởi chưa sạch THAM-VỌNG nên mới trở thành Pháp-Giới. Có bậc vì Tự-Ngã Bản-Ngã mà có Pháp-Giới. Có bậc vì Thánh-Ngã, Thiên Ngã, Tiên-Ngã mà trở thành Pháp-Giới. Có bậc vì Thần-Thông chấp, Thần-Quyền thủ, Tu-Chứng trụ mà có Pháp-Giới.
Bậc Hành-Thâm đã thật biết. Do đó nên mới đi trong mục-tiêu Hạnh Nguyện nhiếp-độ thâm nhập Pháp-Giới, nên không bao giờ tự hào hoặc tự nghĩ đến ĐẠI NIẾT-BÀN, hay nghĩ đoạt đến Chân-Ngã, hoặc nghĩ rằng kết-quả hay chưa kết-quả, miễn sao mỗi từng Pháp-Giới thật tỏ rõ là đủ.
Bậc này ví sự Hành-Thâm Pháp Giới chẳng khác mấy với kẻ chèo thuyền lướt qua khỏi biển Đại-Tây-Dương, mỗi một con sóng lớn nhỏ lăn tăn đều là pháp-Giới, nếu rơi xuống để nắm bắt con sóng, đương nhiên bị rơi xuống biển. Do biết như thế nên không còn lấy một khởi thành-thử Tâm Thanh-Tịnh đưa con thuyền đến bờ, lên đất liền hết sóng. Đối với sạch Tham-Vọng tan Pháp-Giới cũng thế.
NÓI VỀ
CÔNG-NĂNG DO CÔNG-ĐỨC
TẠO THÀNH.
Bậc Tu-Hành cần có Công Năng. Công-Năng do Công-Đức tạo thành. Bậc tu chưa có Công-Đức thì chưa có Công Năng để tu. Công-Đức Phẩm có rất nhiều phương pháp để tạo. Công Đức các bậc tu lướt qua các Nghịch-pháp, Tâm không thù-oán, đó là có CÔNG, cũng là có nơi ĐỨC không thù-oán.
TỰ-TẠI-TÂM nói lên Công-Đức tạo Công-Năng, nhờ có Công-Năng mới có SỨC-MẠNH phát-triển BI-CHÍ-DŨNG làm một lợi khí đào sâu các pháp tu tập. Do đó, Bồ-Tát không nhàm chán Công-Đức Phẩm phát Đại-Nguyện, chủ yếu tỏ rõ các Pháp không còn lấy một chấp.
Khi đầy đủ Công-Đức, liền đầy đủ Công-Năng thi hành Lục-Ba-La Mật Đa như: Bố-Thí, Trì-Giới, Tinh-Tấn, Nhẫn-Nhục, Trí-Tuệ, Thiền-Định, nương nhờ Lục-Ba-La Mật-Đa mà tâm không còn quái ngại, hướng tất cả Công-Đức ấy về với mục tiêu Ba-La-Mật. Sau thật biết tất cả các Pháp hiện-hành thảy đều Ba-La-Mật, do Tự-Nguyện nên có LỤC-ĐẠO. LỤC-ĐẠO là nơi Thọ-Chủng của Chúng-Sanh. Vì ĐẠI-BI ĐẠI-CHÍ Thọ-Trì nên Chư BỒ-TÁT mới HÓA-ĐỘ CHÚNG-SANH nơi LỤC-ĐẠO, gọi là LỤC-ĐỘ.
NÓI VỀ
LỤC – ĐỘ
* * * * * *
LỤC-BA-LA NHIẾP ĐỘ LỤC-ĐẠO.
ooooooooo
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM nói pháp tối-diệu này của Chư Bồ-Tát thường phụng-hành để Hóa-Độ Lục-Đạo, cứu Chúng-Sanh trong Ba Cõi Sáu Đường như:
* PHÁP BỐ-THÍ NHIẾP-ĐỘ ĐỊA-NGỤC.
* PHÁP TINH-TẤN NHIẾP-ĐỘ SÚC-SANH.
* PHÁP TRÌ-GIỚI NHIẾP-ĐỘ NGẠ-QUỶ.
* PHÁP NHẪN-NHỤC NHIẾP-ĐỘ A-TU-LA.
* PHÁP TRÍ-TUỆ NHIẾP-ĐỘ NHÂN.
* PHÁP THIỀN-ĐỊNH NHIẾP-ĐỘ THIÊN, THẦN-TIÊN.
Các bậc tu-hành phần nhiều đang còn thọ-chủng nơi LỤC-ĐẠO, lại thêm vào đó rất hiếm hoi bậc thực hành pháp-môn Lục-Ba-La, do lẽ ấy dù hiểu biết bao nhiêu chăng nữa vẫn phải chịu trước vạn-pháp diễn-hành tạo thành hoàn cảnh của Lục-Đạo như: Thường bực tức, thường thèm khát, thường suy tưởng Dục hoặc thích Dục Vọng hoặc đương nhiên chẳng mong làm điều Ác mà Tâm hay nghĩ việc Ác, thường biếng trễ chán nản, đó chính là Thọ-Chủng tập-nhiễm Lục-Đạo.
Khi bậc tu đang còn Thọ-Chủng Tánh hoặc Tập-Nhiễm-Căn nơi LỤC-ĐẠO PHÁP-GIỚI, thì dù có sạch sẽ các pháp, không chấp nhận các pháp, hoặc giả am tường nơi Chân-Lý, hay Sở-Đắc Chân-Không, đến thông-đạt tự-tại Vô-Ngại chăng nữa thì ỨNG-THÂN vẫn phải chịu lấy-Chủng-Tánh ấy, Căn-Nhiễm ấy mà diễn hành đồng ứng nơi Lục-Đạo, gọi là Bồ-Tát Hóa-Độ Lục-Đạo. Sau khi thành Phật tùy theo Chủng-Tánh-Căn mà HIỆN-THÂN-PHẬT tại nơi chốn sở trú của Lục-Đạo ấy.
ĐẠI-BI-TÂM chỉ vì thương cho những bậc để hiểu, được biết, nhưng chưa tỏ tường để giải Căn-Tánh đang còn Tập-Nhiễm Lục-Đạo đặng hoàn toàn Ngộ-Nhập BÁT-ĐẠI NIẾT-BÀN, nên chi nơi Bồ-Tát Hóa-Độ Lục-Đạo để nói lên pháp Nhiếp-Độ Lục-Đạo. Pháp này rất có lợi cho các bậc tu-hành không còn Tập-Nhiễm Lục-Đạo hoàn toàn Chánh-Giác. Nó vừa Tự-Lợi Tha-Lợi, vừa là một Bảo-Phẩm để Bồ-Tát Cúng-Dường Chư Phật mười phương đặng Thọ-Ký thành Phật mà rốt-ráo BÁT-ĐẠI NIẾT-BÀN.
Nói đến Bồ-Tát Hóa-Độ Giới Sinh nơi Lục-Đạo, Bồ-Tát thật biết vì mê lầm thọ-chấp trở nên nhiều Pháp-Giới, gọi là trùng trùng Pháp-Giới bởi DUYÊN-KHỞI mà có lại do CĂN-KHỞI trở thành an trụ nơi chốn KHỞI-CĂN thụ thai sanh trưởng, tùy theo Thọ-Chủng Tánh tập-nhiễm Căn mà an trụ pháp Giới của Lục-Đạo. Lúc đã thành hình
Thiên-Đạo, Nhân-Đạo, A-Tu-La-Đạo, Súc-Sanh-Đạo, Ngạ-Quỷ-Đạo, Địa-Ngục-Đạo tùy nơi chủng-tánh căn nhiễm đồng hiệp nơi nào thì liền sanh trưởng nơi Đạo đó, do nó như thế nên mới có Lục-Đạo. Sự hiện hành của các bậc tu trì đủ cho Trí-Tuệ Thiền-Định sở đắc Chân-Lý chăng, nhưng Chủng-Nghiệp kia hãy còn Tập-Khí nơi Lục-Đạo,phải thực hành nhiếp-độ Lục-Ba-La Mật-Đa, mới thoát khỏi tập-khí hoàn toàn giải thoát. Bằng chẳng thực-hành nhiếp độ, thì vẫn là Phật Ứng-Thân Lục-Đạo.
BỐ-THÍ NHIẾP-ĐỘ ĐỊA-NGỤC
Khi Bồ-Tát Hóa-Độ phải biết tỏ rõ trong mỗi Pháp-Đạo nhiễm-hóa Chủng-Tánh, nhiễm Căn Tập-Khí ra sao, ưa thích môn nào, chừng đó mới tùy CĂN, tùy nơi NHIỄM mà hóa-độ pháp đạo. Lúc đã biết pháp BỐ-THÍ phù hợp nhiếp-độ Địa-Ngục liền Nhất Tâm Đại-Nguyện Bố-Thí để nhiếp-độ, nên mới thực hành Bố-Thí, giúp đỡ cho tất cả đang vương mang hoàn cảnh Khổ thoát khỏi nơi lo âu khổ sở, thường đem pháp mà Bố-Thí, nói lên những ích lợi của Thiện-Căn hóa-giải tất cả những điều nghi chấp. Trên thì Cúng-Dường Chư Phật, dưới nguyện độ Chúng-Sanh thoát nơi Địa-Ngục. Bởi lẽ ấy nên không bao giờ lời nói làm cho kẻ nghe phải nghi ngờ sa đọa Địa-Ngục hay đoạn duyên Phật.
Bồ-Tát thật biết BỐ-THÍ-PHÁP là một Bảo-Phẩm không gì bằng, đưa chúng sanh thoát Trần-Lao Địa-Ngục, mà đặng Chánh-Báo Nhân-Thiên hoặc thoát khỏi Lục-Đạo Giải-Thoát, nên Bồ-Tát nguyện đem Thân-Mạng, Trí-Óc để diễn giải cho Chúng-Sanh phá mê giải chấp, hoặc bằng cách mở Đạo-Tràng chỉ bày tu học, đem ích-lợi cho tất-cả Chúng-Sanh được Phước-Điền Chánh-Báo. Bồ-Tát nguyện như thế nên Bồ-Tát đem tài-sản bố-thí, đem thuốc men cung cấp, đem vật thực bố thí. Hoặc lập Trai-Đàn, xây dựng Chùa-Tháp cho Chúng-Sanh có nơi khang trang tu hành. Khi Bồ-Tát Bố-Thí từ nơi Pháp-Thí đến chỗ Tài-Thí, còn dùng Vô-Úy-Thí để cho Chúng Sanh tâm không sợ, vì Chúng-Sanh đặng Thiện-Tâm, Ý không sợ vì Chúng-Sanh được Ý-TRÍ, Khẩu không sợ vì chúng sanh DUYÊN-KHẨU (gây Nhân-Duyên tu-hành), Thân không sợ vì THÂN ĐẠO HẠNH. Bồ-Tát Bố-Thí như thế không bao giờ Bồ-Tát khoe khoang kể lể nên gọi là BỐ-THÍ BA-LA-MẬT-ĐA hoàn mỹ cứu-độ Địa-Ngục vậy.
TRÌ-GIỚI NHIẾP-ĐỘ NGẠ-QUỶ
Khi biết được Bố-Thí nhiếp-độ Địa-Ngục, liền tự suy ngẫm kiểm điểm từ Công-Đức đến Công-Năng, từ Giới-Định-Tuệ cho đến ĐỨC-TRÍ, hoặc từ nơi Ngôn-Hạnh, nơi pháp nào chênh lệch thiếu hay đủ, có đúng với tinh thần Giác-Ngộ Bảo-Truyền Chư-Phật hay không. Lúc bấy giờ mới tùy khả năng tư cách để Bảo-Trì Công-Đức
qua đặng khỏi vương nơi NGẠ-QUỶ LỤC-ĐẠO.
qua đặng khỏi vương nơi NGẠ-QUỶ LỤC-ĐẠO.
Bậc này thật biết Chủng-Tánh Căn-Nhiễm của Ngạ-Quỷ thường buông lung, do nơi buông lung mà Ngôn-Hạnh bừa bãi, tánh nghĩ không chừng. Vì tánh không chừng nên sự tiêu xài quá lố, lúc keo kiệt quá đỗi, lại thích tưng bốc gần kẻ nịnh hót hơn là chơi với bậc huy-hoàng. Ngạ-Quỷ thường dùng lời nói không chân thật hay điêu ngoa để có nhiều tiền bạc ăn xài thỏa dục. Do Chủng-Tánh căn nhiễm trên nếu không đặng sự nhu cầu liền sanh tâm thù ghét, đến mạng chung sa nơi NGẠ-QUỶ.
Bậc nhiếp-độ NGẠ-QUỶ mới trì giới, tự sửa sang Đức-Tánh của mình, từ Giới-Định-Tuệ đặng nhiếp-độ chủng tánh buông lung, dùng Ngôn-Hạnh trang nghiêm đặng giải trừ bừa bãi không ngừng, phát nguyện Thành-Thật-Tâm cốt giải vọng-ngữ điêu thoa, tưng bốc, nịnh hót, dụng Trí-Tuệ hướng-thượng, dụng Thiền-Tọa cốt giải căn-nhiễm keo-kiệt. Khi bậc nhiếp-độ được chủng tánh căn-nhiễm thường giúp đỡ cho những kẻ chung quanh mình được sửa sai, nhờ như thế mà thoát khỏi NGẠ-QUỶ-Căn, Trí-Tuệ chẳng còn suy nghĩ thèm khát tham-vọng, Tâm được Tự-Tại không cầu báo, đó chính là TRÌ-GIỚI BA-LA-MẬT-ĐA vậy.
TINH-TẤN NHIẾP-ĐỘ SÚC-SANH
Chủng-Tánh Căn-Nhiễm của pháp-giới Súc-Sanh nó rất nhẹ nhàng tinh nhuệ, nó đưa cho tất-cả từng lớp Chư Tiên, Chư Thiên trở thành LỤC-ĐẠO-THIÊN hiện tại. Nó lại thay đổi pháp Dục-Vọng rất nhiều thứ lớp. Súc-Sanh có một sức mạnh vô biên, Ái-Khả đứng nhứt, nó đưa Chúng-Sanh mê man trong vòng ước mơ thèm khát đòi hỏi không ngừng nơi Ái-Dục. Nó cấu kết đường dây Sanh-Tử bằng Ái-Nịch. Nó hóa cảm Chúng-Sanh nơi Hương-Vị làm cái Sống. Nó gợi lòng ham muốn nơi sắc-hương.
Chủng-Tánh phát sanh từ nơi SẮC. Đã có Sắc liền có Hoa-Mỹ (đẹp), có Hoa-Mỹ liền có Luyến-Ái, nơi luyến ái sanh Ái-Tình, từ Ái-Tình gây Ái-Dục. Ái-Dục không rời nhau bị Ái-Nịch. Mong bảo-trì Ái-Nịch, Ái-Dục, Ái-Tình phải tạo Danh-Giả. Từ Danh-Giả sống mãi nơi Danh-Vọng cầu lấy địa-vị đặng thỏa-mãn nơi Căn-Nhiễm của Súc-Sanh.
Chủng-Tánh căn thường nhiễm không ngoài SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ trở nên trìu mến hoài mong. Khi từ SẮC thành tựu đến địa-vị hoàn-mỹ thì chẳng nói làm chi, lúc bị thất bại địa vị sanh lòng buồn khổ, tâm hay oán, lòng hay hận, sau lâm chung sa vào Địa-Ngục. Khi hương-vị hưng vượng thì chẳng nói làm chi, lúc hương vị danh giả mất thì thể-diện bị mất, tâm sanh than van buồn chán lòng tạo nên Địa-Ngục Trần-Gian sầu khổ, nếu đến lâm chung vẫn sa vào Địa-Ngục.
Bậc nhiếp-độ Lục-Đạo thật biết tham-vọng mong ước mơ hồ huyền-ảo đem đến sự thèm khát, thảy đều là thọ-chủng nơi Súc-Sanh nguy-hại. Do lẽ rõ biết như thế nên Tâm mới Chuyên-Chú tinh-tấn tu hành không ngừng để thề-nguyện Đoạn chủng-tánh tập-nhiễm, thường-nhiễm của Súc Sanh, lìa Dục-Vọng. Không nhiễm SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ khỏi sa vào Súc-Sanh-Giới.
TỰ-TẠI-TÂM vạch rõ trong Lục-Đạo chỉ có Súc-Sanh-đạo là hơi men của Ngũ-Độc, khi đã trót uống lầm Ngũ-Độc kẻ bị lầm thời luôn luôn say độc, nhiễm độc, không còn cách chi hơn là thường giải độc. Vì vậy nên Tinh-Tấn là Pháp-Môn Giải-Độc duy nhất, nhiếp-độ Súc-Sanh-đạo tu không ngừng nghỉ là TẬN-ĐỘ.
Bậc Tận-Độ nhiếp-độ, bậc này có Trí-Tuệ căn bản, Trí-tuệ căn bản ấy nó tìm đặng Chơn-Tánh để tu. Nơi Chơn-Tánh không lìa Thể-Tánh. Thể-Tánh thường quán sát: Phật-Pháp Bất-Ly Thế-Gian Giác, có nghĩa quán Phật-Pháp so nơi thế-gian đặng Giác Phật-Pháp, chớ chẳng phải thế-gian là Phật-Pháp.
ĐẠI-BI-TÂM chỉ điểm bậc Bồ-Tát-Hạnh dụng tinh-tấn tu nơi Sắc-Thinh-Hương-Vị-Xúc-Pháp không nhiễm để nhiếp-độ Súc-Sanh-Đạo hoàn toàn Giải-Thoát. Hàng Thiên-Tiên, Hàng Thinh-Văn Duyên-Giác đến A-La-Hán, lìa nhiễm Sắc-Thinh-Hương-Vị-Xúc-Pháp huân-tập thanh-tịnh mà Đắc-Quả.
NHẪN-NHỤC NHIẾP-ĐỘ A-TU-LA
Pháp-giới A-Tu-La Đạo là một-Pháp Chủng-Tánh nóng nảy, căn nhiễm Trung-Trực. Lúc phát nóng thường tạo Vô-minh tồi phá Đạo-Hạnh Công-Đức. Nó chẳng khác nào ngọn lửa đốt vườn Công-Đức. Do đó bậc tu đến A-La-Hán bộc nóng nảy như bưng Ngũ-Độc uống vậy. Do chủng-tánh nóng ấy mà thường tạo nghiệp, thường tạo gây gổ thù hận trong Nhân-Quả Tử-Sanh.
A-tu-La Đạo thường tạo Phước-Điền, thường phá Phước-Điền. Bậc thường tạo Phước-Điền nhiều, phá Phước-Điền ít, sau khi mạng chung được thành Thần ở Cõi-trời. Bậc tạo Phước-Điền ít mà tồi phá nhiều sa nơi Địa-Ngục. Bậc vừa tạo lại vừa phá, dư thiếu chút ít, sau mạng chung thành Quỷ A-Tu-La. Bọn quỷ A-Tu-La chia ra nhiều
Cảnh-Giới. Có Cảnh-Giới tắm lửa, ẩm-thực lửa, sống trong lửa. Có Cảnh-Giới ở nơi nước, sống nơi nước. Có Cảnh-Giới ở nơi gió, sống trong gió. Có Cảnh-Giới ở nơi đất, sống nơi đất, như ở gần chân núi gốc cây hay bắt bớ, kiếm ăn bằng tế lễ như ở miếu hoặc ngã ba vậy.
TỰ-TẠI-TÂM thật biết rất kỹ càng, chỉ dùng pháp-hạnh NHẪN-NHỤC mới nhiếp-độ A-Tu-La-Đạo thôi, ngoài ra không có pháp nào chữa-trị nhiếp độ đặng. Bởi như thế nên Chư Bồ-Tát phải dùng nhiếp-độ, Chư-Phật đã dùng, hôm nay bậc tu đang dùng nhiếp độ Nóng-Nảy của A-Tu-La cốt dứt Nghiệp-Quả thời Quá-Khứ, Hiện-Tại không còn gây tạo nữa. Nhẫn-Nhục chính là một pháp-hạnh quý vô giá, vì sao?- Vì Nhẫn-Nhục nhiếp độ A-Tu-La-Đạo vừa lại cắt dứt dây Sanh-Tử, lại vừa nhiếp-tâm khi bậc tu hành gặp phải những Pháp-Giới ngang chướng, không làm mất Đạo-Hạnh quả vị mình. Bậc tu Nhẫn-Nhục chính là bậc biết Tịnh-Tâm hàng phục được A-Tu-La-Đạo liền thật-chứng TỊNH-ĐỘ hiện tiền chẳng còn lo sa Ba Đường-ÁC.
ĐẠI-BI-TÂM nói lên khi các bậc tu-hành chưa dùng pháp-hạnh Nhẫn-Nhục để nhiếp-độ A-Tu-La-Đạo, thì những bậc này thường nổi nóng. Lúc nổi nóng đã Thọ-Chủng-Tánh A-Tu-La, căn đang còn nhiễm, tu-hành Phật-Tánh khó bày biện phân minh, thường hay Tự-Ngã lâu ngày trở nên Bản-Ngã thọ chấp, khó rốt-ráo thành-tựu.
Bậc tu đặng biết A-Tu-La chủng tánh che khuất Phật-Tánh, làm cho Phật-Tánh lu mờ khó lộ diện, nguy hại như thế nên mới Nhẫn-Nhục để nhiếp độ. Khi đã nhiếp độ đặng A-Tu-La thì Thân-Tâm trở thành dung-thông thanh tịnh, Đức-Tánh dung-hòa thi-hành Bình-Đẳng Tánh-Trí, tỏ rõ các pháp, thật biết các pháp đi lại chừng đổi, mỗi pháp thảy đều có ĐẶC-TÁNH, mỗi Pháp-Giới đều có ngộ-nhận lầm-tưởng trở thành Lục-Đạo, liền sở-đắc Diệu-Quang mà Viên-thông Hoàn-Giác.
TRÍ-TUỆ NHIẾP-ĐỘ NHÂN
Trong LỤC-ĐẠO không có nơi nào thường-chấp bằng NHÂN-ĐẠO. Do thường chấp trụ như thế nên Tâm nương theo Ý-THỨC mà phân biệt. Nhân Đạo lại thường phân-tách từng Cái Sống để mà sống theo ý-thức. Do đó nên mới có từng hệ-thống Pháp-Giới giai-cấp mỗi mỗi theo Ý-THỨC-HỆ. Cõi Nhân chính là một hệ-thống Pháp Giới trong Lục-Đạo không đâu bằng. Do lẽ ấy nên chi càng học hỏi bao nhiêu lại càng thường chấp bảo-thủ bấy nhiêu. Bậc học nhiều Ý-Thức trở thành bậc TRÍ-THỨC. Bậc Trí-Thức mỗi bậc đều có mỗi hệ-thống lý tưởng nơi mình làm lẽ sống. Mỗi một gia đình có mỗi hệ-thống riêng nhau đóng thành mỗi khuôn khổ chấp nhứt. Cách đây 2.518 năm Đức Thế-Tôn Ngài Thể Hiện đã giải chấp giữa hệ-thống Quan Quyền và Dân Nô-Lệ. Đó chính là một điểm để nhận thấy Nhân-Đạo thường chấp, thường-trụ.
Căn bệnh thường chấp, chủng-tánh thường nhiễm là một căn bệnh trầm trọng khó giải. Tội lỗi và Nghiệp nhiều không đáng sợ, nhưng rất đáng sợ căn bệnh thường chấp. Căn bệnh thường chấp nó dễ đưa cho Nhân Sinh đến nơi Chấp-Pháp mà Thủ-Chấp. Lại nữa, từ nơi Trí-Thức nó là một cái khuôn Chủng-Nghiệp nơi Ý-Thức, ngoài Ý-thức nó nhận thấy sai với Lý Trí của nó, do nó như thế nên sanh ra thường NGHI, đã Nghi liền có CHẤP gọi là NGHI-CHẤP. Nghi-Chấp ấy nó thường đem ra thao diễn Tâm-Thức của Nhân-Sinh, nó nghi kẻ bên ngoài, rồi chính thân mạng của nó nó lại nghi luôn trở thành điên đảo chấp nghi đồng nghi-chấp. Nó nhịn ăn, nhịn mặc, đem tài-sản vàng bạc chuyên ròng canh gác gìn giữ bảo vệ chỗ nó đã nghi, nơi nó đã chấp. Vì vậy trở thành tranh-giành hơn thua nhau từng quyền-lợi đến ý-thức nói ra thật vô kể.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM chỉ rõ căn bệnh thường chấp, hay nghi của Nhân Sinh lanh quanh không ngoài Ý-Thức-Hệ, nên phải dùng Trí-Tuệ giải Nghi, phá Chấp, cốt nhiếp độ THẾ-NHÂN. Khi bậc đã nhiếp-độ Lục-Đạo Thế-Nhân được mới độ thoát cho Nhân-Sinh, liền đem cho Nhân-Sinh có Trí-Tuệ căn bản về THIỀN-TRÍ, thì Nhân-Sinh mới có đầy đủ Trí-Tuệ Tri-Kiến Giải-Thoát. Bằng Nhân-Sinh chưa đặng Thiền-Trí vẫn đang mơ màng trong tình-trạng ý-thức lý-trí, dù cho có tu Pháp-Môn phá MÊ CHẤP chăng, trong một thời gian nào đó rồi cũng vẫn bị ý-thức để chấp mê, sanh chứng CHẤP-THỦ, vì sao ? -Vì Trí Tuệ của Trí-Thức nó không ngoài Ý Thức nhiếp-thu bị biết. Nhân-Sinh thì chủng-tánh thường nhiễm ý-thức từ lâu. Nếu Nhân-Sinh có học Khoa nào chăng nữa cũng không ngoài ý-thức học.
Ví như: Triết-Lý, Triết-Học, Khoa-Học, Y-Học, Hình-Học hoặc Toán-Học cho đến Siêu-Hình-Học vẫn theo hệ thống BỊ-BIẾT, chưa thoát khỏi vòng cương của ý-thức. Đến như Triết Học ZEN phải chia ra làm hai khối, một khối đứng hẳn bên Ý-Thức dùng Thần Thức nuôi dưỡng thân. Còn một khối dụng Triết-Học cao siêu để đào tạo Thiền-Trí nhưng chưa hoàn mỹ, bị lạc hướng nơi Tâm-Thức-Học. Lấy đâu để chỉ nơi Tâm-Thức-Học ? – Lấy đứng nơi tư thế XUẤT-HỒN dung dưỡng Thần-Thức, nếu như thế thì không hơn kém Siêu Hình, Thần-Thức-Học.
TỰ-TẠI-TÂM nói rất chân thành: CHÂN-LÝ QUÁ Ư ĐƠN GIẢN. Khi bậc đã Sở-Đắc mới nhận được lời Chân Thành của Tự-Tại, chẳng phải tìm cao siêu mới Sở-Đắc, càng đơn giản bao nhiêu nhận được mới là bậc Sở-Đắc thâm diệu bấy nhiêu. Càng cầu kỳ siêu-đẳng cho đó là nơi Sở-Đắc của mình, thật ra chẳng Đắc gì cả. Về THIỀN-TRÍ biết nhận hay chưa biết nhận mà thôi. Khi bậc biết nhận nương theo Chơn-Tánh để tu đến Bất-Thối. Lúc chưa biết nhận chạy theo vọng-đảo tu-hành. Biết nhận ít xa lìa THỂ-TÁNH đặng sát nhận chân. Chưa biết nhận theo tư- tưởng Cá-Tánh tìm hiểu chủ-thủ.
Nhà THIỀN-SƯ khi tìm đặng Thiền-Trí duy chỉ có mỗi một khởi đầu. Lúc bấy giờ nhìn nơi THÂN TỨ ĐẠI nhận thấy trong THÂN vô số Vi Trùng, chia ra nhiều giống Vi-Trùng, mỗi một giống chung họp nhau mà sống, không bao giờ giống nầy lạc nơi kia mà sống được. Như Vi-Trùng máu sống theo máu. Vi-Trùng mủ sống nơi mủ. Vi-Trùng nước bọt hoặc đàm đều sống trong thể-chất phù hợp đó. Về bản tánh Vi-Trùng mỗi giống thảy đều có phận sự linh động di chuyển của chúng nó, giống nào đều phải theo linh động di-chuyển trong thể-chất của nó. Chúng nó được có mỗi một cái là đồng nhau linh động, đồng nhau di-chuyển chạy đều trong thân không ngừng trệ, thành thử nuôi dưỡng được thân. Thân Tứ-Đại nhờ nó mà sống. Nó nhờ Thân Tứ-Đại được chất dung thông sinh trưởng.
Khi nhà Thiền-Sư đã nhận chân nơi Thân Tứ-Đại bèn đem mỗi một Thân của mình so với triệu triệu Nhân Sanh, mới nhận thấy chính mình là một con Vi-Trùng đang sống trong Vũ-Trụ đồng với Nhân-Sinh. Sau khi tự nghĩ nếu mình TỰ-NGÃ cho mình khôn ngoan, tìm đặng CHÂN lấy mình, chẳng biết Nhân-Sinh đã có một lý lẽ chân chính hơn mình, thì chính mình chưa thấm vào đâu cả. Từ đó mới dùng Thiền Trí để nhiếp-độ những điều chưa tỏ đặng tỏ, những chi chưa biết đặng biết, những chi chưa thi-hành nay phải thực hành nhiếp-độ Ngộ-Nhập ngay nơi mình làm của mình Nhập. Những gì chưa chu đáo nay hoàn mỹ chu đáo, không còn tu trên ảo-vọng xa xôi để cầu Giác, mà ngay nơi Thật-Hành Chánh-Giác.
Nhờ nơi nhiếp-độ nên bản-tánh dung hòa trở thành BÌNH-ĐẲNG TÁNH-TRÍ, sau khi Tánh-Trí Bình-Đẳng mới dụng Trí Bình-Đẳng ấy mà quán soi Nhân-Đạo thật tỏ Chủng-Tánh đoạt đến DIỆU-QUANG SÁT-TRÍ. Nhờ nơi DIỆU-QUANG SÁT-TRÍ mà thật biết chúng sanh nó chẳng phải là Nhân-Sinh, mà chính Chúng-Sanh đang ở trong Thân Tứ-Đại, gọi là Chúng-Sanh-Tính. Chúng-Sanh-Tính ấy chẳng đâu xa lạ, chính nó là các giống Vi-Trùng trong thân mạng. Khi chúng diễn ÂM trong Thân thì đương nhiên nhà THIỀN-SƯ phát sinh tư tưởng. Tư- tưởng có bao nhiêu thì Chủng-Tánh Vi-Trùng đều có bấy nhiêu, nhà Thiền-Sư thực-hành thông-thái bao nhiêu thời những giống Vi-Trùng khôn ngoan bấy nhiêu. Đến lúc nhà Thiền Sư thành-Phật thì các Vi-Trùng trưởng thành BỒ-TÁT QUỐC-ĐỘ.
Lại nữa, các giống Vi-Trùng ở trong toàn thân giống nào cũng phải nhả ra từng chất nhờn nhớt, chất nhờn nhớt ấy nó lần lượt xuống thẳng Quả CẬT hóa thành giống Tinh-Trùng, Tinh Trùng chờ khi giao-hợp thụ-thai đương sanh ra loài Người.
Bậc nhiếp-độ NHÂN phải là bậc có Thiền-Trí, nếu dùng bằng Trí-Tuệ Trí-Thức thì chỉ giúp cho Nhân-Đạo tu Phước-Thiện thôi. Nhờ Thiền Trí sáng soi THÂN-TÂM để phá mê thường-chấp mà Trực-Giác Sở-Đắc TAM-MUỘI PHÁP-MÔN. Nhiếp-độ Nhân để thật tỏ rõ tư-tưởng hiện nó đang lầm nhận chính là chẳng phải của nó. Nếu nó muốn biết chân thật thì nó hãy nương theo Vô-Ngã mới tỏ ngộ, bằng nó lầm nhận tư-tưởng để thường-chấp thì không bao giờ nó Chánh-Giác.
THIỀN-ĐỊNH NHIẾP-ĐỘ THIÊN
Thiền-Định là môn nhiếp-độ Thiên-Đạo cũng đào tạo DIỆU GIÁC VIÊN-MINH tỏ rõ ẨN-HIỆN Mật và HIỂN. Đương thời nhiếp-độ Vị-Lai tận hưởng rốt-ráo Chánh-Giác.
CÓ LÀM MỚI THẤU TRẮNG ĐEN,
CHƯA LÀM CHỈ NÓI ĐÃ THÈM THẾ THÔI
CHƯA LÀM CHỈ NÓI ĐÃ THÈM THẾ THÔI
TỰ-TẠI-TÂM nói lên bậc đã đến mức Thiền-Định nhiếp-độ Thiên, thì bậc nầy đã là MINH-SƯ các Cõi cùng Cảnh-Giới Chư Thiên-Tiên Thần-Thánh Đạo du hành cùng khắp Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới mới nhiếp-độ, bằng chưa tỏ rõ, tâm đang còn cầu vái van xin thì chưa phải là Nhiếp-Độ, mà đang tu Thiền vậy.
Bậc nhiếp-độ các Chư Thiên Tiên trong ba Cõi phải Sở-Đắc CHÂN THIỀN, tỏ rõ Bổn-Lai Thể-Tánh đồng Viên-Thông PHÁP-TÁNH. Nhờ Tận-Giác như thế, nên rõ ràng Chánh-Báo của các Chư-Thiên, Tiên, Thần, Thánh mỗi nơi nhiễm hóa thế nào mà trở thành các Cõi, Cảnh- Giới. Từ chốn Thọ-Ngã thi-hành huân-tập Tự-Ngã để lãnh lấy Thần-Thông Tài-Phép ra sao thảy đều tỏ rõ, tỉ mỉ tường tận không sai chạy mà nhập Chánh-Định-Tam-Muội nhiếp-độ THIÊN.
Khi các Chư-Thiên, Chư-Tiên đến thưa gởi hỏi han cầu mong chỉ giáo làm thế nào Bảo-Trì Cảnh-Giới trường cửu ? – Làm thế nào Thần Thông được vào dòng THÁNH ? – Vị Chánh Định mỉm cười mới nói: Các Ông cũng nên biết: Dù cho các Ông có tài-phép thần-thông cao nhất, cũng chưa vào được Thần-Thông của bậc Thánh, vì sao ? – Vì Thần-Thông Tài-Phép ấy nó không ngoài TUỔI-THỌ, nó đã không ngoài Tuổi-Thọ thì đương nhiên Thần Thông Tài-Phép không ngoài PHÁP-TÁNH. Đã không ngoài Pháp-Tánh thì Tài Phép Thần-Thông ấy có cao đến đâu chăng cũng không thể được vào dòng THÁNH. Vì sao ? – Vì Thần-Thông Pháp-Tánh-là Thần-Thông bị huân-tập nhiếp thâu thành-tựu. Vốn của Pháp-Tánh thì di chuyển sanh-diệt, không phải Tự Nó mà bởi THỂ-TÁNH nó như thế.
Chẳng khác nào một nhà Điêu Khắc giỏi khéo lầm đem cây THẠCH THỦY khắc Thần-Tượng. Thạch-Thủy là Pháp Tánh, còn nơi Hiệp-Tan là Thể-Tánh của Thạch-Thủy, vốn nó như thế không thể nào hỏi tại sao. Thì làm thế nào Thần-Thông Tài-Phép của các Ông không bị sanh-diệt ? Vì lẽ sanh-diệt nên những Thần-Thông Tài-Phép đó chưa vào dòng THÁNH được.
Thần-Thông vào Bậc THÁNH dụng DIỆU-GIÁC-MINH làm THỂ, dùng THIỀN làm phương-tiện đoạt đến TRÍ lập DỤNG. Khi đã có Dụng bằng Thiền-Trí mới thực-hành nhiếp-độ các pháp-môn, nương theo pháp-môn để tỏ thông Vạn Pháp về KHÔNG-PHÁP.
Lúc về Không-Pháp phải tu trì Bát-Nhã thực-chứng nơi Tam-Muội Pháp-Môn gọi là: THẬT-TƯỚNG VÔ-TƯỚNG TAM-MUỘI PHÁP-MÔN. Thi-hành nơi Pháp Môn KHÔNG-HAI nhiếp-độ Dụng-Độ Hành-Độ thu-nhiếp trở thành Diệu-Dụng Hành Dụng rốt-ráo Chánh-Giác. Khi đã Chánh-Giác đương nhiên THỂ-DỤNG là MỘT. Chừng đó các pháp Thần-Thông đương nhiên tùy thuận Thị-Hiện, đó chính là Thần-Thông BẬC THÁNH. Bằng chẳng như thế thảy đều là Thần-Thông chưa vào Bậc Thánh. Lúc bấy giờ Chư Thiên Tiên hoan hỷ vui mừng Đảnh-Lễ lui về các Cảnh-Giới, các Cõi.
NÓI VỀ
NHẬN ĐỊNH
BẬC TU THIỀN VÀ BẬC CHƯA TU THIỀN
Bậc Tu-Thiền và Bậc chưa Tu Thiền CÁI-BIẾT vẫn đồng-đẳng, nhưng TÁNH-BIẾT khác xa vời vợi. Bậc tu Thiền nhờ nơi Tánh-Biết mới có thể biết được Vũ-Trụ Nhân-Sinh. Ngoài Vũ-Trụ còn có các Hành tinh, mỗi Hành Tinh đều có Hành-Tinh loại phù hợp với Hành-Tinh đó, vẫn sống an vui đầy đủ các Thể-Chất phù hợp của mỗi Hành-Tinh, không khác mấy với Vũ Trụ Nhân-Sinh nơi quả Địa-Cầu nầy.
Còn về Tín-Ngưỡng các Hành Tinh đến Vũ-Trụ Nhân-Sinh hay Thiên Sinh hoặc Tiên-Sinh, nơi Hành Tinh nào vẫn có mỗi một TÂM Tín-Ngưỡng in nhau, nhưng xướng danh Tôn-Sùng khác nhau. Như quả Địa-Cầu xướng danh tôn-sùng Đức BỔN-SƯ về ĐẠO-PHẬT hay Đức CHÚA-TRỜI về CÔNG-GIÁO, thì mỗi Hành-Tinh đều có sự xướng danh Tôn Sùng nơi họ, nhưng nền Đức-Trí đều như nhau.
Nhờ nhận Tánh để biết nó như thế nên bậc Tu-Thiền mới tu cầu trên con đường Giác-Ngộ bằng cách phủ xả ý-thức dị-phân đặng nhận chân TỰ TÁNH đến TỎ-TÁNH. Buổi ban đầu lập Hạnh, từ Ngôn-Hạnh đến Tánh-Hạnh Hỷ Xả tạo thành ĐỨC-TRÍ. Khi đã tạo thành như thế thì THỨC-THẦN DI-CHUYỂN nhập vào các Hành-Tinh Cảnh-Giới. Nếu chưa lập Đạo-Hạnh như thế thì dù cho có tu Thiền một ngàn năm cũng chưa xê-dịch.
Khi đã thành tựu Thần-Thức di chuyển mới du-hành các Cảnh-Giới để thật tỏ-rõ Ngôn-Ngữ Hạnh-Kiểm của mỗi Hành-Tinh thảy đều khác xa biệt nơi sức tưởng-tượng của bậc chưa tu Thiền. Bậc Tu-Thiền đã từng di-chuyển Thần Thức đến Cảnh-Giới nào thì Thân liền đồng ứng hiện hợp chung in như người trong Cảnh-Giới đó không sai tí nào cả. Từ Ngôn-Ngữ đến Hạnh-Kiểm như nhau, nhờ thường ra vào xuất nhập hàng trăm ngàn Cảnh-Giới cùng các Cõi như vậy nên Sở-Đắc HIỆN-NHỨT-THIẾT NGÔN-NGỮ TAM-MUỘI và cũng nương nhờ Tự-Lợi Tha-Lợi nên nhận Giác được HIỆN NHỨT-THIẾT SẮC-THÂN TAM-MUỘI.
Bậc Tu-Thiền thật biết từng tư-tưởng của Thiên-Quan, Tiên-Quan, Thần-Quan, Thánh-Quan đồng với Nhân Sinh-Quan đều theo quan-niệm từng trình-độ mỗi một Cõi hay Cảnh-Giới theo nơi Thức-Tịnh cực đối tạo thành không thể nào vượt khỏi tầm hiểu biết hơn. Duy nhất chỉ có Thiền-Trí mới rõ biết chung gồm giữa mình cùng khắp các Cảnh-Giới mà thôi.
Tu-Thiền còn nghe được hơi thở của thảo-mộc cùng quả Địa-Cầu nhịp-nhàng di-chuyển cho đến các loài chim chung hòa với tiếng gió reo trở thành muôn ngàn câu Niệm-Phật, Niệm-Pháp, Niệm-Tăng không ngớt. Đồng với tiếng Nhạc-Trời của Chư-Thiên trỗi lên từng lúc Thanh-Bình. Nhờ nghe như thế, nhờ thấy như thế, nên mới chu-đáo mà tận biết những gì mà tất cả đang lầm-tưởng, do lầm-tưởng đương sinh mơ-ước trong hoài-ảo mà thiếu kém Thực-Thể phát Tâm để Tri-Kiến.
Bậc Tu-Thiền nhờ nhận Tánh để Thấy-Biết, có nhận Tánh Thấy-Biết như thế mới Tự-Tánh tỏ tánh. Nhờ Tự Tánh nên MINH-TÂM KIẾN-TÁNH Thấy Biết dung-thông khỏi lầm. Còn bậc chưa Tu-Thiền cũng dùng cái Thấy để Thấy, Thấy đặng mới biết, chưa thấy thời chưa biết, nên thường BỊ-BIẾT, khi Bị-Biết thì BỊ-LẦM.
Bậc Tu-Thiền dù có ngồi trong CỐC chăng vẫn nhận biết được Nhân Sinh có nơi quan niệm đúng, có chỗ chưa rõ quan niệm sai, lầm nơi quan niệm sai chạy theo chỗ sai mà Sanh Tử, chớ bậc Tu-Thiền đã thật biết nơi BỔN-TÁNH nên quyết-định không sai chạy.
Thế nào là Nhân-Sinh quan niệm đúng, có chỗ quan niệm sai ? Khi Nhân-Sinh Chánh- Giác thì lúc bấy giờ mới nói: TA có MỘT LINH-HỒN, đó chính là thật đúng không sai. Lúc Nhân-Sinh đang cơn Mê-Lầm, chạy theo từng Cá-Tánh, từng quan niệm đảo điên, giờ phút trước qua giờ phút sau, hai Đức-Tánh khác nhau thì hai CÁI-TA và hai LINH-HỒN. Từ nơi hai Linh-Hồn của Ta mãi mãi dung dưỡng thay đổi cho đến ngày hôm nay thì mỗi một Nhân-Sinh có đến hằng hà sa số vô lượng vô biên cái TA và cái LINH-HỒN, đâu có phải mỗi một cái như từ trước mà nay lầm nhận ? Đó là chỗ chưa rõ quan niệm sai.
Bậc Tu-Thiền nhận thấy tất cả mê mờ lầm lẫn, từ nơi Chân-Ngã Chánh Giác lầm mê xa lìa Chân-Ngã chạy theo Giả-Tưởng Thọ-Ngã trở thành Bản-Ngã hư-vọng. Do đó mỗi một Nhân Sinh quan niệm lầm nhận giả-tưởng Bản-Ngã có đến hằng-hà sa số vô-lượng vô biên Bản-Ngã mà phải Chánh-Báo Thiên-Tiên, Thần hoặc Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh đến Địa Ngục, đó chính là GIẢ-TƯỞNG BẢN NGÃ, nó đồng chủng tánh nơi các Cõi, các Cảnh-Giới hay Địa-Ngục cũng là Bản Ngã Giả-Tưởng nó bị, chớ chẳng phải CHÂN-NGÃ bị Chánh-Báo hay Thọ-Báo. Đó chính là chỗ quan niệm sai.
Bậc Tu-Thiền thật biết THỂ TÁNH của Thiền. Nếu chưa biết được Thể Tánh, theo quan- niệm mình mà dự đoán để Tu-Thiền thì sai lạc trở thành -TIÊN-ĐẠO gọi là bậc khá nhứt, ngoài ra còn điên khùng mất TRÍ phổ-truyền bừa bãi sa Địa-Ngục.
THỂ-TÁNH Thiền, Thể-Tánh của Thiền thì thuyên diễn đủ mọi hình thức gọi là: NÓ MUỐN THẾ NÀO THÌ NÓ VỀ THẾ ẤY – TÙY THUẬN THEO CÁI MUỐN NƠI NÓ NÓ ĐẾN. Do Thể-Tánh Thiền nó như thế nên chi Ngoại-Giáo mới có quan niệm sai lạc về vấn-đề XUẤT HỒN NHẬP-CẢNH. Còn về Chân-Truyền Giải-Thoát thì dụng Thiền để có Thiền-Trí sáng soi lìa BẢN-NGÃ, nương theo VÔ-NGÃ nhiếp-độ tất cả Bản-Ngã Giả-Tưởng đoạt đến CHÂN-NGÃ CHÁNH-GIÁC.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM nói lên từ một Đại-Ngã mê-lầm liền diễn hóa ra hằng hà sa số vô lượng vô biên Tiểu Ngã Giả-Tưởng, lầm mê Thọ-Ngã Giả Tưởng gọi là Bản-Ngã. Bậc Tu-Thiền đúng với tinh-thần Chánh-Giác thời nương theo VÔ-NGÃ, với mục đích Nhiếp Độ Bản-Ngã. Các Bản-Ngã ấy chính-là Tiểu-Ngã. Khi nhiếp-độ hoàn tất hằng hà sa số vô lượng vô biên Tiểu Ngã thời trọn vẹn Đại-Ngã. Có chu toàn Đại-Ngã mới có BÁT-ĐẠI NIẾT-BÀN.
Bằng trong thời đang tu-trì thọ-chấp nơi Tiểu-Ngã nào thì chỉ Chánh-Báo hoặc Thọ-Báo nơi Tiểu-Ngã đó thôi. Khi Tiểu-Ngã Giả-Tưởng đó còn thì Cảnh-Giới Thân-Mạng còn. Lúc Tiểu-Ngã Giả-Tưởng tan vỡ thì bị tan vỡ.
Bậc Tu-Thiền chưa đúng với tinh thần nói trên gọi là NGOẠI-GIÁO. Vì sao ? – Vì Xuất- Hồn đương nhiên chưa có Tâm Thọ-Ngã, nhưng lầm nhận mỗi một Tiểu-Ngã huân-tập Tiểu-Ngã ấy cho đúng với Thiên-Đạo hoặc Tiên Đạo. Khi đã thành hình Tiểu-Ngã đúng với Tiên thì liền nhập vào Tiên-Cảnh, còn đúng với Thiên-Giới thì đến nơi Thiên-Giới. Nên nhớ Tiểu-Ngã nó tùy nơi HIỆP mà đến thụ-thai nơi nó hiệp. Do nó như thế nên tu Tiên thành Tiên, tu Thần thành Thần, làm Ác thì nó vào nơi Ác, lập Thiện thì Tiểu-Ngã ấy nó hưởng nơi Thiện-Giới. Khi nó bị sa vào Ba Đường Ác như Ngạ-Quỷ, Súc Sanh, Địa-Ngục thì chính Tiểu-Ngã nó đã có sẳn nơi Ngạ-Quỷ, nơi Súc-Sanh, nơi Địa-Ngục nó chịu lấy hình phạt, chớ bậc đang tu nào có chịu. Nhưng trót lầm mê thì phải chịu mà than thở cầu van. Đó chính là lời TỰ-TẠI ĐẠI-BI nói thật.
THIỆN-NAM-TỬ, THIỆN-NỮ-NHƠN. Các bậc Tu-Hành hay vấp phải Tập-Quán, tập quán ấy là thói quen xem thường, vì xem thường như thế chính là dung dưỡng biếng-trễ, do nơi biếng trễ nên chi tu tập hoặc nghe thuyết pháp ít lưu ý thành thử khó lãnh hội được các Thời-Pháp sâu đậm để mà Tu.
Đến lúc biết Nghe, biết Nhận để mà Tu, thời nghe nhận được nhưng đem THẬT HÀNH để Ngộ-Nhập. Thêm nơi Tập-Quán xem thường mà chỉ tìm những Thời-Pháp cao-siêu học hỏi, ngoài ra Kinh-Pháp chỉ rõ, nói rõ yếu-tố tu tập đến rốt-ráo thì chưa thi-hành, song chưa lưu ý đến. Do lẽ ấy thiếu căn-bản Ngộ-Nhận, đã thiếu Ngộ-Nhận thời vẫn thiếu NGỘ-NHẬP.
Đối với Chân-Lý không có Pháp nào là pháp cao, cũng không có pháp nào là pháp thấp cả, duy nhất thật hành Ngộ-Nhập là cao quý.
Khi Đức THẾ-TÔN còn Thể-Hiện, có Bậc đến thưa hỏi: “Bạch THẾ-TÔN, nơi đây là Thế-Gian hay Cõi Phật ? Nơi đây là Nhân-Thế hay Niết-Bàn ?”. Lúc ấy giờ Đức THẾ-TÔN Ngài nói: “Ở đây cũng Thế-Gian cũng Cõi Phật. Ở đây cũng Nhân-Thế cũng Niết-Bàn”.
Bậc nọ mới thưa: “Bạch THẾ TÔN, con nương nhờ Ngài nói quyết-định”. Đức THẾ-TÔN Ngài nói: “TA làm sao nói quyết-định. Nếu TA nói quyết-định đây là Niết-Bàn hay Cõi-Phật, mà Ông chưa thi-hành tu tập đúng với tinh-thần, đoạt đến mục đích thì lời TA nói Vọng-Ngữ sao ? Bằng TA nói đây là Nhân-Thế hoặc Thế Gian, Ông thực-hành tu đúng thì lời TA nói sai biệt, Ông nghĩ thế nào ?” Bạch THẾ-TÔN đúng nó như thế. Đức THẾ-TÔN Ngài nói tiếp: “Ông cũng nên biết, những điều Ông thưa hỏi nó không Thực-Thể. Do nó không Thực Thể nên TA phải nói phân hai rằng: NÓ cũng như thế, mà nó không phải như thế”.
Lúc bấy giờ Bậc nọ thưa thỉnh: Bạch THẾ-TÔN xin Ngài thương chúng-con đời này hay đời sau Ngài chỉ dạy nơi THỰC-THỂ để tu thoát khỏi SANH TỬ. Lúc bấy giờ Đức THẾ-TÔN Ngài nói: “MÔN TU ĐỂ MÀ ĐẾN nên thưa hỏi. MÔN ĐẾN ĐỂ KHỎI TU, chớ nên hỏi”. – Thế nào là Môn Tu để đến ? BI-CHÍ-DŨNG GIỚI-ĐỊNH-TUỆ, đó chính là Pháp-Môn chính yếu nên hỏi TU mà ĐẾN.
Đối với Bi-Chí-Dũng Giới-Định Tuệ kinh-pháp đã từng nói, từng nhắc nhở ích-lợi để tu. Thật ra vì thói quen xem thường, nơi xem thường bởi vì lòng Tham-Vọng tràn ngập nên ưa học hỏi những pháp nào ĐẾN ĐỂ CHƯA TU. Còn TU đặng ĐẾN thì thờ ơ xem thường, coi đó là nhỏ nhen thường pháp. Vì vậy nên rất hiếm bậc Tinh Tiến Thật-Hành sâu đậm Thật-Chứng.
CHÂN-LÝ LÀ MÓN ĂN THẬT THỂ đối với bậc đã từng lãnh-hội Giáo Lý Thật-Hành Tương-Song, từ nơi Say Đạo, Mến-Đạo, Hiểu-Đạo đồng Tự-Tánh Tỏ-Tánh Biết-Đạo mới công nhận Chân Lý là món ăn Thật-Thể không gì bằng.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện Nữ Nhơn. Đối với Lý-Sự tu-trì đem đến nơi Hiểu Biết rất Bình-Đẳng, rất hiệu quả vi diệu. Tùy theo Công-Năng chân thành cầu Đạo. Tùy nơi xem thường tu lấy lệ có tu. Tùy theo Tham-Dâm ô dục mà thọ lãnh các pháp. Tùy theo Nương-Tựa-Căn, Háo-Danh-Căn, Thần-Quyền Căn, Thọ-Ngã-Căn mà lãnh-hội đồng ứng in nhau không sai khác.
Nếu có bậc thật-hành Nhất Tâm áp-dụng BI-CHÍ-DŨNG để tu, khi Bi-Chí-Dũng thành tựu thật vô kể nơi Chân-Lý Bảo-Pháp. Khi Thiện-Nam hoặc Thiện-Nữ duy nhất dụng mỗi một chữ “BI” làm mục-tiêu, thi-hành về CHÍ DŨNG làm Phẩm Trợ-Đạo.
Thiện-Nam, Thiện-Nữ nên biết. Thiện-Nam, Thiện-Nữ nhìn thấy trước bối cảnh của Nhân-Sinh chật vật nơi SANH-TỬ-BỆNH-LÃO-KHỔ gặp nhiều sự khó khăn đói khát, Thiện-Nam, Thiện Nữ chỉ thi hành chữ BI giúp-đỡ, nếu gặp phải trở ngại thì dụng CHÍ-DŨNG để thành tựu mục tiêu giúp đỡ của mình. Cứ như thế tùy thuận cứu giúp, tùy khả-năng cứu-trợ, từ lời nói giúp-đỡ đến tiền bạc cứu-trợ, qua từng Nhân-Lực Tài-Chánh Ngôn-Ngữ thảy đều giúp-đỡ không ngoài chữ BI. Lúc cứu giúp xong có trường hợp biết ơn, hoặc giả chẳng biết ơn sanh lòng oán giận thì chớ nên phiền trách, đó chính là dụng BI-CHÍ-DŨNG BA-LA MẬT vậy.
Trong thời gian thật-hành BI CHÍ-DŨNG như thế thì Thiện-Nam Thiện Nữ vừa tu-trì QUÁN-THẾ-ÂM-HẠNH mà lại được quán xuyến tất-cả mê-lầm Nhân Sanh Chịu-Báo khổ sở trước tấm tuống Sanh-Tử-Lão-Bệnh-Khổ. Sau thành tựu Đại-Bi Trí-Tuệ sáng soi cùng khắp tỏ rõ Nghiệp-Chủng Chúng-Sanh, Đại-Chí lướt qua các Pháp-Giới. Đại-Dũng Điều-Ngự Trượng-Phu mà Giác-Ngộ. Đó có phải CHÂN-LÝ cần THẬT-HÀNH mới NGỘ-NHẬP chăng ?.
NÓI VỀ
GIỚI-ĐỊNH-TUỆ
NHIẾP ĐỘ THAM-SÂN-SI
Nói về THAM-SÂN-SI thì bậc tu-hành nào cũng biết nó chính là gốc của mê mờ lầm lẫn. Nhưng nào mấy ai tường tận. Càng giảm SÂN-HẬN bao nhiêu thì lòng THAM tiêu giảm bấy nhiêu. Lòng Tham tiêu giảm đương nhiên Trí-Tuệ tăng-trưởng, SI-MÊ cũng bớt nhiều. Đối với THAM-SÂN-SI nó đứng nhiều quan điểm do nơi nhận định cho nó. Có bậc chẳng tham Tiền lại tham Quyền. Có kẻ không tham Ăn vương nơi tham Nói. Có bậc không tham của Đời lại đi tham của Cõi-Trời, không tham Danh liền tham Lợi. Sự-Lý THAM-SÂN-SI theo quan niệm càng tránh chạy bao nhiêu thì vương nơi Tham bấy nhiêu, duy nhất chỉ có GIỚI ĐỊNH TUỆ nhiếp-độ THAM-SÂN-SI thôi.
* Làm thế nào dụng GIỚI để nhiếp độ THAM ?
* Làm thế nào dụng ĐỊNH-TUỆ đặng nhiếp-độ SÂN-SI ?
GIỚI, chính là Giới-hạn Quyền-hạn nhiếp độ Tham. Khi bậc tu dùng Giới-hạn Quyền-hạn nơi mình đúng với Quyền-lợi của mình thì bậc ấy chẳng phải là Tham. Bằng quá mức thì không Tham cũng gọi là đã Tham. ĐỊNH-TUỆ chính là Chủ-Định nơi Trí-Tuệ để thi hành đúng với Giới-hạn Quyền-hạn Quyền-lợi, bậc biết như thế mới là bậc biết dùng Giới-Định-Tuệ nhiếp-độ Tham-Sân-Si vậy.
Nói đến Tham-Sân-Si, khi kẻ còn Si-Mê đương nhiên còn Sân-Hận. Đã còn Sân-Hận vẫn còn Tham. Đã còn Tham thì nó rất nhiều quan điểm nhận định. Đến sự nhận định về nó Chư Thiên-Nhân vẫn còn nhận định sai thay, thì làm sao các bậc tu nhận định cho đúng. Sau đây là câu chuyện của vị Thiên-Nhân đến thưa gởi.
Có vị Thiên-Nhân đến thưa gởi với Thiền-Sư: Kính thưa Thiền-Sư theo tôi nhận xét, tôi cùng các Chư Thiên thảy đều do nơi Tham mà trôi dạt trong Sanh-Tử. Vì nghĩ đặng như thế nên mới quyết-tâm lìa THAM tu cho thành-Phật. Khi chúng tôi giải bỏ cái Tham trên Cõi-Thiên, lại mang vào cái Tham rộng lớn ở Cõi-Phật, thì đương nhiên chúng tôi bỏ nhỏ cầu lớn. Đó chính là lời chân thành nhờ Thiền Sư chỉ giáo về cái Tham của chúng tôi đang khó nghĩ. Vị Thiên-Nhân thưa gởi xong ngồi lại một bên.
Lúc bấy giờ Thiền-Sư mỉm cười hỏi: Nầy Thiên-Nhân, CHÂN-THIỆN-MỸ của Thiên-Nhân lạc mất, nay thật Hành cốt để hoàn-lai, như vậy Thiên-Nhân có Tham hay không? Đối với Chư-Phật cũng như thế.
GIỚI, chính là Giới-hạn Quyền-hạn nhiếp độ Tham. Khi bậc tu dùng Giới-hạn Quyền-hạn nơi mình đúng với Quyền-lợi của mình thì bậc ấy chẳng phải là Tham. Bằng quá mức thì không Tham cũng gọi là đã Tham. ĐỊNH-TUỆ chính là Chủ-Định nơi Trí-Tuệ để thi hành đúng với Giới-hạn Quyền-hạn Quyền-lợi, bậc biết như thế mới là bậc biết dùng Giới-Định-Tuệ nhiếp-độ Tham-Sân-Si vậy.
Nói đến Tham-Sân-Si, khi kẻ còn Si-Mê đương nhiên còn Sân-Hận. Đã còn Sân-Hận vẫn còn Tham. Đã còn Tham thì nó rất nhiều quan điểm nhận định. Đến sự nhận định về nó Chư Thiên-Nhân vẫn còn nhận định sai thay, thì làm sao các bậc tu nhận định cho đúng. Sau đây là câu chuyện của vị Thiên-Nhân đến thưa gởi.
Có vị Thiên-Nhân đến thưa gởi với Thiền-Sư: Kính thưa Thiền-Sư theo tôi nhận xét, tôi cùng các Chư Thiên thảy đều do nơi Tham mà trôi dạt trong Sanh-Tử. Vì nghĩ đặng như thế nên mới quyết-tâm lìa THAM tu cho thành-Phật. Khi chúng tôi giải bỏ cái Tham trên Cõi-Thiên, lại mang vào cái Tham rộng lớn ở Cõi-Phật, thì đương nhiên chúng tôi bỏ nhỏ cầu lớn. Đó chính là lời chân thành nhờ Thiền Sư chỉ giáo về cái Tham của chúng tôi đang khó nghĩ. Vị Thiên-Nhân thưa gởi xong ngồi lại một bên.
Lúc bấy giờ Thiền-Sư mỉm cười hỏi: Nầy Thiên-Nhân, CHÂN-THIỆN-MỸ của Thiên-Nhân lạc mất, nay thật Hành cốt để hoàn-lai, như vậy Thiên-Nhân có Tham hay không? Đối với Chư-Phật cũng như thế.
Vị Thiên-Nhân mừng rỡ, liền nói lên: Té ra Quyền-Hạn Giới-Hạn nơi mình, mình biết dùng đúng với Quyền-Hạn Giới-Hạn để đòi lại Quyền lợi thì chẳng có chi gọi là THAM. Tôi chưa bao giờ được nghe nay được nghe.
Thật là ĐỊNH-TUỆ chính môn cứu cánh sự lầm lẫn, nếu tôi chưa gặp đặng Thiền-Sư, chưa thọ lãnh lời chỉ giáo thì dù có Vô-Tỉ Kiếp cũng Không bao giờ rũ sạch Nghiệp THAM.
Thật chưa bao giờ được biết, hôm nay được Biết. Thiên-Nhân tán thán xong đảnh-lễ cáo từ lui gót.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn. Đối với con đường tu-tập nó không ngoài Công-Năng càng dày dặn bao nhiêu thì Chân-Lý kia càng triệt thấu bấy nhiêu. Khi Công-Năng đầy đủ thì bậc Thiện-Trí-Thức chỉ khai ngộ đơn giản liền sở đắc Thật-Chứng. Còn Công-Năng yếu-kém tham-vọng hãy còn, dù cho có thuyết giải bao nhiêu chăng không khác nào nước đổ trên LÁ MÔN vậy. Nên Phật nói: Chân-Lý chẳng phải giảng nhiều mà tỏ ngộ, cũng không phải không giải mà Viên Thông. Duy nhất phải có Công-Năng Thật-Hành song tu Giáo-Lý đương nhiên có trình-độ TÂM-GIÁC. Bậc có đặng Tâm-Giác mới biết được còn Tham hay hết Tham. Do đâu để thật biết còn Tham?- DO CÒN VỌNG THỜI CÒN THAM, gọi là THAM-VỌNG. Hết Vọng liền hết Tham đó chính là tận tận nơi THAM-SÂN-SI vậy.
Nầy Thiện-Nam,Thiện-Nữ, nơi Chân-Lý rất Thật-Thể. Bậc tu trước đã thi-hành kết-quả kêu gọi kẻ tu sau hãy nương theo dấu vết trước để mà tu đặng kết-quả. Nếu chưa chịu nương-theo, hoặc nương theo chưa đúng với tinh-thần mục-đích trước thì khó thành tựu. Đó chính là lời nói quyết định không sai. Bậc đã thi-hành mới nhận thấy lời nói nầy không hai tướng.
Lại nữa, các Chư Tổ thời xưa vẫn phải nương theo vết chân Chư-Phật. Các Chư-Phật thời trước phải nương theo các Chư-Phật thời trước nữa. Cứ như thế mà lưu truyền nhau mãi không bao giờ sai lạc. Nếu sai lạc thì chẳng phải Chân-Truyền lời Chỉ-Giáo của Chư-Phật, mà là lời của loại MA-BA-TUẦN thuyết.
Đối với Chư-Tổ đương thời ra chỉ-đạo, tùy theo Pháp-Môn Sở-Đắc của Tổ gọi là TÔNG, Tông ấy không ngoài-lời Chân-Truyền của Đức-Phật. Mỗi một vị Tổ như thế ra một thời Chỉ-Đạo vẫn áp dụng đúng TÔNG, nhưng tùy thời để ứng-dụng không ngoài lời Chân-Truyền của Đức-Phật. Đối với một mục đích duy nhất phải đem GIÁC-NGỘ, còn thời thì tùy thời mà Chỉ-Đạo.
Thời nào các Chư-Tổ vẫn phải chịu cảnh ĐỒ-CHÚNG, chịu bọn Đồ-Chúng ngăn đón, buộc Chư-Tổ phải chỉ-đạo theo lối Ma-Ba-Tuần mà Đồ-Chúng quan niệm là Chánh-Giáo. Do nó như thế nên Chư-Phật thời trước xa và Chư-Tổ hiện tại phải chịu trăm cay nghìn đắng. Chư-Tổ chịu những gì mà Chư-Phật đã từng chịu không sai khác mảy may nào cả. Lúc bấy giờ Chư-Tổ mới Tri Ân Tán Thán, mới nhìn nhận sự cao quý, tình Tối-Thượng của Đấng Chí-Tôn. Vì Tri-Ân, vì cao quý, Chư Tổ mới Bảo-Trì lời Di-Truyền Bất-Diệt. Thà rằng THÂN Tổ diệt-sanh không bao giờ theo bọn làm cho lạc Bảo-Pháp. Chẳng bao giờ đem lời nói-làm mất tất-cả quý điểm của CHÍ-TÔN. Đó chính là NHẤT-TÔN phục-vụ Bảo-Truyền trong thời TỔ.
Còn về Bậc Tu-Hành thảy đều nương theo Hạnh-Nguyện gánh chịu nhiều bối-cảnh, dụng Tâm để lướt qua các bối cảnh. Không khác mấy Chư Bồ-Tát đã từng vinh nhục, đã từng chua chát đắng cay cốt để Tỏ-Tánh, cốt Tha-Lợi cho từng lớp. Nói chung lại Bậc TU chịu hoàn-cảnh, về Chư-Tổ chịu Đồ-Chúng, do đó nên Đạo-Đức Cao Quý tinh-thần Tri-ân bất-diệt, hương vị tuyệt đỉnh, chính là Chân-Lý món ăn Thật-Thể của PHẬT-ĐẠO.
NÓI VỀ
ĐẠO PHẨM
TỰ-TẠI ĐẠI-BI diễn giải về ĐẠO PHẨM. Đạo-Phẩm duy nhất có một. Từ Đạo-Tràng nhiếp-thâu huân-tập các Phẩm nguyện đầy đủ gom về một mối Tri-Kiến Giải-Thoát không ngoài hai chữ TU đồng với HÀNH. ĐẠO để huân-tập LÝ-TRÍ HƯỚNG-THƯỢNG. Lý Trí Hướng-Thượng là Chân-Lý Tối Thượng Bát-Nhã-Trí. PHẨM cốt yếu thâm nhập vạn-pháp tỏ pháp Sở-Đắc.
Đương thời nầy suy kém nơi Hướng-Thượng, chỉ dùng Lý-Trí chủ thủ trở thành Lý-Luận suông. Vì vậy nên đường tu dể bị lâm vào Lý-Chướng đến Sự-Chướng. Khi Lý-Sự đều Chướng thì ĐẠO-PHẨM mơ màng. Do mơ màng đâm ra mơ hồ thối chuyển. Vì nó như thế nên: Tự mình PHÁT TÂM TU, rồi chính mình tự phản lấy.
Đứng trước mơ màng ĐẠO và PHẨM, các bậc tu đang phân vân chưa quyết định. Tâm tự hỏi lấy Tâm nên ở Đạo Tràng hay nên lìa khỏi Đạo-Tràng? Câu tự hỏi ấy nguyên nhân Lý-Sự chướng mơ màng thối chuyển mà ra, chẳng phải do đâu mà có nó. Thời Trung-Kiếp tất cả các bậc tu hành chẳng có câu hỏi đó, vì sao?- Vì thời Trung-Kiếp bậc tu ít Lý-Trí dụng Ý-Trí nên chi tu thế nào hay phát nguyện ra sao vẫn gìn giữ Tròn-Nguyện, nhờ thế mà không có vấn đáp phân vân toại-nguyện Thật-Chứng.
TỰ-TẠI-TÂM nói lên Đạo-Tràng không phải THỦ mà cũng chẳng phải XẢ, không phải LẤY mà cũng chẳng phải BỎ. Nếu Đạo-Tràng cố thủ tu cầu thành-Phật, thành Bồ-Tát, thành Chư-Thánh thì vẫn sai biệt với tinh-thần Toàn Giác. Bằng Xả Bỏ Xa Lìa không chấp-thuận Chư-Phật Chư Bồ-Tát Tam-Thiên vẫn sai biệt tinh-thần Hoàn-Giác, lại bị lâm vòng KIẾN-DỤC.
Sự LẤY-BỎ-THỦ-XẢ do nơi thật hành chưa đúng tinh-thần mục-tiêu của Chân-Giác. Khi đã tu đúng, nhận đúng liền biết. Lúc đã biết mới nhận thấy HUÂN-TẬP ĐẠO-TRÀNG ích-lợi những gì, bằng không huân-tập thiệt hại ra sao? Nếu thật-hành đầy đủ các PHẨM có lợi những gì? Bằng chưa thật-hành PHẨM thời nó ra sao?
Khi các bậc tu-hành nhận biết tỏ rõ ĐẠO- PHẨM DUY-NHỨT, các Phẩm thảy đều là những môn TRỢ-ĐẠO bồi dưỡng cho Đạo-Tràng Chư Bồ-Tát đã từng tu-tập, đã từng dụng Chí-Nguyện thật-hành các Phẩm-Nguyện, làm tinh chất bồi-dưỡng cho sự hiểu biết đến Giác-Ngộ. Nay các bậc tu mong cầu Diệu-Quả Bồ-Đề rất cần nương theo vết chân Chư Bồ-Tát, đồng HÀNH đồng SỰ đồng KẾT-QUẢ như nhau. Đến lúc Chư Bồ-Tát thành tựu Bồ-Tát vẫn nương theo nơi BỔN-NGUYỆN của Chư-Phật đã làm, nay phải làm mới kết-quả. Hiện hành các bậc tu rất cần tu đúng tinh thần, tu đúng với Sở-Nguyện thời làm gì không Giác-Ngộ. Đó chính là lẽ dĩ nhiên nó phải như thế.
Bậc tu đã từng huân-tập Đạo Tràng thật-hành các PHẨM-NGUYỆN đầy đủ bao nhiêu thì sự hiểu biết càng tăng-trưởng bấy nhiêu. Nương nhờ nơi Lễ-Bái, Chiêng-Đàn, Trống-Phách, Tụng-Niệm, Chiêm-Ngưỡng từ Đại-Lễ, Trung-Lễ, Tiểu-Lễ, mới nhận thấy mình đang chung-cùng duy nhất một LẼ-SỐNG trong BÁO-THÂN CHƯ-PHẬT.
Nơi Báo-Thân trùm khắp Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, các Cõi cho đến các Cảnh-Giới Tịnh-Độ cùng Quốc-Độ Ba-Cõi Sáu-Đường không thiếu sót đều là BÁO-THÂN. Khi thành tựu Chánh-Báo-Thân-Phật, có đầy đủ các hàng Bồ-Tát như Bồ-Tát-Nguyện, Bồ Tát Bảo-Trì, Bồ-Tát Hộ-Pháp, Bồ-Tát đến Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, từ hàng Bồ-tát đến Đại-Bồ-Tát có hằng hà sa số Bồ-Tát trang nghiêm từng Quốc-Độ của Chư Phật. Các hàng Chư-Thiên, Chư Càng-Cát, Chư Long-Thần, Chư Hộ-Pháp, Chư Hộ-Pháp Bồ-Tát, Chư Hộ-Pháp Bồ-Tát Ma Ha-Tát đồng thanh Niệm-Phật, đồng thanh Tán-Thán, đồng thanh Chiêm-Ngưỡng Lễ-Bái Nhứt-Tâm Cúng Dường không dứt.
Báo-Thân-Phật có đầy đủ trang nghiêm, có đầy-đủ trang-trí Quốc-Độ như Bảo-Châu, Ngọc-Bích, Xa-Cừ, Xích-Châu, Mã-Nảo cùng các báu khác như Long Thanh-Quang Bảo-Châu, Phướng Hồng-Quang Xích-Châu, cùng Mã Nảo Trân-Châu, Tràng-Phang Bạch-Châu cùng Huỳnh-Châu Bảo-Cái kết đính hằng hà sa số Châu-Ngọc cốt trang-nghiêm Quốc-độ.
Nơi Chánh-Báo có hằng-hà sa số Quốc-Độ, mỗi Quốc-Độ thảy đều có sự Trang-Nghiêm Trang-Trí như trên đồng với hằng-hà sa số các hàng Bồ-Tát, các hàng Chư-Thiên, các hàng Chư Long-Thần Hộ-Pháp, Chư Hộ-Pháp Bồ Tát cùng nhau rải hoa cung-kính tán thán không ngừng, sự trang-nghiêm Quốc-Độ Chư-Phật bất-khả thuyết, bất-khả tư-nghị, duy chỉ có Nhất-Tâm TIN liền đặng.
Nơi Chánh-Báo có hằng-hà sa số Quốc-Độ, mỗi Quốc-Độ thảy đều có sự Trang-Nghiêm Trang-Trí như trên đồng với hằng-hà sa số các hàng Bồ-Tát, các hàng Chư-Thiên, các hàng Chư Long-Thần Hộ-Pháp, Chư Hộ-Pháp Bồ Tát cùng nhau rải hoa cung-kính tán thán không ngừng, sự trang-nghiêm Quốc-Độ Chư-Phật bất-khả thuyết, bất-khả tư-nghị, duy chỉ có Nhất-Tâm TIN liền đặng.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI nói chân thật, đối với Đức-Phật lời Vàng đưa ra, các bậc TÍN-THÀNH thọ-trì KHỎI PHẢI TU vẫn thành-Phật. Vì sao?- Vì Phật không có vạn-pháp, đã không có vạn-pháp nào có Chúng-Sanh? Đối với Bồ-Tát có vạn-pháp, không có hoàn-cảnh, nên Bồ-Tát nhiếp-độ vạn pháp chẳng lưu-tâm đến hoàn-cảnh. Về Phàm-Phu không thể nhìn đặng vạn pháp, chỉ nhìn nơi mình có hoàn cảnh, nên chẳng nhận ra vạn-pháp.
Trong ba giai đoạn trên, ba tư thế khác nhau. Nơi tư thế Phàm phu thấy hoàn-cảnh thuận-nghịch ràng buộc ngăn cách, lúc mong thoát khỏi Phàm-Phu-Tính đặng an-nhiên tự-tại thì phải tu pháp-môn CỔI-GIẢI-TÂM, lướt qua các Hoàn-Cảnh được gọi là THÙ-THẮNG-TÂM. Khi có thù-thắng mới có Trí-Tuệ để lãnh-hội vạn-pháp tu trì PHÁ CHẤP MÊ đến tỏ-pháp sở đắc CHÂN-KHÔNG, đã qua đặng nơi hoàn cảnh Phàm-Phu-Tính. Liền sau lúc đó phải thật hành Hạnh-Nguyện cốt qua con đường BỒ-TÁT-HẠNH để tròn các PHẨM NGUYỆN. Có như thế mới đứng trong vòng THÁNH đoạt đến sở-nguyện. Bằng chưa thật-hành Hạnh-Nguyện, xa lìa ĐẠO-TRÀNG trong thời-gian ngắn phải mắc-miếu vương vào các pháp, lộn vòng CHÚNG-SANH-GIỚI lâm nơi KIẾN-DỤC.
Còn Chư Bồ-Tát thật-hành Hạnh Nguyện từ ĐẠO đến PHẨM không thiếu sót, cốt nhiếp-độ vạn-pháp để tỏ pháp trọn Chánh-Giác, Chư Phật thọ-ký thành Phật.
Pháp-Độ Chánh-Báo Chư-Phật trọn quyền ấn-chứng thành Phật. Pháp Độ Chư Phật vi-diệu như thế nên thời quá-khứ Thượng-Kiếp Đức Thế-Tôn chưa thành Phật đang còn tu-sĩ, Ngài đến cung-kính Cúng-Dường, chiêm-ngưỡng lễ bái Đức NHIÊN-ĐĂNG-PHẬT, Đức Nhiên-Đăng-Phật mới thọ-ký Trung-Kiếp thành Phật với danh hiệu: BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI-PHẬT. Sau Đức Bổn Sư Thể-Hiện Chỉ-Đạo Thọ-Ký DI-LẠC TÔN-PHẬT cùng các hàng Bồ-Tát đến các Bậc Hữu-Học Vô-Học đều thành Phật của mỗi thời tùy hỷ, nơi DIỆU-PHÁP LIÊN-HOA-KINH đó là lời chân thành quyết-định.
Nói về Chánh-Báo Thân-Phật trong thời THƯỢNG-KIẾP đặng thành tựu đứng bậc nhứt. Thời nầy các bậc tu-trì Chánh-Tín có hằng-hà sa-số, vô-lượng vô-biên thành Phật, qua giai đoạn sau Thượng-Kiếp yếu kém căn-cơ sai phần Chánh-Tín chẳng đặng như trước, nên rất hiếm thành Phật mà đa số thành TIÊN-ĐẠO gọi là Đắc-Quả. Đến phần sau nữa càng ngày càng sa sút Chánh-Tín liền Đắc-Quả nơi THẦN-THÁNH-ĐẠO.
Thần-Thánh-Đạo đến thời Trung Kiếp rất hiếm, Thần-Đạo được tôn sùng, vì nghiệp-căn cầu đảo điên-loạn mơ màng, thành thử thời bấy giờ đối với Pháp-Độ Chánh-Báo Thân-Phật chẳng còn ai biết đến, duy chỉ phát sanh Ác Đạo tế-lễ bằng máu huyết trâu bò. Qủy-Đạo sát sanh cúng tế bằng xương thịt súc-vật sống. THẦN-ĐẠO đánh đập bùa chú. Ma-Đạo khỏa-thể phơi xác ép thân làm cho tất cả sống nơi Chú Ngải cuồng-tín chịu nơi BIỂN Sanh-Tử Bệnh-Lão-Khổ, cùng không ngừng các mối đạo SƯ-ẾM gieo rắc ghê sợ kể không hết đặng.
*******
TRƯỚC KHI TÂM-NGUYỆN NÓI
RÕ ĐẾN ĐOẠN NẦY:
RÕ ĐẾN ĐOẠN NẦY:
TỰ-TẠI ĐẠI-BI ban-bố cho TÍN CHÚNG PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM lập Đại-Lễ chiêm-ngưỡng lễ-bái cung thỉnh ĐỨC GIÁO-CHỦ BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT chứng minh lời chân thành chủ-yếu xưng-tán pháp Tối Thượng mà Ngài đã từng Đại-Bi chỉ dạy. Đến nay Hạ-Kiếp lạc lối tu trở thành Hạ-Pháp gọi là Mạt-Pháp. Chúng con xin lễ-bái đặng diễn nói lên lời chân thật, cúng dường Báo-Ân Đức Giáo Chủ cùng xây nên ngôi Tam-Bảo chân truyền, đồng thời mong cho các bậc tu thức-tỉnh phát tâm trở-thành Thượng-Trung-Hạ duy nhất.
NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA
MÂU-NI-PHẬT
MÂU-NI-PHẬT
Lành thay! Lành thay! Đức Bổn- Sư Thể-Hiện đúng lúc vào cuối thời Trung-Kiếp, tuổi thọ của Nhân loại đã giảm không ngoài 100 năm một kiếp. Ngài là vị Cứu-Tinh, Ngài-khéo đem pháp Tối-Thượng Chỉ-Đạo. Ngài khéo đem Chánh-Báo Thân-Phật từ thời Thượng-Kiếp đã đặng hưởng đến cuối Trung-Kiếp vẫn tồn-sinh khỏi đoạn-duyên Phật. Ngài tùy căn-cơ, tùy vọng-đảo, tùy mơ màng, tùy khởi niệm, tùy thọ-ngã Sở-Ngã trụ-chấp, tùy nơi Chứng-Tri Kiến-Chấp, tùy nơi Chánh-Báo Phước-Điền, Thọ-Báo Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục mà Ngài xướng lên 10 Danh-Hiệu, để cứu-độ 10 lối nghi ngờ, 10 điều vướng mắc, 10 chốn Thọ-Chủng Giới-Sinh. Ngài lại chỉ bày BỐN LỐI rành mạch tuyệt mỹ, để từng cấp, từng bậc, từng hồi giảng giải cho các bậc Năng-Sở Kiến-Tri Thọ-Ngã trở thành CHÍNH-KIẾN thoát khỏi KIẾN-DỤC hoàn toàn GIẢI-THOÁT.
Thế nào là Bốn Lối
Năng-Sở Kiến-Tri giải nói ?
Năng-Sở Kiến-Tri giải nói ?
* LỐI THỨ NHỨT: NHƯ-LAI PHÁP. Lối Như-Lai-Pháp nói pháp bình-đẳng. Lối Như Lai-Pháp xóa mờ Kiến-Vọng, tiêu giảm vọng-ước đảo điên tập nhiễm nơi Thánh-Đạo, Thần-Đạo, Tiên-Đạo, Thiên-Đạo nơi Tam-Thiên Đại-Thiên Thế Giới, Ba-Cõi Sáu-Đường Ác-Đạo, Quỷ Đạo, Ma-Đạo, cho đến mộng tưởng thành Phật Sở-Đắc Chân-Lý nơi KIẾN-DỤC, KIẾN-NGÃ, KIẾN-CHẤP, VỌNG-NGÃ đảo điên mơ màng cầu mong thảy đều sạch sẽ, đưa cho các bậc tu CHÍNH-KIẾN duy nhất Thọ-Ký Chánh-Báo Thành-Phật.
* LỐI THỨ HAI: Là PHẬT PHÁP. Nói về Quyết-Chỉ Ấn-Chứng Chánh-Báo. Đức BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI-PHẬT Ngài đã từng nói tất-cả sự trang nghiêm các Quốc-Độ, Tất cả Công-Đức thành tựu sung mãn Chư-Phật, các Tối-Thắng Diệu-Âm Chư-Phật, các Ấn-Chứng Thọ-Ký trải khắp Chánh-Báo Trang-Nghiêm từng Quốc-Độ Chư-Phật. Ngài cũng đã nói lên nơi Chánh-Tín Cúng-Dường các hàng Đại Bồ-Tát, các hàng Bồ-Tát Ma-Ha-Tát cùng các Chư-Thiên Hộ-Pháp không thiếu sót ở nơi Kinh-Pháp Vi-Diệu Thậm-Thâm để cho Nhân-Loại tu tập Chánh-Tín đặng Thọ-Ký Thành-Phật.
* LỐI THỨ BA: Là BỒ-TÁT HẠNH NGUYỆN, nói về Pháp-Môn Nhiếp-Độ, Pháp Môn Thu-Nhiếp, Pháp-Môn Tự-Lợi Tha-Lợi, Pháp-Môn Lý- Sự đồng tu.
Các hàng Bồ-Tát nương nhờ nơi Hạnh-Nguyện có Trí-Tuệ Giác-Tâm, từ nơi Tâm-Quán nhận thấy qua từng Pháp Môn Giải-Thoát, qua từng Pháp-Giới Giải-Thoát, qua từng Năng-Sở Trụ Chấp Giải-Thoát, qua từng Kiết-Sử Nghiệp-Lậu Giải-Thoát, qua từng Thọ-Ngã Kiến-Ngã Chủng-Ngã Giải-Thoát, qua từng Sanh-Diệt Diệt-Sanh Tu-Chứng Vô-Sanh Giải-Thoát, qua từng SẮC-THỌ-TƯỞNG-HÀNH-THỨC Giải-Thoát, qua từng Thiên-Tưởng, Nhân-Tưởng, Chúng-Sanh Tưởng, Thọ-Giả-Tưởng Giải-Thoát, qua từng CÓ KHÔNG Thật-Tướng Vô-Tướng Tam-Muội Pháp-Môn Giải-Thoát, qua từng Năng-Sở Kiến-Tri Tập-Khí Giải-Thoát. Hạnh-Nguyện đến không còn môn Giải-Thoát đó chính là GIẢI-THOÁT.
* LỐI THỨ TƯ: Lối thứ tư nầy chung gồm các Pháp-Môn chỉ dạy tu. Từ nơi tu Tâm vì Tâm bó buộc, Tâm vặc mắc, Tâm tham-vọng, Tâm điên-đảo, Tâm mong cầu, Tâm tự-ngã, Tâm phân biệt, Tâm dị biệt, Tâm chướng-đối, Tâm khinh ghét, Tâm chê bai, Tâm keo kiệt, Tâm ích kỷ, Tâm lừa dối, Tâm thù-hận, Tâm tạo tác. Do đó mà trở thành NGHIỆP. Tùy nơi Nghiệp mà sinh hoàn-cảnh, từ hoàn-cảnh sanh ngăn cách. Bởi ngăn cách nên phải dùng Thù-Thắng-Tâm lướt qua các hoàn-cảnh để mà tu, phải tu CỔI-GIẢI-TÂM cho đặng Thanh-Tịnh-Tâm Thọ-Lãnh các Pháp. Lúc đã rõ Pháp ít nhiều liền có nghi-chấp dụng Trí-Tuệ phá Nghi giải Chấp, đó chính là yếu môn thứ tư vậy.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI-TÂM chẳng biết nói làm sao đây. Bốn LỐI Chỉ-Đạo tuần tự đón đưa linh-động tuyệt mỹ làm cho tất-cả Tứ-Chúng đương thời của Đức Giáo-Chủ Bổn-Sư Giác-Ngộ, thật vi diệu, thật tuyệt đích khó nghĩ bàn, khó tán thán, lưu đến thời nay vẫn còn dấu vết Tam-Tạng-Kinh.
Tam-Tạng-Kinh đang còn giữa thời Hạ Kiếp, tuổi thọ Nhân Loại không đầy 80 Năm trong một kiếp. Thần-Đạo không còn, Ác-Đạo Quỷ-Đạo đã hết vì nhờ tiêu giải sát-sanh. Nhưng MA-ĐẠO thịnh-hành gấp vạn lần của Thời Thượng-Kiếp, MA-ĐẠO khôn khéo, bên trong ĐẠO-PHẬT mượn Tam-Tạng-Kinh diễn nói, bên ngoài Đồng-Bóng làm các Thần Linh.
Dù cho có bậc tu-hành Tín-Tâm chăng, hoặc giả đã tìm đặng CHƠN-TÁNH để tu nơi Tự-Tánh, nương nhờ vào Kinh Pháp chí tâm đi nữa mà chưa tỏ rõ thế nào là Như-Lai-Pháp, thế nào là Phật Pháp, thế nào Bồ-Tát-Pháp, thế nào Chúng-Sanh-Pháp để công-dụng minh định tỏ rõ khỏi nghi ngờ, may ra tránh khỏi. Bằng còn nghi còn ngờ, còn chưa tỏ rõ vẫn bị lâm vào MA-ĐẠO tàn phá.
Đến nỗi có những bậc Minh Chánh tỏ rõ, tỉ mỉ đứng ra Chỉ-Đạo cốt đem đến nguồn sữa tươi nuôi dưỡng các con đang thèm khát, thì Ma-Đạo tồi phá bên trong lập thành ĐỒ-CHÚNG bắt buộc đòi hỏi MINH-SƯ phải tuân theo chương-trình bọn chúng. Chúng nào có tỏ sự Giác-Minh, chúng nào có biết được BỐN LỐI: NHƯ-LAI-PHÁP, PHẬT PHÁP, BỒ-TÁT PHÁP cùng CHÚNG-SANH TU HÀNH PHÁP mà sử-dụng hoàn-giác. Chúng chưa giảm TÁNH-MA, chúng chưa thật hành HẠNH-NGUYỆN, chúng chưa hoàn tất TỰ-LỢI NƠI MÌNH, LỢI-THA NHÂN-LOẠI. Chúng chỉ KIẾN-DỤC chạy theo Danh Giả, đòi hỏi thèm khát sự TÔN-KÍNH bên ngoài mà trở thành như thế.
Có bậc thật Tín-Tâm tu lâu ngày chầy tháng, Trí-Tuệ kém cỏi, Kinh Pháp dẫy đầy thật đáng kính nể ở nơi kho tạng Bảo-Pháp. Nhưng chưa biết sử dụng Lời VÀNG thì kho tạng trở thành vô giá-trị. Chưa biết được nơi linh-động cứu-chữa căn-bệnh mê-lầm, cứ mãi ôm ấp lối NHƯ-LAI-PHÁP mà Thọ Ngã. Khi đã Thọ-Ngã mới công dụng Giáo-Phẩm của mình mà chỉ trích. Chớ nào có ngờ đâu lúc Đức Bổn-Sư Ngài vì kẻ mơ ước Thọ-Ngã SỞ-ĐẮC mà Ngài nói Như-Lai-Pháp: NẾU CHẤP NHẬN MÌNH ĐẮC LÀ CHƯA ĐẮC, cốt làm cho kẻ kia lìa Thọ-Ngã. Đến nay bậc Tín-Tâm đem ra chỉ trích làm cho Tín-Chúng tự hóa MA-ĐẠO đua nhau tiêu-diệt trở thành Tôn-Chỉ Phật-Đạo mất giá.
Từ Thân-Tâm bên trong MA-ĐẠO tàn phá, chỉ vì chưa thật-hành Hạnh Nguyện, chưa thường tu Chủ-Quán Tâm Giác cốt Giác-Tâm đúng với tinh-thần Phật-Đạo, chưa Tỏ-Tánh để nhận rõ BỐN LỐI mà sử-dụng đúng lúc, đúng thời đúng chỗ, thì làm sao tránh nổi sự tàn phá của MA-ĐẠO. Khi tu trì mong mỏi cho mau thành đạo, tâm ý ưa chuộng nghe hoặc nghiên-cứu pháp nào là pháp KHỎI TU mà Đắc-Đạo, còn pháp môn phải tu thì cho đó là MÊ CHẤP, đâu có rõ bậc đã từng rốt-ráo mà mãi thọ chấp Đạo-Tràng. Đức THẾ-TÔN Ngài phải sử-dụng Như-Lai-Pháp cốt làm cho bậc kia Chánh-Giác.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI nói lên Thời Hạ-Kiếp MA-ĐẠO tàn phá PHẬT-ĐẠO cực kỳ nghiêm-trọng, làm cho ĐẠO-PHẬT chỉ còn TẤM-BẢNG DANH-HIỆU, còn bên trong các bậc tu thân-tâm dật-dờ theo Ma-Chúng, đến nỗi Nhân-Sinh phải ứng-khẩu kêu ca là Ma-Giáo, tự sanh nản lòng Bất-Tín, như thế mà hàng Chúng Tăng đa số chưa thức tĩnh, hàng Phật Tử đa số chưa chỉnh-trang, làm cho Nhân-Sinh chẳng nơi nương tựa, chỉ còn mỗi một nước TIN-PHẬT BỔN-SƯ thời Trung-Kiếp.
Nhân-Loại đang đứng trước thời Hạ-Pháp, sự TIN-PHẬT hòa lẫn với Tâm nghi ngờ sợ hãi của Nhân-Sinh chỉ vì Ma-Đạo khuấy nhiễu lộng hành, dù cho có vị Minh-Sư toàn-vẹn cũng khó-khăn đem ban cho mọi kẻ Tròn-Tin. Vì bậc Tín-Tâm cầu đạo hiếm hoi, chỉ có Mến-Đạo, Quý-Đạo,Tín-Đạo chăng nữa, vẫn phải tu nơi tâm Tín-Dụng dò xét. Do đó khó giải mê-chấp, thành-thử Tâm còn chứa đọng Cuồng-Tín hơn Chánh-Tín. Lỗi ấy không phải nơi đâu mà có, bởi lạc-pháp THIẾU-TÌNH mà ra nên nó như thế.
TỰ-TẠI ĐẠI-BI nghiêng mình cung-kính chiêm-ngưỡng đọc-tụng thời Chỉ-Đạo Đức THẾ-TÔN tuyệt-mỹ đúng lúc đúng hồi. Ngài xóa mờ vọng-tưởng điên-đảo, Ngài trấn an giải chấp thường-trụ hay chấp, Ngài khuyến-khích kẻ lười biếng trễ tu, Ngài giải bày siêng năng kém trí, Ngài lại khéo nói lên pháp-môn THIỆN-XẢO trấn tĩnh kẻ đã Thọ-Ngã, kẻ đã chẳng chịu chừa bỏ Ác-Căn. Ngài chỉ-đạo rất linh-động sống động làm cho các bậc tu-hành tránh khỏi chán chê tu tập Nhất-Tâm TRI-ĐẠO, thật khó tán thán cho hết đặng.
Lúc Ngài còn tại-thế, nhân sinh thời ấy nặng về DANH-GIẢ triều cống Vua-Quan, còn thêm nơi đó là mơ ước ảo-huyền nơi THIÊN-TƯỞNG chen lẫn ÁC-ĐẠO THẦN-ĐẠO. Nên chi Thọ-Nghiệp Ác-Căn rất nhiều, thọ-chủng tranh-giành quá lắm, Ngài mới nói lên Chánh-Báo Nhân-Thiên, trừ giải đố-tật tạo lấy Phước-Điền đặng sanh nơi Cõi-Trời mà thọ hưởng, làm cho Tứ-Chúng tin cẩn lìa bỏ Sát-Sanh tiêu giảm Nghiệp-Căn Đố-Tật, gia-công tu tập để thoát Trần-Lao giải khổ. Trong một thời gian Tôn-Chỉnh Đạo-Tràng tầm mức tu-hành đã khá, Ngài mới nói: CÁC PHÁP NHƯ HUYỄN, làm cho Tứ-Chúng chấp pháp chẳng Thọ-Ngã, có chiều hướng tu-tập nơi pháp Thường-Chân. Nhờ tu pháp Thường-Chân mà Sở-Đắc pháp Chân-Thường Bất-Biến. Nên nhận thấy nơi lầm mê diễn cảnh Huyễn-Hóa vốn Thường-Chân trở nên Tâm chẳng Nhiễm, Trí-Tuệ sáng soi các vọng-đảo tiêu giảm lần mà TRI-KIẾN-PHẬT.
Có những bậc tâm tính eo hẹp nhỏ nhen ích-kỷ bủn-sẻn, phát Bồ-Đề Tâm nguyện sau trở thành Tâm rộng rãi, tính dung hòa, lòng Tự-Lợi Tha-Lợi, đó là yếu môn của Giải-Thoát. Có những bậc lười biếng-trễ tu nghi ngờ thường-chấp từng nơi lời nói của mọi kẻ, từng trong công việc hành-sự của mọi người, nay không còn lười biếng, chẳng còn nghi ngờ, Tâm Tự Tại Vô-Ngại, Ngôn-Ngữ khoát đạt, đó chính là Yếu-Môn của Giải-Thoát. Có những bậc kém Trí đặng Trí-Tuệ. Có những bậc Ác-Căn được trở nên Thiện-Căn Phước-Điền, đó chính là Yếu-Môn của Giải-Thoát. Nhờ lối Chỉ-Đạo tuyệt mỹ như thế nên các bậc tu-hành nương vào Chơn-Tánh Yếu-Môn mà hoàn toàn Giải-Thoát.
Ngài lại công dụng Pháp Môn THIỆN-XẢO để trấn-tĩnh từng bậc không làm mất Công-Đức và Quả-Vị của Tứ-Chúng. Từ hàng Nghịch-Hành Bất-Tịnh đến sự Tác-Quái Lộng-Hành thảy đều cho đó là HẠNH-NGUYỆN của mỗi bậc.Thật tuyệt đích thay! Lời THIỆN đối với tinh-thần Tối-Thượng Đại Từ Bi không mất, lời khéo đưa tinh thần Siêu-Đẳng Bất-Diệt Thường-Còn trùm khắp bao-dung tất-cả không thiếu sót.
Ngài lại nói NHƯ-LAI-PHÁP cốt giải trừ THIÊN-TƯỞNG, giải trừ PHIỀN-NÃO, giải trừ THỌ-CHẤP, giải trừ XƯỚNG-DANH, giải trừ KIẾN-DỤC, giải trừ BẤT BÌNH-ĐẲNG, giải trừ PHÁP-GIỚI, PHẬT-GIỚI, BỒ-TÁT-GIỚI, đưa đến Chánh-Kiến Thật-Chứng.
Ngài lại vì Đại-Bi nói Báo-Thân-Phật trang nghiêm NHẤT-THỂ, cốt cho Nhân-Sinh tu đến Chánh-Tín được Pháp-Độ Thành-Phật. Ngài vì tình cứu-độ TAM-THIÊN, cứu-độ LỤC-ĐẠO BA CÕI, cứu-độ Chúng-Sanh thành-Phật Ngài nói lên TỊNH-ĐỘ TÂY-PHƯƠNG, ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ để cho tất-cả Chúng-Sanh lìa NGÃ-TƯỚNG Giải-Thoát.
Thế nào là Ngã-Tướng? – Nơi Ngã-Tướng gồm có: THIÊN-NGÃ-TƯỚNG Giải-Thoát. NHÂN-NGÃ-TƯỚNG Giải Thoát. CHÚNG-SANH NGÃ-TƯỚNG Giải-Thoát, khỏi lầm chấp pháp mà Giải Thoát gọi là THỌ-GIẢ-TƯỚNG Giải Thoát.
Ngài lại rất mong, Tâm Chí hướng-thượng của Ngài, lòng Đại-Bi Hỷ-Xã, Siêu Đẳng bảo-trì Chánh-Báo Thân Phật vẹn toàn nơi Ngài, lưu lại đời này đời sau các bậc Tín-Chúng nhìn theo tấm gương ấy Hành-Sự hay Chỉ-Đạo y như Ngài, từ Tinh-Thần đến Chí-Hướng phải là bậc hoàn-mỹ Tối-Thượng.
Ngài nói: Các Ông cũng nên biết, từ đời này đến đời sau các Ông nên bảo-trì lấy Quả-Vị của các Ông, đồng bảo-trì Chân-Truyền Chánh-Pháp. Khi các ông biết bảo-trì trọn-vẹn đương nhiên các ông thọ-lãnh Chánh-Báo trọn vẹn, nó chẳng khác nào HÌNH với BÓNG vậy. Các Ông Tâm-Chí phải Hướng-Thượng. Muốn hoàn toàn Tâm Chí hướng-thượng phải thật-hành NHƯ-LAI-TƯỚNG lấy tình duy-nhất đối-xử từng bậc ,từng lớp đúng theo tinh thần ĐẠI-BI, ĐẠI-HỶ, ĐẠI-XẢ.
Tinh-thần ấy chính là NHƯ-LAI-TƯỚNG. Nói đến Như-Lai thì không có Tướng, nhưng trùm khắp bao dung, đó là: TƯỚNG NHƯ-LAI. Lại nữa, Như-Lai không có Tướng, nhưng các ông tha thứ lỗi-lầm cho tất-cả, chớ nên bươi móc nói xấu, tranh giành ngôi thứ, địa vị hoặc tranh nhau từng lời nói, giáo phẩm hay kỳ thị Tôn-Giáo làm cho đoạn duyên tu Phật, đó là TƯỚNG NHƯ-LAI. Các ông thật-hành đúng-đắn như thế, đương nhiên lúc các ông hành-sự Phật-sự thì hành-sự Phật-Sự đó, đã nghiễm nhiên THỪA-HÀNH NHƯ-LAI-SỰ.
Bằng các ông là bậc Chỉ-Đạo đương thời Chỉ-Đạo ấy các ông đã thừa hành NHƯ-LAI để chỉ-đạo, chớ chẳng phải các ông chỉ-đạo với Ngã cùng Ngã Sở của các ông. Vì sao? –Vì thực hành như thế, thi-hành như vậy chính là một tinh-thần Siêu-Đẳng căn-bản đồng-hóa Nhân-Sinh lề-lối tối-thượng mà Chư Phật đã làm, nay các ông thừa
hành Như-Lai không thiếu kém. Do chẳng thiếu kém mà đầy đủ Chư Long Thần, Chư Hộ-Pháp cùng Hộ-Pháp Bồ-Tát đến Chư Thiên Chư Thượng Đẳng-Đẳng Thần đều hộ-trì Chánh-Pháp.
hành Như-Lai không thiếu kém. Do chẳng thiếu kém mà đầy đủ Chư Long Thần, Chư Hộ-Pháp cùng Hộ-Pháp Bồ-Tát đến Chư Thiên Chư Thượng Đẳng-Đẳng Thần đều hộ-trì Chánh-Pháp.
Ngược lai, nếu các ông hành-sự Phật-Sự hoặc giả đương trương đứng ra Chỉ-Đạo hãy còn bận tâm Thương-Ghét, mang tâm tranh giành ngôi-thứ địa-vị cùng tranh nhau nơi Ngôn-Ngữ để cốt KỲ-THỊ TÔN-GIÁO, để cho mình tư riêng tự-lợi lấy mình, dù cho các ông có diễn-giải BỐN-TƯỚNG, BỐN-LỐI rành mạch chăng, thì nào có Như-Lai Thị Hiện như vị ở nơi trên đã nói, thì lời nói ấy không phải là lời nói của Như Lai mà là lời nói ấy cương-vị chính là lời của CHÚNG-SANH-TƯỚNG chỉ-đạo.
TỰ-TẠI-TÂM, nói lên lời chân thành rất Tự-Tại, các Ông nghĩ xem: Không bao-giờ tự mình lấy BỘT hòa ĐƯỜNG cho đó là SỮA. Phải tìm cỏ tươi cho bò nó ăn, ăn xong bộ máy tiêu-hóa nơi nó biến chất thành SỮA chừng đó mới thật là SỮA BÒ. Đối với Chân-Lý phải là món ăn thật-thể của các Vị THẬT-TU, thành-tựu Công-Đức Công-Năng Hướng-Thượng ưu-tú Hỷ-Xã thông-đạt, đó chính là một con đường DUY-NHẤT Chư Bồ-Tát đã lần theo vết chân Chư-Phật đặng thành Phật. Phàm phu phải nương theo Hạnh-Nguyện Bồ-Tát mới thành-tựu. Còn về phần nơi ĐẠO-PHẨM các bậc tu hành nên lìa hay nên ở nơi Đạo-Tràng tu tập? Chẳng khác nào kẻ sản-xuất SỮA BÒ, hỏi nên cho bò ăn cỏ hay không nên cho bò ăn cỏ? Con đường ĐẠO-PHẨM rất cần đến sự Tu Chứng thành-tựu quả-vị Niết-Bàn, không hai Tướng, chẳng khác mấy với SỮA BÒ thật-thể vậy.
