GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 29
DO Như thế nào TƯ-TƯỞNG đại-diện Linh-Hồn?
Vì tất cả Nhân-Sinh Tứ-Loài sống không ngoài Tư-Tưởng. Tư-Tưởng làm bá-chủ hoàn-cầu, cho đến Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới chung khắp vũ-trụ, nếu không nương theo tư-tưởng thời không thể nào có cái sống, tuy nhiên tư-tưởng nó có sẵn sự-lý vui-buồn sướng-khổ được mất, nhưng không thể nào mất hẳn tư-tưởng làm nơi sống cho con-người đặng.
Nói đến dòng tư-tưởng thường Tư-Tưởng là tư-tưởng, còn Linh-Hồn là Linh-Hồn, chớ chẳng thể nói tư-tưởng là linh-hồn đặng. Khi dòng tư-tưởng phát-huy có hệ-thống, sáng-suốt gọi nó là trí-tuệ, chậm-chạp đen tối, lầm lẫn cho nó là ngu-xuẩn, thành thử mới có trình-độ, chia ra giai-cấp, cấp nào dùng tư-tưởng theo giai-cấp đó, trình-độ đạo đức hoặc phi-đạo-đức thảy đều sử-dụng, tuân-hành tư-tưởng của mình mà phát-hiện, thật khó mang tư-tưởng của giai-cấp nầy sang trình-độ kia mà sử dụng, chỉ trừ ra tâm-chí bản-năng của mỗi con người, tự chính mình phải cấu-tạo, huân-tập một thời-gian làm cho tư-tưởng lành-mạnh, mới sử-dụng được mà thôi, bằng cố ép giúp-đỡ trong khuôn-khổ nào chăng vẫn đều là kém phần kết-quả như ý đặng. Vì-sao? Vì mỗi một tư-tưởng, nó có một bản chất độc-lập nơi nó, một khi con-người cố-định mấy ai giải-tỏa được nó, duy chỉ có con-người đang mang chỗ cố-định tự giải-tỏa là xong.
Phật-Đạo không công-nhận Linh-Hồn, chỉ chấp-nhận tư-tưởng lầm-lạc, vọng-khởi đảo-điên, nếu tư-tưởng trừu-tưởng buông-lung, gọi nó loạn-tưởng. Từ nơi toàn-diện lầm-lạc đảo-điên không kiểm-chứng tư-tưởng của bản-thân mình, mãi lao theo loạn-tưởng, phục-vụ vọng-tưởng, mong cầu loạn-tưởng trở thành nơi chân-thật, chẳng bao giờ đến chân-thật, thành thử mới có chỗ giả-tạo. Nếu tư-tưởng giả-tạo thì sự việc phải thay-đổi, đổi-thay theo nhịp-nhàng tư-tưởng khẳng-định, trở thành tạm-bợ nơi mức sống của Tứ-Loài nói chung, nhân-sinh nói riêng từng cảnh-giới đều sanh-tử luân-hồi thay đổi. Do đó nên chi Phật-Đạo nói: Vạn-Pháp Như-Huyễn Hóa. Đời là một giấc-mơ, phải tu-cầu giải-thoát nơi mơ-vọng về với Chân-Tôn chứng-trụ.
Còn đứng về phần Nhân-Sinh Tứ-Loài công-nhận có Linh-Hồn cùng xác-thịt. Có Tâm-Linh báo-ứng sự linh-cảm, thiêng-liêng, ngoài ra tận-dùng Tâm-thức truy-tầm cùng với Ý-Thức kiểm-nhận chia ra từng văn-kiện. Sự đào tạo trên nó lại tùy theo năng-khiếu của một nguời mà kết-quả. Nếu chuyên theo Khoa nào, lúc trưởng-thành thì dòng tư-tưởng khoát-đạt theo Khoa ấy, trở nên nhiều khoa như: Y-Khoa, Dược-Khoa, Nha-Khoa, Bác-Học, Nhà Thông-Thái-Học. v.v… cũng không ngoài Năng-Khiếu và Tư-Tưởng nơi Thiên-Tài Siêu-Việt là cuối-cùng của mức tiến thôi, không thể nào thấu-đáo đặng linh hồn Bất-Diệt. Đạo-Phật chẳng công-nhận Tâm-Linh, chỉ thừa nhận năng-khiếu, cho năng khiếu là: Từ nơi Công-Đức-Phẩm tạo thành Công-Năng lần tiến, từ bước đầu Ngạ-Quỉ Súc-Sanh lên đến Nhân-Thiên, chư Thiên, chư Tiên Thần đến Thánh-Hóa, mỗi mỗi bước tiến thảy đều cơ-cấu chủng-tưởng kết-nạp hình-thành Nhân-Tài, Thiên-Tài Siêu-Việt từ nghìn xưa cho đến nay. Do đó Phật-Đạo nói: Các Ông, chung gồm tất cả Chư-Thiên-Tiên trong Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới thảy đều Thọ Ngã Giả-Tưởng hình thành không ngoài Sắc-Thinh-Hương Vị-Xúc-Pháp Sanh-Tử. Sự lầm-lẫn nầy, nơi mong cầu nầy không ngoài Pháp-Tánh biến-hóa đủ hình-thức, các ông ngỡ là Tâm-Linh, chớ chẳng có chi là Tâm-Linh cả, vì sao? -Vì các ông Có-Tin mới có-Linh, bằng các ông chưa tin đâu có Linh? Nếu các ông có đức tin mà chẳng soi-sáng đức-Tin nơi mình, thời các ông vấp phải Loạn-Tưởng Mê-Tín Dị-Đoan vậy.
Bậc Toàn-Thiện Chánh-Giác, không công-nhận mức-độ Mê-lầm Tâm-Linh của Bản-Ngã Giả-Tưởng, sống nơi cuộc sống quần-chúng Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới Rồng-Người chìm-đắm Sắc-Thinh-Hương-Vị, cảm-nhận, cấu-nhận Thụ-Nhận cùng chấp-nhận Sắc-Thinh-Hương-Vị. Nơi gốc-gác lý-sự chấp-nhận kia do nơi Tư-Tưởng điên-đảo, vọng-tưởng liêu-linh hình thành. Bậc Toàn-Thiện thấu rõ tỉ-mỉ từng li, từng tí của; từng mỗi CHUẨN vi-trần sát-na thay đổi, đổi thay dòng tư-tưởng, nhịp-nhàng diễn-biến làm cho tất-cả phải lạc-lầm nơi nó mà tử-sanh. Bậc Chánh-Giác phương-tiện THỪA-NHẬN cho mỗi Chuẩn, mỗi Kết-chuẩn, mỗi Hợp-thành Chuẩn, đến giai-đoạn trưởng-thành CHUẨN theo nơi tác-động mà ra Vạn-Pháp, làm lay-chuyển chúng-sanh, làm cho chúng-sanh phải gây-hấn, sống-chết vui-buồn trở thành Pháp-Giới, trở thành Thọ-Ngã Giả-Tướng, không ngoài Bản-Ngã Giả-Tưởng, Bản-Ngã Giả-Tưởng nầy chính nó là TƯ-TƯỞNG ĐẠI-DIỆN cho LINH-HỒN của chúng-sanh Âm-U theo Giả-Tưởng mà phải lìa bỏ Chân-Giác chưa về nơi Bát-Đại. Đại Bát Linh-Hồn bất-biến thường-còn vậy.
Sự thừa-nhận nầy làm cho chúng-sanh giai thành Phật-Đạo, nên chi mới khuyến-khích chư-vị Bồ-Tát Hạnh-Nguyện Độ-Sanh, Hành-Nguyện thâm-nhập Pháp Giới cùng với Tu-Cầu Bát Nhã, đặng trọn lãnh thừa hưởng Bát-Nhã-Trí an-vui Cực-Lạc, khỏi vòng tư tưởng giả-tưởng làm chủ thân-mạng, làm chủ vạn-pháp tường-tận CHÁNH-GIÁC.
Lý-Sự Hạnh-Nguyện nầy là một rừng cây duy-nhất, vì sao? Vì chúng-sanh đa bệnh Phật phải thi-hành Đa-Hạnh, nên chi Bồ-Tát phải tận-dụng ngôn-ngữ thuyết-giải cử-chỉ Đạo-Hạnh theo từng thứ bậc phù-hợp, làm cho tất-cả ưa thích, nương nhờ lý-sự ưa-thích ái-kính mới dìu-dắt chúng sanh. Phần Bồ-Tát vẫn được lợi, nhiếp-thâu tư-tưởng từng lớp-lớp mà thấu-đạt Tư-Tưởng Giả-Tướng của chúng-sanh lầm-lạc sanh-tử. Vì như thế nên chi Phật dạy, Bồ-Tát nương nơi Mê mà trọn Giác, Còn Chúng-Sanh Truy-tầm vọng-tưởng Bản-Giác trở thành mê.
Khi Bồ-Tát tận-dụng Đạo-Hạnh không, cũng chưa đủ trên con đường tu-cầu giải-thoát vọng-mở, Đạo-Hạnh phải kèm theo Chí-Nguyện, mới gọi là Bồ-Tát trọn-vẹn Hạnh-Nguyện. Bằng Đạo-Hạnh đứng yên, đạo-hạnh gìn-giữ củng-cố thời trở thành TƯỢNG-GỖ CHỒI-KHÔ, sống trong tư-tưởng Thọ-Ngã Rỗng-Không khoảng-cách.
Bồ-Tát có Chí-Nguyện, chính là Bồ-Tát-Hạnh đã từng Hướng-Thượng. Bồ-Tát-Hạnh chưa Chí-Nguyện là hạng Bồ-Tát giả-danh củng-cố tư-tưởng, chưa bao giờ khai-thác tư-tưởng nơi mình để sáng-soi chung khắp mà TRỰC-NGỘ.
Chí-Nguyện Hướng-Thượng là một chí-nguyện cao-cống nhất, chư-Phật đã tận dùng trong khi bước sang đạo-hạnh TỪ BI HỶ XÃ đạt đến rốt-ráo Giải-Thoát hoàn-toàn, do đó mà Bồ-Tát tu-trì Hạnh-Nguyện qua từng giai-đoạn, từ nơi Thanh-Tịnh đến nơi Bất-Tịnh, từng lớp-lớp chúng-sanh, với chủ-đích phụng-sự cúng-dường Như-Lai Thề-Nguyện-Sự thành thử không Ô-Nhiễm, không tập-nhiễm, chẳng mảy may chướng-ngại sự-việc mình đang hành, sự-việc mình sắp làm ngày nay phải làm, chốn rỗng-rang của Bồ-Tát, với chí-nguyện Bồ-Tát không có văn-tự hay thuyết-ngôn để tán thán nổi, duy-nhất bậc tu-chứng Hạnh-Nguyện chung khắp mới tường-tận mà thôi, làm sao chúng-sanh Tiên-Thần Thánh-Hóa hay hàng Nhị-Thừa chứng-tri đặng. Do Hạnh-Nguyện mà Chư Bồ-Tát đặng Hành-sự, Kiểm-sự Tổng-Trì Đà-La-Ni-Tạng vào vòng Như-Lai, nhập nơi Chánh-Định Tam-muội làm chốn tạm-trú của Bồ-Tát, đặng Chư-Phật thọ-ký thành Phật.
Vòng-Đai Tư-Tưởng Đại-Diện cho Linh-Hồn Bát-Đại gọi là Đại-Ngã chung khắp viên-minh thường-còn, Tư-Tưởng ứng-trực chủ-đích thuyên diễn đầy-đủ PHẨM-CHẤT VIÊN-MINH ĐẠI-NGÃ chung khắp. Vì lầm-mê chung khắp Thọ-Ngã nhận lãnh, mỗi một khía-cạnh tư-tưởng làm chốn an-trụ trở thành chúng-sanh giới-hạng. Phần Đại-Diện phải linh-động dung-thông từ Tịnh đến Bất-Tịnh đâu đâu vốn thuyên diễn chẳng thiếu-sót, cho nên tư-tưởng mới làm chủ-động Tam-Thiên và Tam-Thế-Phật. Nơi Tam-Thế Chư-Phật đồng nương Bổn-Nguyện, tận-độ chúng-sanh rốt-ráo mà Chánh-Giác. Do-đó nên chi mới có Chư-Phật Thị-Hiện, chúng sanh gặp Phật. Nơi Thị-Hiện nầy là cương-vị Hiện-Thể của Chư-Phật. Còn hàng Bồ-Tát lai trần nương Thể mà hiện thời đặc-trách qui-chế Thể-Hiện. Chư-Phật Hiện-Thể có thẩm-quyền độc-lập, chứng-minh vũ-trụ. Bồ-Tát Thể-Hiện cứu-khổ độ-sanh chứng-minh chúng-sanh cấp-bậc tu-chứng, vì vậy nên chi Chư-Phật toàn-chân toàn-thiện Chánh-Giác.
Đức A-Di-Đà Phật, Ngài bậc Vô-Thượng Chánh-Giác Chí-Tôn, Ngài Viên-Minh trùm-khắp tư-tưởng lầm-lạc của chúng-sanh. Mỗi một bản-ngã giả-tưởng thảy đều là: Tiểu-Ngã Giả-Tưởng, làm cho chúng-sanh không có nơi thoát-sanh khỏi vòng-đai Tiểu-Ngã, thành-thử Chư-Phật đồng nói: Chúng-Sanh lìa Chân-Tâm bất-biến, lầm theo vọng-tưởng làm Tâm sống theo động-vọng. A-Di-Đà Phật Ngài bèn ban-hành cứu-độ vãng-sanh, làm cho chúng-sanh kính-ái phụng-hành TỊNH-ĐỘ Vãng-Sanh. Tuyệt-tác thay Vãng-Sanh Tư-Tưởng, từ nơi đọng-vọng tối đen, trở thành Sáng-Tưởng Tịnh-Độ. Vì sao? Vì Ngài thật tỏ-rõ Viên-Minh vòng-đai sanh-tử nơi tư-tưởng. Các bậc tu-hành trên con đường Giải-Thoát. Tư-Tưởng nó có hàng-hàng lớp-lớp diễn mãi không ngừng, chung khắp vô-tận vô-biên, nó như bãi cát Sông-Hằng, mỗi hạt cát đều một khởi-điểm, chủng-chủng nơi nó khác nhau. Phần chúng-sanh Rồng-Người Tam-Thiên Vũ-Trụ, phải tuân-hành chấp-nhận lãnh lấy một hạt cát. Hạt cát nầy, nếu biết sử-dụng làm cơ-giới tu-hành thời nó biến thành Hạt-Giống Như-Lai, bằng lầm-mê thì nó lại là Bản-Ngã Tiểu-Ngã Giả-Tưởng. Tiểu-Ngã Giả-Tưởng không thấu-đạt bị làm chúng-sanh. Nếu chung gồm Bản-Ngã Giả-Tưởng thấu-đạt thì trực-thuộc Đại-Ngã Niết-Bàn, kiến-diện Như-Lai, vỡ tan lầm-lạc, Chánh-Giác.
Bậc Chánh-Giác nhìn nhận, khi lầm-mê phải nương vào nguồn máy vạn-pháp tư-tưởng, nên mới có lời thệ nguyện Vạn-Pháp Vô-Biên Thề-Nguyện Học. Khi giác-ngộ chánh-giác kiểm-chứng lành-lẽ rành-mạch tất-cả tư-tưởng, lý-sự nơi tư-tưởng cử-chỉ hành-động thay-đổi, đổi-thay có mức-độ, có liên-hệ chủng-nghiệp, chủng tánh, chủng-tử của mỗi GIỚI, mỗi hành-vi tế-nhị thanh-thô, diễn-xuất, rất tường-tận cùng tận-tận nguồn-gốc điều-hành nơi Như Lai-Tạng ứng thân hiện, nên chi bậc Chánh-Giác không lấy chúng-sanh, không công-nhận có chúng-sanh mà chỉ nhìn-nhận Ứng-Thân Hành-Dụng của Như-Lai, được gọi Nó là TẠNG-THỨC. Tạng-Thức bao-trùm lầm-lạc, sống-chết tử-sanh do Tư-Tưởng vạn-pháp diễn-hành. Tư-Tưởng không lầm, thì Tạng-Thức nào đâu có lạc? Không lầm-lạc thì Viên-Minh Như-Lai kiến-diện, kiến-diện Như-Lai đồng một. Làm như thế, tu như vậy vẫn chưa đủ bổ-sung, hiện Thể-Tướng Bát-Đại Niết-Bàn. Vì sao? -Vì Bát-Đại phải trải qua Đại-Bát, nhiếp-thu Tám-Đại tận-tận rốt-ráo hoàn-toàn Chánh-Giác.
THẾ NÀO LÀ TÁM ĐẠI?
Một là : ĐẠI-ĐỊA (Đất)
Hai là : THỦY-ĐẠI (nước)
Ba là : PHONG-ĐẠI (gió)
Tư là : HỎA-ĐẠI (lửa)
Năm là : HƯ-KHÔNG
Sáu là : TẠNG-THỨC
Trong Sáu-Đại nầy, Vũ-Trụ chỉ có Tứ-Đại. ĐẤT-NƯỚC-GIÓ-LỬA. Ngoài đất-nước-gió-lửa ra thì Tứ-Loài có thêm Hai Đại HƯ-KHÔNG và TẠNG-THỨC, thành thử Tứ-Loài Lai-Sanh làm chủ Vũ-Trụ. Sự thừa-hưởng của Tứ-Loài nó không ngoài Chánh-Báo và Thọ-Báo nhịp-nhàng nơi tư-tưởng vì như thế nên chi từ hàng NHÂN-THIÊN dụng tư-tưởng làm nơi tiến bộ, cho đến hàng Nhị-Thừa phải tận dùng Định-Tưởng mà sáng-tạo Cõi-Trời hay thành-công các cơ-sở chủ-đích. Ngoài ra chỉ có Ba-Cõi như: DỤC-GIỚI. SẮC-GIỚI. Và VÔ-SẮC-GIỚI cùng các Cõi Thiên-Tiên thì ứng-dụng Hư-Không Tạng-Thức, được gọi là Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới Phẩm-Lượng cùng chất độ nó tùy theo hàng-hàng lớp-lớp mà huân-tập thành-tựu.
Còn lại hai đại, vượt tầm gọi là Như-Lai-Đại cùng Giác-Tướng-Đại, nên chi lúc không lầm, không lạc kiến-diện Như-Lai hay Như-Lai Kiến-Diện chớ chưa thành-đạt Như-Lai, thì phải thấu đáo Hư-Không tận-tận thấu-đại Giác-Tướng-Phật.
THẾ NÀO LÀ HƯ-KHÔNG TẬN-TẬN?
Hư-Không tận-tận là con đường tu của Bồ-Tát. Bồ-Tát nương nơi Vô-Ngã Giả-Tưởng nương nơi vạn-pháp lìa năng-sở không trụ-chấp làm mức tiến tận-tận hư-không mà trọn lãnh Giác-Tướng, cho nên Bồ-Tát mới gọi là Không Đắc mà Đắc, đó là tuần số nơi hư-không không tận vậy.
Trên con đường tu-cầu Tri-Kiến Giải-Thoát toàn diện không ngoài Hư-Không không-tận mà Tri-Kiến-Phật, Phật Tri-Kiến. Bước tiến nơi hư-không không tận rất cao-cống khó lấy văn-tự hay thuyết-ngôn mà giải ra nó đặng, duy chỉ các bậc tu hành thực-chứng mới nhìn-nhận thọ-lãnh Sở-đắc mà thôi.
Từ hàng Nhị-Thừa cho đến hàng tu-cầu Phước-Báo Nhân-Thiên thảy đều tận-dụng tư-tưởng, huân-tập tư-tưởng cho đến định-tưởng thanh-thoát an-trụ nơi thần-thánh-hóa, nó tùy nơi định-hướng của mọi từng lớp mà thành-tựu cảnh-giới, thành-tựu Hữu-Vi Niết-Bàn, hay lầm-lạc hư-không nhận lãnh nơi Hư-Không làm có, thọ-chấp Niết-Bàn không-không-tận cầu nơi chứng-tri mình mà sa vào Vô-Dư Niết-Bàn. Từ chỗ HỮU (CÓ) cho đến nơi VÔ (KHÔNG), nếu chưa tường-tận nơi Hư-Không tận-tận Giác-Tướng hiện, tiền, Tri-Kiến hiện-tại vì sao? Vì lìa GIẢ-Tướng TẬN-GIÁC-CHÂN, xa bệnh mê liền Tận-Giác, Bậc đã Giác-Ngộ mới tỏ-tường nói lên lời Chánh-Giác rằng: NÓ CŨNG CÓ, NÓ VẪN KHÔNG, SẴN CHỖ KHÔNG ĐỒNG NƠI CÓ. Kẻ đọc tụng Tin-Vâng trên văn-tự đọc thuộc cốt chứng-tri, ngoài ra chưa thấu đạo, làm sao kết-quả quả-vị chứng-tri nơi mình? Thật ra có TU mới có chứng, đến hoàn-mỹ không chứng cũng không tu hoàn-toàn Chánh-Giác.
Từ nơi Tam-Tạng Kinh-Điển, cho đến lời Vàng của CHÍ-TÔN đều lời Khai-Thị làm cho Tứ-Chúng Ngộ-Nhập. Ngài rất tường-tận thấu-đạt nơi chốn lãnh-hội Kinh-Điển lời Vàng nó không ngoài Văn-Tự cùng Ngôn-Thuyết cho các bậc đang thọ-chủng vạn-pháp tư-tưởng thường-tưởng cho đến Định-tưởng lãnh-hội hiểu-biết qua từng lớp-lớp nhận lãnh lấy nó. Nó sai-biệt với cơ-sở Chánh-Giác nơi Chí-Tôn minh-thuyết, thành-thử Ngài nói: Ngón tay Ta chỉ Mặt Trăng chớ chưa hẳn ngón tay Ta là Mặt Trăng, làm cho một số chân-phật-tử nương nơi Kinh-Pháp tu-trì đắc-đạo. Lại có Bậc lìa hẳn đường hướng, hủy-diệt thuyết-minh, tư-tưởng trở thành Hiện-Tưởng, nhận lấy Không chi cả mà lâm vào phi-phi-tưởng hủy diệt.
Lý-Sự lầm-lạc nầy. Chưa phải là chân-lý cao siêu Phật-Pháp khó hiểu khó nhận chân ra đặng. Cũng chưa hẳn, Tứ-Chúng vì Chủng-Tánh Chủng-Nghiệp ngăn-cản Vô-Minh che khuất mà Sanh-Tử.
Do nơi Túc-Mạng thờ-ơ, chưa đầy-đủ Phẩm-Lượng chưa trọn vẹn năng-khiếu. Nếu các bậc tu-hành, phải nghiêm-túc, lý trí phẩm-lượng, bước qua từng bước đồng phẩm-chất khoát-đạt thanh cao ngang-hàng Chí-Hướng với Bồ-Tát, liền đồng với Bồ-Tát có chi là Chủng hay Nghiệp? Cấp nào bậc nào, thứ nào, vị nào hợp-hóa trưởng-thành quả-vị tu-chứng không sai chạy. Nơi Chốn Tinh-Tấn nghiêm-túc, tự bản-thân mình phải tự nâng mình cốt giải-quyết Thân-MẠNG, giải-quyết Tứ-Đại, giải-quyết Tư-Tưởng, công-dụng Hướng-Thượng, cốt khai-hoang Tạng-Thức về với Chân-Như gọi là Như-Thức, nếu tu như thế, năng-suất như vậy làm gì có Nghiệp?
Đại-Sức Quả-Vị như Ông TU-BỒ-ĐỀ, khi đắc-pháp Chân-Không, thâm-nhập tư-tưởng,bản-ngã giả-tưởng, thưa gởi với Chí-Tôn Như-Lai, diễn-đạt nơi kinh KIM-CANG câu: Chính Như-Lai Không thuyết-pháp mà con cũng không nghe Pháp. Chí-Tôn giải: Phải chính ông không nghe Pháp mà Ta cũng không thuyết-pháp, tuyệt-tác thay! Bằng Như-Lai thuyết-pháp. Tu-Bồ-Đề nghe Pháp thời các Pháp nầy thảy đều là Pháp hư-dối, nhận là tư-tưởng giả-tưởng làm thế nào, thọ-trì Giác-Tướng để tận-tận hư-không, qua bên kia không-không-tận Chánh-Giác.
Đến thời Lục-Tổ Huệ-Năng Ngài sở-đắc Kim-Cang câu: Ưng Vô-Sở Trụ-Sanh như kỳ-Tâm. Tâm không chỗ chỉ, qua tầm số chỉ-sanh kỳ-tâm, do đó Ngài mới thuyết-minh Tự-Tánh Di-Đà, tỏ-tánh Chân-Nguyên mà hướng-dẫn.
Đương thời ông Ma-Ha-Ca-Diếp. Đức Thế-Tôn đưa cành hoa, Ngài mỉm cười, trao truyền Tâm-ấn Giác-Tướng, Ma-Ha-Ca-Diếp chứng-tri: Thật-Tướng, Vô-Tướng Tam-Muội Pháp-Môn, phải trải qua hàng bao TAM-MUỘI vạn-pháp Thần-Thông Tam-Muội, mới chứng-tri lìa CÓ, lấy Không tận-tận Không-không đến nơi Phật-Tướng Giác-Tướng thì sao?
BỬU-SÁM HỒNG-DANH
Bạch Đức Chí-Tôn Vô-Thượng. Ngài ban-hành lời Bửu-Pháp, tuyệt-tác thay, hiếm bậc thừa-hành suy-tôn lời hương-Phẩm-Vị. Đệ-Tử nguyện suy-tôn trường-tồn minh-thuyết Bát-Đại, minh-thuyết ấn-từ qua từng hàng diễn-khúc, làm con thuyền Bát-Nhã thâu-canh, đưa lý-sự lầm-lạc trở về nơi Ấn-Chỉ Nhất-Tôn Phật-Thừa Ấn-Giáo.
Nam-Mô-Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni-Phật.
Tuyệt-diệu thay! Thậm-thâm vi-diệu thay! An-lành hợp-hóa, an-lành dung-thông, an-lành đồng-đẳng. Mỗi một khi Hư-Không tận-tận chu-đáo an-toàn, giác-hoàn Thân-Phật, liền đồng-đẳng Như-Lai, hiện-nhiên Bát-Đại không còn, không có, có-không trọn-vẹn không-thừa,Viên-Minh Bát-Đại.
NAM-MÔ HẠ-LAI VÔ-THƯỢNG-TÔN KÍNH-BÁI
Kỷ-Niệm Đản-Sanh 24 Tháng 12
ÂM-LỊCH