TƯ-TƯỞNG ĐỐI VỚI PHẬT-ĐẠO

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 12

     TƯ-Tưởng với Phật-Đạo, Tư-Tưởng là nguồn-máy khởi-điểm phát-hiện, do Cảnh sanh Tình nó phát-hiện đủ hình-thức. Những bậc Đại-Trí, Đại-Căn biết sử-dụng các tư-tưởng, nương nơi Tư-tưởng truy-tầm tỏ-tánh, gọi là: Nương nơi Vạn-pháp tỏ-pháp. Phật-Đạo không chấp-nhận tư-tưởng làm nơi Giác-Tưởng, chỉ lần tu-đạt Bát-Nhã-Trí, Điều-Ngự tất-cả Tư-Tưởng mà Chánh-Giác.

 Đạo-Phật mới cho Tư-Tưởng là Duyên-Khởi, Duyên-Khởi đứng trên thế giới con người công nhận diện thì nó phát-sanh vô-cùng tận, gọi là trùng-trùng duyên-khởi, trở thành Biển-khổ sóng-cồn. Duyên-Khởi giao-tế từng giai-đoạn không ngoài Sanh-Diệt, tất cả lầm-lạc nơi tư-tưởng, bị đổi Cảnh thay Tình, cái sống Sự Sống vẫn đi trong cơn mê hoài-vọng tưởng-vọng, không ngoài Sắc-Thinh Hương-Vị để mà Sống, trong sự sống hòa với Cái Sống, có lúc đồng, có khi bất-đồng liền dị-tưởng chướng-đối, nên mới có chỗ Thuận và Nghịch, gọi là PHÁP GIỚI Tử-sanh.

 Những bậc tu Đại-Căn, lướt qua từng bối-cảnh do tư-tưởng thành hình, làm căn-bản sáng soi căn-nghiệp, nghiệp-chướng, căn nghiệp nghiệp-lậu và kiết sử, cốt tường-tận pháp-giới, tỏ-tường con đường lầm-lạc của Tư-Tưởng, thì tư-tưởng kia làm ngọn đuốc Trí-Tuệ. Khi thật tỏ-rõ nó không còn là Trí-Tuệ, liền thâu-đạt Giác-Trí tu về Như-Trí, nó là con thuyền Bát-Nhã vậy.

 Bằng phàm-phu chưa hiểu thể-cách công-dụng tư-tưởng, thường chìm-đắm nơi Tư-Tưởng Thọ-Ngã, phát-sanh Tự-Hào Cá-Nhân, cá-tánh căn-nghiệp, gây-hấn tự gây tạo nhiều phiền-não chính Bản-thân mình chưa hiểu lại ai-oán kẻ thân-cận, ràng buộc lấy mình mà không hay biết, trở thành lối sống đầy hoàn-cảnh gai-gốc, vô tình hoặc cố ý hiện-tại chính thân-tâm mình bị sanh nơi mờ-mịt. Đối với bậc Đại-Trí rất tường tận sự lầm-mê của hoài-vọng, sự chìm-đắm trong tư-tưởng bị sanh nơi hành-động nên thân-mạng con người có từng lớp lớp, càng cố thoát-sanh không đặng sanh-thoát.

 Tư-Tưởng thường phát-sanh nhiều lối, nhiều ngành, nhiều ngõ từng lớp con người, nó tài-trợ cho con người nhiều hiểu-biết rộng-rãi khoát đạt, tùy-thuận nơi mỗi người hành-sự. Có người thường nghiên-cứu học hỏi đến mức-độ trí-hóa thông-minh, nơi thông-minh lại chia ra nhiều ngành Đạo-Đức hoặc Phi Đạo-Đức, đặng làm bậc siêu-nhân hay Ác-Quỉ, cho đến thường tưởng Định-Tưởng mà thành Tiên Thần hay Thánh-Tăng.

 Đối với Tư-Tưởng không thể từ-chối hay vớt bỏ, có lắm bậc từ-chối tận-diệt tư-tưởng, lại vương vào nơi Định-Tưởng, có nhiều kẻ tiêu trừ động-vọng lại hứng chịu Tịnh-Vong. Tư-tưởng thường-tưởng định-tưởng không-tưởng vẫn bị Tưởng Không. Tư-tưởng là vòng-đai Sanh-Tử, nó không khác mấy với chiếc máy Ghi Âm, mỗi một khi thâu tiếng nói hay những bài ca hát, lúc phát-thanh thì lời nói kia không ngoài dư-âm tiếng điệu. Khi con người bị biết đến Định-tưởng tỏ biết không ngoài cái biết trong tư-tưởng. Chỉ trừ ra thực-hành đến chỗ Trực-Biết mới là nơi Như-Nhiên Chân-Biết.

 Sự Thông-minh nó có từng giới của con người, mỗi một người đang sống nơi hướng định nghề-nghiệp Mưu-Sĩ, Giáo-Sĩ hoặc Đạo-Sĩ cùng Bác-sĩ đến Vĩ-Nhân, còn bậc Đại-Căn Đại Trí tu cầu Tri-Kiến Giải-Thoát thời tâm-chí hướng-thượng, thu-nhiếp tất cả tư-tưởng tỏ ngộ lớp lớp tư-tưởng, đạt Giác-Chân thành Chánh-Giác.

 Đức Thế-Tôn Ngài thật biết, còn Biết hơn thế nữa. Ngài nói: Tư-Tưởng chung khắp trong Ba Cõi và Sáu Đường đến Tam-Thiên Thế-Giới, lẽ-sống không ngoài tư-tưởng điều-động đường dây Sanh-Tử, nên mới có Thiên-Tưởng, Nhân-Tưởng cùng Chúng-Sanh-Tưởng. Tất cả thảy đều bị nơi Thọ-Giả-Tưởng, chạy vòng trong Tam-Giới, di-chuyển thay đổi Diệt-Sanh chia thành Chủng-Tánh như Chủng-Tánh Chúng-Sanh-Tánh, Chủng-Tánh Bồ-Tát-Tánh cùng Chủng-Tánh Phật Tánh. Từ phát-hiện Tư-Tưởng đến suy-đoán-tưởng, hành-động các Sự-Việc, từng mỗi giới có tác-động nơi tư-tưởng khác-biệt nhau, nhưng thể-tánh đồng tư-tưởng, nên gọi là Tướng sai khác với các Cảnh mà đồng với tướng thấy. Đức Thế-Tôn Ngài rất tường-tận, tư-tưởng phát huy, tư-tưởng cố-định trở thành cảnh giới ước-ao, ao-ước niết-bàn do tư-tưởng mà thọ-sanh trong tư-tưởng, nên Ngài nói 62 kiến chấp để làm kim-chỉ-nam, cho các bậc tín-tâm tu-cầu giải-thoát khỏi lầm-lạc tư-tưởng vọng-loạn.

 Đức Bổn-Sư, Ngài tinh-vi khéo-léo vô-thượng Chí-Tôn, Ngài sáng soi tư-tưởng khắp cả Tam-Thiên Đại-Thiên thế-giới. Ngài công-dụng Túc-Mạng-Thông, Thần-Túc-Thông tận suốt Nghiệp-Lậu từng chúng sanh-giới, tận tận tư-tưởng thần túc chưa thông phải lầm-mê nơi Giả-Tưởng an-trụ nơi sanh-tử. Nếu không dùng Tưởng thì chúng-sanh chưa lấy đâu nương-tựa. Ngài bèn chỉ dạy PHƯƠNG-PHÁP TƯỞNG-PHẬT và cho NIỆM PHẬT, thật tuyệt-tác thay một diệu-dụng cứu-độ tận-độ của Tưởng-Phật Niệm-Phật với tu Thiền-Tọa cốt ổn-định tư-tưởng, giúp-đỡ cho tất cả đang chìm đắm Tối tưởng, loạn-tưởng trở về với Sáng-tưởng Niệm-Phật mà đến Giác-ngộ.

 Trong thời nầy đa số tin Phật, tín-tâm tu hành Pháp-Môn Niệm-Phật cùng Tưởng-Phật, với pháp-môn Tu Thiền. Nhưng hai môn đều sai lạc phương-thức của Tâm-Truyền tế-nhị của pháp-môn khó mà thành-tựu, khó tu-đạt đến đích. Vì sao? Vì Niệm Phật, Tưởng Phật. Phải TƯỞNG MÀ KHÔNG-TƯỞNG Giải-Thoát.

THẾ NÀO TƯỞNG MÀ KHÔNG TƯỞNG GIẢI-THOÁT ?

     Niệm-Phật chiêm-ngưỡng Tướng-Phật, tâm không trụ nơi Tướng, chớ trụ nơi vọng-tưởng xấu-xa đen-tối cốt về với tư-tưởng Từ-Bi Hỷ-Xã hướng-thượng Di-Đà, được gọi là Tưởng mà Không-tưởng Giải-thoát. Còn pháp-môn Tu-thiền Định-tưởng mà không có Hướng-Định Giải-Thoát.

THẾ NÀO ĐỊNH-TƯỞNG MÀ KHÔNG HƯỚNG-ĐỊNH GIẢI-THOÁT?

     Thiền-Tọa xã hết Tư-tưởng hướng nơi Nhập-Thiền, đưa vào Tịch-Tịnh-Tưởng an-nhiên Tịch-Tịnh-Tướng của Nhãn-Tạng, sáng soi các tư tưởng diễn-đạt mà soi Vạn-Pháp. Do nơi Cấu mới Tịnh, đến không Cấu Như-Nhiên-Tịnh, không tưởng tỏ thấu Pháp-Giới tư tưởng pháp-thân, đến không-tưởng vẫn là Pháp-Giới-Tưởng, tỏ-tánh thường-chân, an-nhiên Giác-trí về Như-trí, đó mới đặng ngồi yên Thiền-tọa, nên gọi là Định-tưởng mà không Hướng-Định Giải-Thoát. Bằng Tu-thiền theo Vọng-tưởng, Thường-Tưởng không Giác-Tưởng, trụ nơi loạn-tưởng đều là lạc hướng, bị sa vào Ma-Đạo chớ chưa phải Như-Lai-Thiền Giải-Thoát.

 Tư-Tưởng với Phật-Đạo nó khó là lúc lầm sai chưa lối thoát, lúc mong đợi cho Tư-Tưởng hóa-thành phải sa nơi Định-Tưởng đảo-điên, không chấp vẫn bị chấp. Cho đến nỗi một Vị Thượng-Tọa Thiền-Sư, khi tỉnh-ngộ tư-tưởng quan-niệm nơi mình mà hương-đăng sám-hối, trong Công-Đức Tiềm-năng Tín-Thành Tự-Sám như sau:

 Bạch Thế-Tôn!

 Con thật lầm-sai ngu-dại phân-đối Phật-Pháp có lớn, có nhỏ, có cao, có thấp, thật ra Phật-Pháp không lớn, không nhỏ, chẳng cao không thấp, miễn Trực-Giác Quân-Minh Phật-Pháp Bình-Đẳng.

 Do nơi dại-dột như thế, con mãi truy-tầm qua nhiều phương-pháp, con nào chú-ý đến lời căn-dặn của Đức Chí-Tôn, con tu đủ muôn ngàn nơi lầm-lạc, năng-sở ham-cầu, chọn xem rất nhiều kinh-điển để nhận lấy cao-siêu cảm-giao Phật-Độ, thật ra con nào có tỏ-rõ là bao, đến nỗi hằng đêm tu-cầu kinh sám-hối cốt giải-nghiệp vương trong thân-mạng, con tự nuôi hoài-vọng kỳ-mong hơn là Thực-Tiễn Bản-Thân hóa-giải, cho nên con tu nơi mơ-màng lạc-lỏng bơ-vơ, định-hướng làm an-vui con đường Tu-Phật Tín-Thành Chiêm-Ngưỡng cốt giải nỗi lo âu chưa lối-thoát. Chính con rất bối-rối, bản-năng tự soi còn dẫy-đầy nghiệp, con càng cố Tu-Đạt bao nhiêu lại càng lạc-hướng, con càng xa-lìa bấn-loạn thời mãi rối-loạn đuổi theo thân-tâm.

 Thế rồi con xa ngôi chùa chỉ vì con nhận thấy ngồi yên không nơi thoát, ra đi con vẫn cảm-mến, in tuồng mất cái gì yên tĩnh của lòng con, con tự sống chung trong rừng sâu, cầu mong thoải-mái, cốt nương-tựa thiền-môn làm một Vị thầy-thuốc cứu độ, làm như thế, tu như vậy, con tự chọn chương-trình Bố-Thí, Trì-Giới chủ-đề, ngoài ra Tọa-Thiền kê-kiểm, con làm một thời-gian, con chỉ vui với tất-cả những người an-vui do bàn tay con xây-dựng, con làm cho tất-cả những người xung-quanh con đặng an-lành, con sung-sướng trước sự an-lành của Pháp an-lành giúp họ, con chưa ổn-định khi dân-chúng âu-lo bệnh-hoạn, con lại nhẫn-nhịn tất-cả hoàn-cảnh chính con không bao giờ Kiến Tạo, con chỉ lướt qua từng cơn lung-lạc của những người xâm-xỉa mà không phiền-trách, con tự cho đó là Phép Bố-Thí, lòng con Trì-Giới không xâm-phạm.

 Bạch Thế-Tôn! Con không ngờ:

BỐ-THÍ, TRÌ-GIỚI LÀ PHÁP-MÔN GIẢI-THOÁT.

 Tuyệt-tác thay! Lời Vàng của Bậc Vô-Thượng Chí-Tôn, con không ngờ chỉ một ngón tay nhẹ khẻ, lời chỉ-giáo lại đưa cho tất-cả Nhân-Loài Thiên-Loài trong Tam-Giới thực-hành đồng-sự đồng-hành với Như-Lai mà chúng con thường đọc tụng: Như-Lai Vô-Biên Thề-Nguyện-Sự. Con không ngờ BỐ-THÍ chính là một pháp-môn đồng-Sự Đồng-Hành, nhiếp-độ đặng tất-cả Như-Lai-Thể, đưa đến cho chúng con đặng thọ-ký an-lành của Như-Lai.

 Bạch Thế-Tôn!

 Phải chăng Pháp Bố-Thí chia ra làm Ba PHẨM, mỗi một Phẩm tác-dụng mang lại cho chúng con quá nhiều sự lợi-ích vô kể khó nghĩ bàn. Theo con đặng biết: Phẩm Tài-Thí là nơi Đồng-Hóa thân-tâm chia cách, ảnh-hưởng do nơi tham-vọng Sắc-Hương, nên dùng Tài-Thí để Hỷ-Xã thân-mạng mình, không ích-kỷ vị-kỷ tham-lam khinh-rẻ. Trái-lại dụng Tài-Thí vừa thương lấy mình cùng thương chung tất-cả mọi người đang đói-khổ, lại cứu-độ tận-độ hoàn-cảnh ngặt-nghèo, kiến-tạo Đức-Độ giữa hai bên Chúng-Sanh và Như-Nhiên Thị-Hiện Sắc-Thân Phổ-Chiếu chăng?

 Thượng-Tọa Thiền-Sư vừa sám đến đây, đôi mắt thưa cầu đầy lòng thành-kính, bát trầm-hương buông-tỏa màu xanh trắng bay cuộn hư không, quay-quần in tuồng chấp-thuận nơi lòng ái-kính, Thiền-sư êm-lặng chờ đón phút thiêng-liêng. Thượng-Tọa Thiền-sư thưa sám tiếp:

 Bạch Thế-Tôn!

 Lời thưa gởi nơi con không khác với hạt vi-trần đang đứng trước hư-không vô-tận. Con không ngờ Tài-Thí là một môn duy-nhất, cúng-dường an-vui cho tất-cả chúng-sanh-giới, lại Ứng-Cúng Trang-Nghiêm Quốc-Độ, ngày sau đặng thừa-hưởng nơi nhân-thiên đạo-đức, làm cho Chư-Thiên kính nể uy-Đức vô-cùng. Đến giai đoạn con nhìn đến Bảo-Phẩm Pháp-Thí cực kỳ không thể nào nói. Vì sao? Vì chỉ có Đức Ngài mới nói nổi, chính con nương nơi Công-Đức Như-Lai thừa-hành pháp-thí, nên con không thể nói lên lời Pháp-Thí của con.

 Bạch Thế-Tôn!

 Con thật quá ư lầm-lẫn ngu đần dại-dột, con đã khoác chiếc áo Đạo-Đường, dùng tất-cả ẩm-thực của Như-Lai cung-cấp, con thường hay xem và hay nói. Con thường hiểu đôi lúc hiểu không, tựa như kẻ tay cầm chiếc đèn dầu nhỏ đi trong đám rừng sâu, con nào hay biết con chỉ là kẻ học đòi. Thế mà con đã lầm nơi Tự-Ngã để Pháp-Thí, Tự-Ngôn để giải Pháp-Thí, tự-hào nơi Pháp-Thí, trở nên tình trạng loạn-thí. Do nơi lẽ ấy mà tất-cả lời nói nơi con Tín-Chúng chưa lãnh-hội đặng. Vì sao? Vì Pháp tùy-căn để thí-pháp, còn con lại vì ngã để thuyết-ngôn. Lại nữa, Pháp-Thí nó không trên, chẳng dưới, không trong ngoài, như nhiên pháp-thí, để cốt hóa-giải nơi lầm-lạc, vì nơi nhân-tưởng, thiên-tưởng, chúng-sanh-tưởng bị trong vòng thọ-giả mà thuyết-pháp.

 Bạch Thế-Tôn!

 Con Kính nơi lòng chân-thật, nơi tâm-ý thiết-tha, nơi lời như-nhiên tự thốt mà thưa gởi, phải chi con nhận chân giá-trị, con thật tỏ bản-năng, con tự-tôn thừa-hành Phật-Tướng thị-hiện thân-tâm giải-bày Pháp-Thí, cốt làm lợi-ích chúng-sanh khởi tâm cầu-đạo, thời con đã đem tất-cả tâm-chí thân-mạng cúng-dường mới gọi là Pháp-Thí, mới tận thấu duyên căn do nơi vạn triệu duyên-khởi mà nâng-đỡ Phật-Đài. Tạm thời đại-diện Phật-Pháp, cốt làm sáng tỏ Như Lai Phật-Tướng, kết chung không ngoài Pháp-Thí. Nói đến đây Thượng Tọa Thiền Sư đảnh lễ ba lễ, đâu đó xong-xuôi ngồi lại yên-lành, liền thưa sám:

 Bạch Thế-Tôn!

 Con tận thấu vạn-pháp chẳng có chi, nhưng hữu-sanh thời hữu-vật, hữu-tướng liền hữu-ngôn, hữu-tồn liền có trữ, đó chính là Như-Nhiên nơi vạn-pháp kéo lôi, Thiện-căn liền Phước-Báo, Hạ-Kiếp phải lưu-đày. Con chưa bao giờ tận thấu nơi Vô-Úy-Thí là chi. Con mãi tu trên sướng khổ nhục-nhằn, mãi qua vạn-pháp tâm không hờn oán, củng-cố khép mình trong Thiền Ngôi làm nơi Trì-Giới. Sự trì-giới, ban đầu con đang trì-giới thọ-trai, thực-hiện ngũ-giới thập-thiện, cốt Cầu Tri-Kiến. Con nương nhờ nơi Trì-Giới mới soi lại Bản-Thân, soi cùng nghiệp-cấu, con nương nhờ Trì-Giới mới giải nổi tập-khí, tâm-hành thung-dung không mang vào lòng những điều ẩn-trắc, con nhờ Trì-Giới đứng trước sự việc xảy ra con mới ngự trị lòng con mà nhẫn-nhục sáng-soi, kế-tiếp phát-sanh Trí-Tuệ hóa-giải.

 Bạch Thế-Tôn!

 Con đã xa ngôi Chùa con thường gọi đó là Thiền-Ngôi, chưa trọn-tình đồng-hòa nơi Tứ-Nhiếp, về nơi Thiền-Môn chung sống với mọi hoàn-cảnh trái-ngang, tâm không tự-ngã của nhân-thiên hay thiên-thừa đạo-hạnh. Trước khi con bước ra cổng chùa, con tự-nguyện dù cho hoàn-cảnh như thế nào, thân-mạng sẵn sàng cúng dường ngôi Tam-Bảo. Thế rồi một thời gian con không ngờ, chưa bao giờ ngờ được, chính nơi hoàn-cảnh từ thế-gian đến xuất-thế-gian, lăn-lộn xâm-chiếm thuận-nghịch diễn hành, bậc Tu-Hành lướt qua từng pháp-giới Tâm vẫn an-vui, vì chính mình đã từng Vô-Úy-Thí.

 Bạch Đức Thế-Tôn!

 Sao mà tuyệt-tác như thế? Sao sự-việc khó nghĩ bàn, phải chăng sự-việc mà thế-gian xuất-thế-gian chưa làm đặng, ngày nay Chân-Phật-Tử phải làm để nương vào Bất-Khả Tư-Nghì, qua vạn-pháp Tâm không quái-ngại, vào vạn-cảnh lòng chẳng oán-hờn mà chung cùng với Như Lai Vô-Úy-Thí. Phải chăng Tiềm-Năng chủ-lực tối-thượng mà Chư-Phật đã từng trải qua, ngày hôm nay con mới đi qua am-tường thức-tỉnh.

 Thượng-Tọa Thiền-Sư vừa Bửu Sám xong ngồi yên tỉnh. Các loài chim Sơn-ca mừng hót, cây cảnh chung quanh chào đón Bóng Hoàng-Dương, in tuồng hòa-đồng với những lời của Thiền-Sư đã từ Giác-Chân thực-hành thuyết-minh Trực-Giác.

Kỷ-Niệm ngày Vía ĐỨC ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ

TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN

PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam