GIÁO PHÁP
BÀI THỨ MƯỜI BỐN
BÀI THỨ MƯỜI BỐN
TỨC là Vạn-Pháp đồng in Một. Tuy nhiên Tâm hay Tướng-Pháp diễn-tuồng có muôn ngàn vạn lối, từng Cảnh khác biệt chẳng hạn, nhưng chung gồm đến PHÁP thì có MỘT không Hai hay SAI KHÁC mảy may nào cả. Vì sao? Vì Pháp thời vốn sẵn tánh nó linh-động, sự thuyên diễn của nó không ngừng. Tuy nó là Một, do Tập-Khởi và Chấp-Nhận nơi ngăn-biệt, thành-thử từ nơi Một Bị Biến ra 8 vạn 4000 pháp. Lại cũng từ 8 vạn 4000 pháp đó trở về Một Pháp.
Bậc tu hành đứng về Quân-Bình nhận-xét, thời nó chia ra làm hai pháp: THUẬN và NGHỊCH Pháp. Nơi Bản-Tánh THUẬN-NGHỊCH nó có ẨN và HIỆN pháp. Do lầm nơi phân-biệt đó mà Bị-Biệt trong TƯƠNG-ĐỐI nên BỊ-ĐỐI.
Vì trót mê lầm chấp-nhận nên in-tuồng các pháp thực sai khác với nhau, nên đứng về bên nầy bỏ bên nọ, đứng về tốt là mình mà xấu là Họ. Phải là mình còn quấy là kẻ khác mà trở thành nghiệp TƯƠNG-ĐỐI pháp, gây thành Thuận-Thương Nghịch-Ghét, thù-hận vay-trả không ngừng.
Nói đến NHẤT-THỂ CHÂN-NGUYÊN của pháp, thời nó Viên-Dung cùng khắp Bất-Nhị, không có chỗ chỉ hay nghĩ-bàn nó đặng. Vì sao? Vì NÓ VIÊN-TỊCH SẴN-CÓ BẤT-TĂNG BẤT-GIẢM.
Nhưng vì CHÂN-NGUYÊN ấy, BẢN-TÁNH ấy, lại tự đem nó ra để đặt điều, hý luận chia xẻ nó, bàn-tán nó, nên theo những lời chia xẻ bàn-tán mà tin tưởng ngở là Chân-Thật lầm-mơ cho nơi ấy là Chân-Thật trở thành muôn hình vạn-tượng chạy theo động vọng đó mà cầu hưởng. Nên PHẬT nói nó là: HUYỄN-PHÁP, chớ chẳng chi gọi nó là HUYỄN cả.
VÍ DỤ CÁC PHÁP HUYỂN NHƯ SAU: Có một Vị TRƯỞNG-GIẢ giàu-sang ở vào một khuôn vườn rộng lớn. Vị Trưởng Giả bèn đóng chiếc xe SONG-MÃ cực kỳ lộng lẫy hơn những chiếc xe của dân giả dùng. Nào là bên trong của chiếc xe có ghế cùng màn che, bên ngoài có cửa lớn, cửa nhỏ, hai bên hông xe sơn son chạm trỗ như Rồng-Phụng hay đính các quả Lê lóng-lánh bốn phía xe thật là cực-kỳ sang-trọng. Chiếc xe ấy đem để trong vườn cho nó khô ráo nước sơn sẽ dùng đến.
Trong khi đó, có một nông-dân đi ngoài khu vườn cách chiếc xe hơn hai trăm thước, trực nhìn thấy chiếc xe, liền lầm tưởng là CON RỒNG nằm trong khuôn vườn, hoảng sợ chạy về kêu các anh em trong xóm mà nói rằng:
“Nầy các anh em, Chính mắt tôi đã nhìn thấy trong vườn Ông Trưởng-Giả có một CON RỒNG VÀNG đang nằm cựa-quậy cặp mắt thật to lóng-lánh sáng-ngời, tôi sợ quá về cho các anh em hay chớ nên ra sau khu vườn ấy.”
Các người lối xóm sinh lòng sợ-sệt, cũng có một số tò-mò lén-lút đến xem thử, khi đến gần vườn một là sợ, hai là ở xa mà nhìn. Có người đứng sau xe nhìn thấy, có người đứng đầu chiếc xe mà nhìn thấy, nên có kẻ cho là con Phượng, có người cho là con Sấu, có bậc cho là Con Rồng… rồi cùng nhau bàn-tán trăm kia vạn nọ, nào là Trưởng-Giả giàu có mua đặng con RỒNG, con PHƯỢNG…
Lại tất-cả đồng tin theo việc bàn-tán ấy tự-sanh mơ ước ảo-huyền của sự Đặt Điều mà lầm chấp. Câu chuyện trên đây chỉ vào pháp CHÂN-NGUYÊN mà lầm HUYỂN cũng thế.Tất cả các kẻ vì có lầm nên bị mê, lúc chưa rõ Vạn-Pháp thảy đều bị từ một pháp, thời Vạn-Pháp phải bị. Nếu một không lầm thì Vạn cũng không luôn. Có sự lầm mới động-vọng suy-nghĩ bàn-tán bằng không vọng nào có loạn ?
CŨNG NHƯ: Kẻ lầm uống phải ĐỘC-DƯỢC bị điên-loạn, thì nhìn nơi nào cũng đảo-loạn. Vì vậy nên sự: NGHE-THẤY-BIẾT và tất-cả việc chi làm cũng còn trong vòng sai khác, không thể nào nói là TĨNH đặng. Nếu những bậc tu-hành cứ so như thế để mà tu, thời tự mình đặt nền-tảng đúng-đắn trên việc tu học vậy.
Từ lúc KHỞI-TÍN sau đến TIN vào sự TU-PHẬT, nên bình tĩnh tùy nơi mức hiểu-biết, tùy nơi công-năng tu sửa để cầu tiến bộ. Lúc tự mình quan-sát thấy bớt SÂN-HẬN ấy là lòng Tham-Muốn có phần Giảm, thì trí hiểu biết có phần Tiến-Bộ. Vì thế kẻ tu-hành căn bản là TÂM BUÔNG XUÔI không phiền-trách và sân-hận đó là một lối tu chánh-đáng. Nên xa lìa ẢO-TƯỞNG VỌNG-LOẠN, nguồn-gốc ảo-tưởng vọng-loạn là TÁNH TỰ-CAO, mong pháp SIÊU-HÌNH VIỄN-ẢO, quá sự chân-thật. Chính nó là Nghiệp THAM-MUỐN của MA-TÁNH lộng hành để đưa bậc tu hành tập-nhiễm điên-dại vậy.
Những bậc tu nên thận trọng lấy, một khi hiểu sơ sài chớ cho mình là Hiểu, vì cái mức hiểu-biết rất có nhiều Bậc. Nên nhẫn-nại gạt nó lại một bên cầu hiểu thêm nữa.
THEO LỜI PHẬT DẶN: CÁC ÔNG NÊN CẦM ĐUỐC TRÍ-TUỆ, TÙY MỨC SOI-SÁNG MÀ ĐI, CHỚ NÔN, CHỚ VỘI MÀ THỌ-CHẤP CHO LÀ ĐƯỢC, LÀ ĐẾN MÀ NGUY-HẠI.
Bậc tu-hành càng thung dung bình-dị bao nhiêu lại càng tiến-bộ bấy nhiêu. Chẳng khác nào người đi súc chai cẩn thận không nôn đựng nước quý, chỉ cầu cho sạch-sẽ không còn cặn-bả. Khi đã sạch rồi thì đựng món chi cũng dùng đặng vậy. Bậc tu mà Sạch Nghiệp Đảo-Loạn thời VẠN-PHÁP ĐỒNG-Y sẽ tỏ ngời rực-rỡ. Lại cần thâm-nhập MƯỜI điểm sau để cầu Tỏ Biết:
MỘT LÀ: Nghe thuyết-pháp để rõ Vạn-Pháp Đồng-Y.
HAI LÀ: Xem Kinh PHẬT để tìm CHƠN-TÁNH cùng TINH-HOA của PHẬT dạy để mà tu.
BA LÀ: Không vội Chấp-Pháp, chẳng cho mình là PHẢI, khi chưa sạch lý hiểu-biết mà sanh Tăng-Thượng-Mạng.
BỐN LÀ: Lấy việc tu-hành Đạo-Tràng làm quan hệ hơn lấy lề lối sống ở thế gian làm quan-hệ, miễn là CHÂN-THIỆN-MỸ hoàn lại cho Ta là đủ.
NĂM LÀ: Không vì tiền-bạc hay Thiện-Căn mà thuyết-pháp. Không vì nghèo-nàn hay Ác-Căn mà không thuyết-pháp. Nên thâm-nhập Tâm Bình-Đẳng, nương theo kẻ cầu Pháp mà thuyết-pháp.
SÁU LÀ: Gạt-bỏ tâm tham-cầu TÀI-PHÉP DANH-GIẢ nơi Thần-Quyền, ước-vọng xa-xuôi, viễn-ảo để mau thành PHẬT, thành TIÊN.
BẢY LÀ: Tánh-tình vui-vẻ, đồng kính các bậc tu, không phân-biệt Tôn-Giáo cùng Giáo-Phái, nặng Đại-Thừa chê bai Tiểu-Thừa, khinh khi hoặc xăm xỉa lẫn nhau nào là NỘI-NGOẠI, TÀ-CHÁNH, CHAY-MẶN, NÊN HƯ.
TÁM LÀ: Phát-Nguyện tu đến rốt-ráo tận cùng, nương theo BỒ-TÁT-HẠNH mà tu, Độ-Sanh không ngừng nghỉ.
CHÍN LÀ: THÂN-KHẨU-Ý Kín-Nhiệm, Tâm buông xuôi, thực-hành LỤC-BA-LA MẬT-ĐA.
MƯỜI LÀ: Trí-Tuệ Phá Chấp, Tướng Phẩm Hạnh tu PHẬT phải làm cho trọn vẹn, căn bản đi trong Đạo-Đức để cho mọi kẻ ưa thích, khỏi làm hư Tác Phong mà Đoạn-Duyên Phật-Đạo. Nên lìa Tướng để Tri-Kiến và Giải-Thoát là Duy-Nhất.
Những bậc có Chí mà tu như vậy mới gọi là: TU PHẬT. Bằng chẳng vậy gọi là: Học Pháp-Phật. Vì sao? Vì duy-nhất là cái duyên Độ-Sanh làm cho chúng-sanh Tri-Kiến Giải-Thoát nên PHẬT mới Thị-Hiện. Vì vậy nên ĐỨC THÍCH-CA Ngài mới nương theo sự mê-chấp của chúng sanh phương-tiện thuyết pháp để cỗi-giải nghi-chấp cho chúng sanh, dìu-dắt đưa cho chúng-sanh từ chưa hiểu đặng hiểu, từ lầm vạn-pháp trở lại không lầm một pháp, nhờ tu-tập tỏ-biết sự Đồng-Y của Vạn-Pháp mà đặng cứu-cánh Giải-Thoát vậy.
PHẬT chẳng khác nào: Ông CHA kia cốt đến cứu bầy con ra khỏi nhà lửa TỬ-SANH. Nhưng trái-lại, bầy con nó chỉ vì mê nơi Ái-Nịch muốn kéo Ông CHA nằm luôn nhà Lửa với mình. Do lẽ đó nên Ngài mới thuyết-Pháp giảng-giải đủ các phương pháp 49 năm để đem các con ra khỏi nhà Lửa.
Nếu bậc tu-hành nào mà biết suy-nghĩ như thế, thời chớ nên tu hành mà cầu lấy AN, hoặc quan-niệm Đạo-Phật là một Đạo Vô-Tư hay Tiêu-Cực, hoặc chán đời mà đi Tu-Phật. Dù vô-tình hay cố ý mà sai biệt Bổn-Nguyện, mất nền-tảng Tôn-Nghiêm Quốc-Độ Phật nơi TÂM-MÌNH.
Mặc dù trong lúc nầy đang bị mê mờ trong Giả-Tạo, thành-thử những bậc đang tu còn nhiều Giả-Tưởng, nó làm cho ngăn lối tiến trên đường tu, lại làm cho việc tu-hành biếng trễ, chớ có ai lại đã tu mà không cầu tiến đâu? Cũng như ai ai thảy đều gây tạo đường Thiện, chớ có ai lại cầu gây điều Ác để mà lãnh chịu sự đọa-đày đâu? Nhưng chỉ duy Nghiệp kéo lôi thành thử cầu tốt không đặng, cầu tiến chẳng xong. Đó chính là Căn-Nghiệp ở nơi Điên-Đảo làm cho Tâm không quyết định, hay có quyết-định vẫn phải nghi-ngờ trong thời Mạt Pháp đảo-điên vậy.
Nếu các Bậc tu-hành, hoặc giả đang chực-chờ để mà tu thì nên phá những lối suy-nghĩ như sau, nó làm cho biếng-trễ mà uổng-phí một kiếp CON NGƯỜI đương thời Nhân-Pháp là nơi tu-hành rất tốt.
MỘT LÀ: Nghiệp chần-chờ không dứt-khoát, mà mong-mỏi gặp tu mới đặng Giải-Thoát còn hiện nay tu không đặng Giải-Thoát. Chỉ cầu ích-lợi là có Tu. Đó là GIẢ-TƯỞNG MA-NGHIỆP lôi kéo.
HAI LÀ: Tự mình dìm mình là ngu tối cho là nặng Nghiệp tự sanh buồn chán nên quan-niệm tu cho có chừng để chờ kiếp sau. Có lúc cho lời PHẬT nói kinh sâu-xa, Kín-Nhiệm mà chẳng chịu coi Kinh. Do Giả-Tưởng như vậy mà thờ-ơ chẳng nghe thuyết-pháp.
BA LÀ: Muốn tu nhưng tự so mình tuổi cao tu chẳng đến, hai nữa còn trẻ chưa vội gì tu, hay nghiệp phân chia kẻ tu lâu năm cùng người mới tu chẳng chịu học hỏi nhau, hay Xuất Gia không cầu Tại-Gia.
BỐN LÀ: Cho mình có học-lực, xem kinh khảo-cứu dễ bị chấp trong Văn-Tự mà tu. Cầu Sắc-Tướng hơn cầu Tinh-Hoa nơi Chân-Lý. Cầu Danh Giả hơn cầu lìa Ngã-Danh. Cầu tu cao hơn cầu Tỏ-Biết. Nhận nơi Bị-Biết học thuộc Kinh hơn cầu Tự-Biết.
NĂM LÀ: Chấp-nhận cho mình là tu Chánh, còn kẻ khác là tà, không tìm hiểu pháp-Môn hay sự Hiểu-Biết mọi kẻ học hỏi tu tập, năng chấp-nhận phần mình mà tu, chia-rẽ tranh-giành Bổn-Đạo cho là Xây-Dựng Chánh-Pháp, xâm xỉa soi bói các Tông.
SÁU LÀ: Biếng-trễ tự cho mình là PHẢI, cho mình Hiền-Lành Đạo-Đức hơn kẻ tu. Còn có bậc chờ con cái lớn khôn thời dứt áo ra tu không mấy ngày thành Đạo. Họ tu thì lâu còn mình tu thời mau vì vậy không nôn chi tu vội.
BẢY LÀ: Vì quan-niệm nơi Giả-Tưởng nên tu-hành ưa-thích đọc-tụng hơn nghe thuyết-pháp hoặc xem nghĩa Kinh. Còn gặp đặng Thầy chỉ bày để tu, thời tu nhìn Thầy hơn là Tự sửa mình. Chẳng gạt bỏ đố-tật tu lại sanh chán-ghét bậc nọ kẻ kia trong Bổn-Đạo.
TÁM LÀ: Tu cầu Phước giàu sang, miệng đọc tụng Sám-Hối mà Tâm chẳng Cải-Hối. Biết nói điều lành mà không làm lành. Lúc nghe Thuyết-Pháp thì buồn ngủ thờ-ơ biếng-trễ.
CHÍN LÀ: Tu ưa-thích mê-tín dị-đoan hơn là tìm hiểu để Tỏ-Tín, Bê-Tha hơn Tinh-Tấn, nói Lý hơn Sự làm chỉ-trích hơn Tự tiêu bỏ Nghiệp, Tự ái hơn là lìa dẹp Tự ái, muốn kẻ khác nghe mình hơn là mình đi nghe kẻ khác.
MƯỜI LÀ: Tự-cao cho mình biết hơn ai hết, ngạo mạn chê Tăng, không Tin PHẬT. Khi gặp điều khổ thời kêu Trời than Phật, lúc ai động đến việc tu-hành thì cho họ là Mê-Tín, còn hay khoe khoang tài mình miệng nói Đạo-Đức để lừa kẻ khác đặng cười chê lại cho là PHẬT ở trong Tâm Mình.
Mười điều trên nó chính là đảo loạn cùng phờ-phỉnh, làm cho bậc muốn tu khó dứt ra để mà tu. Còn bậc đang tu bị ngăn cách vì Giả-Tưởng. Đó cũng gọi là Nghiệp ngăn-phân Ma-Tánh đưa đón làm cho con đường Đạo xa cách. Vì vậy khuyên các Bậc tu-hành nên có sự Quyết-Định mà Tự PHÁT BỒ-ĐỀ-TÂM mà tu. Nếu tu đặng một ngày tức là một ngày có tu còn hơn không tu vậy, đặng làm cho các Giả-Tưởng và Nghiệp mau giảm, mới cầu Tỏ-Biết Vạn-Pháp Đồng-Y.
Bậc tu-hành cần phải suy-nghĩ rằng: Tất-cả các Giả-Tưởng cùng Nghiệp-Thức cũng do mình tạo mà TỰ-MÌNH mắc phải, chớ không AI bắt mình phải mắc cả.
Dù bậc trên trước là: THẦN-TIÊN hay THÁNH-PHẬT cũng chẳng thể bắt mình đặng thay, huống chi là NGHIỆP?
Đó chính là những điều đáng nghĩ để tự chọn lấy một lối tu-hành vững-chãi, Tâm-Địa Chơn-Chánh, nói năng ngay thẳng sẽ đến nơi chốn theo sự mong-muốn và sở-cầu vậy. Nên chi các bậc tu-hành hiện đang ở Thế-Gian nầy có đủ điều-kiện cho sự lựa chọn mà tu. Muốn tu TIÊN-THẦN liền đặng thành Tiên-Thần. Muốn tu Tri-Kiến Giải-Thoát của THÁNH-PHẬT liền được như Ý-Nguyện. Vì lẽ đó nên Đức THÁNH-MINH Ngài nói:Ai là kẻ bắt mình? Chính mình tự bắt lấy Mình. Ai đem mình vào Địa-Ngục? Chính mình tự đem mình vào Địa-Ngục vậy. Ai nâng mình lên ngang hàng với PHẬT THÁNH TIÊN? Cũng chính tự Mình đưa Mình. Đó chính là những điểm TỰ-TÁNH trong con đường tu-hành nên ghi nhớ.
Về đường tu PHẬT các bậc nên có chí PHÁT-NGUYỆN là mục-đích tu đến nơi Sở-Nguyện và cũng cần Siêng-Năng Kiên-Dũng để tiêu dẹp các GIẢ-TƯỞNG Vọng-Loạn. Khi Giả-Tưởng cùng Vọng-Loạn tiêu giảm bao nhiêu thì Trí-Tuệ lại tiến bấy nhiêu. Đó chính là Phá-Bờ Ngăn-Chấp. Bằng tu mà chẳng dẹp bỏ hay Phá-Chấp thì không đặng chi cả. Vì sao? Vì mê lầm nó cứ bao-trùm lớp lớp, cứ mỗi một Pháp thời có một Bờ-Ngăn, từ Một đến Vạn-Pháp thì cũng từ Một đến Vạn Bờ-Ngăn. Khi đã tu nên đi ngược trở lại mà tiêu dẹp phá các bờ ngăn-chấp ấy đặng trở lại một pháp cũng không, liền đặng Tri-Kiến Giải-Thoát.
LẠI NỮA: Nên thịnh-trọng về sự hiểu biết, về trình-độ tiến triển trong lúc tu-hành. Nó chẳng khác nào kẻ nhồi Đất để nắn khuôn Tượng vậy. Càng mềm dẻo các pháp Tỏ-Biết bao nhiêu lại càng quý bấy nhiêu, chớ vội cho được hay đắc mà mang họa.
LẠI NỮA: Nên thịnh-trọng về sự hiểu biết, về trình-độ tiến triển trong lúc tu-hành. Nó chẳng khác nào kẻ nhồi Đất để nắn khuôn Tượng vậy. Càng mềm dẻo các pháp Tỏ-Biết bao nhiêu lại càng quý bấy nhiêu, chớ vội cho được hay đắc mà mang họa.
Nên chi: Tu là một việc, Hiểu là một việc, Biết là một việc, Tri Kiến và Giải-Thoát là một việc, Viên-Thông là một việc. Viên-Mãn là một việc. Chớ chẳng phải tu là Giải-Thoát. Chớ chẳng phải Tri-Kiến Giải-Thoát là Viên-Thông. Chớ chẳng phải Viên-Thông là Viên mãn.
Do những điểm trên nên mới có TU-CHỨNG từng lớp, từng Bậc và cũng nương nhờ Khởi-Tâm Phát-Nguyện rộng lớn hay nhỏ hẹp mà thành-tựu Thứ-Lớp vậy.
CŨNG VÍ NHƯ: Một TRƯỜNG-HỌC kia là nói chung. Nếu nói riêng thời nó chia ra nhiều lớp học. Từ lớp Năm lên đến lớp Nhất. Mà mỗi một lớp như vậy thì các môn học cũng như nhau, nhưng Toán của lớp Nhất không phải là của lớp Năm làm được. Còn mỗi một lớp như thế thì có nhiều trò sắp thành thứ lớp của trình-độ học, như có trò lực học đứng Nhất, lại có trò trung-bình và Thứ-chót chẳng hạn.
Việc tu-hành cũng vậy. Tuy rằng ở cùng nhau một Chùa hay cùng gặp nhau tu-tập một Thầy, nhưng năng-lực công-phu thảy đều cao-thấp thứ-lớp. Đó là do tại ai? Do tại Nghiệp NGHI-CHẤP mà thành.
Do lời PHÁT-NGUYỆN rộng hẹp mà đến. D0 KHÔNG TIN vào đường TU-PHẬT đặng Giải Thoát hiện-tại. Nói chung lại do NGHIỆP-THỨC Năng-Phân và BỜ-NGĂN Chấp-Pháp.
VÌ SAO GỌI LÀ BỜ NGĂN CHẤP-PHÁP?
Vì BỐ-THÍ TRÌ-GIỚI TINH-TẤN, tự nhận tu như thế là pháp môn Giải-Thoát, chớ nó chẳng phải là pháp môn Giải-Thoát. Nó là: Bố-Thí Trì-Giới Tinh-Tấn mà thôi.
-NHẪN-NHỤC TRÍ-TUỆ THIỀN-ĐỊNH, tự nhận tu như thế là: pháp-môn Giải-Thoát, chớ nó chẳng phải là pháp-môn Giải-Thoát. Chính nó là: Nhẫn-Nhục Trí Tuệ Thiền Định thôi.
-BI-CHÍ-DŨNG GIỚI-HẠNH-NGUYỆN hay ĐẠO TRÀNG HẠN-LƯỢNG hoặc ĐẠO-TRÀNG VÔ-HẠN-LƯỢNG, tự nhận tu như thế là Pháp-Môn Giải-Thoát. Chớ chính nó là: Bi-Chí-Dũng Giới-Hạnh-Nguyện hoặc Đạo-Tràng Hạn-Lượng hay Đạo-Tràng Vô Hạn-Lượng mà thôi. Chớ chẳng phải là Pháp Môn Tri-Kiến Giải-Thoát vậy.
THẾ NÀO LÀ PHÁP MÔN TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT?
Tu-hành không thiếu PHẨM-HẠNH trên, chẳng chấp-nhận gìn-giữ một HẠNH nào làm của mình. Đó chính là Pháp-Môn Tri-Kiến và Giải Thoát.
CHẲNG KHÁC NÀO: Kẻ kia đi mua sắm các phẩm-vật nguyên-liệu không thiếu sót để đóng CHIẾC TÀU. Các phẩm-vật mua sắm đó là làm các HẠNH không thiếu-sót. Khi đã mua xong, đóng thành một chiếc TÀU để đưa đến bên kia BỜ CHÁNH-GIÁC, thời Chiếc-Tàu nọ chính là TƯỚNG của GIẢI-THOÁT và VẠN-PHÁP ĐỒNG-Y cũng thế.
NAM-MÔ PHÁP-TẠNG HỘI-THƯỢNG-PHẬT
