TÍN NGƯỠNG VỀ VỚI CHÁNH TÍN

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 33
 TÍN-NGƯỠNG về với CHÁNH-TÍN. Từ mê-lầm Tu-Đạt đến Giác-Ngộ, con đường tu-cầu Diệu-Quả, khó-khăn vô-kể. Bậc tu ban đầu có Đức-Tin duy nhất, tin Ngôi Tam-Bảo PHẬT-PHÁP-TĂNG, bản-thân xây-dựng Đạo-Đức, tu-học pháp An-Lành không gây-gổ ác-tâm mưu-sĩ, niềm tin trong-sạch, tánh-chất Hiền-Hòa không tham-lam, sân hận, giải mê lầm. Phát BỒ-ĐỀ-TÂM-NGUYỆN.
 Tu thường giải nghiệp, xét lỗi-lầm cải-hối, Tâm Chí rộng-rãi hướng-thượng, thực-hành tu-sửa chừng nào, thân-tâm càng mở-mang chừng ấy, lý-trí cao-đẹp thanh-thoát. Khi bấy giờ mới phát Tâm-Nguyện: PHẬT-PHÁP VÔ-BIÊN thề-nguyện HỌC, NHƯ-LAI vô-biên thề-nguyện SỰ. Nơi Ba TÂM Năm NGUYỆN nầy Chư Tổ cùng Chư Bồ-Tát đều TỰ-NGUYỆN làm mực-thước để tu-cầu về Chánh-Tín. LÝ-SỰ TƯƠNG-SONG Đồng-Giác.
 Bậc Tín-Ngưỡng là bậc có Chí-Nguyện giải mê-lầm phá vô-minh, cầu Giải-Thoát, dụng LÝ-TRÍ tìm pháp sâu-đậm để tu, xem kinh-pháp cốt liễu-nghĩa Lời Vàng hướng-dẫn, dụng kinh-điển Đại-Thừa nương theo con đường Bồ-Tát Hạnh-Nguyện, thực-hiện Tứ-Nhiếp-Pháp, Lục-Ba-La-Mật-Đa, Công-Đức-Phẩm chủ-yếu tạo Công-Năng, gọi là Lý-Sự Song TU.
 Bằng bậc có trình-độ lý-trí tu-học, dụng lý-trí tỏ kinh liễu-nghĩa, tỏ-pháp cùng pháp-giới Đắc Chân-Lý chẳng-hạn thì Chân-Lý kia Vô-Ngại Pháp-Giới đều là Lý ngộ, chưa đủ Vạn-Năng vẹn-toàn Tu-Đạt, vì sao? Vì kém SỰ, đã kém Sự vô-ngại Pháp-Giới SỰ, bậc tu-đạt khó qua nhiều trở-lực ngăn-cách, khó thoát khỏi vòng-đai pháp-giới xâm chiếm bản-năng mình. Phải chăng khi bấy giờ Lý-Thông. Sự-Chướng làm cho Chân-Lý mơ-màng tâm-cầu hiện-tại kết-quả, đứng yên nơi Tu-Chứng thân-tâm cầu-báo. Bậc tu-cầu nên thấu: Chân-Giác không thể nhận Chân mà Giác. Chưa hẳn dụng Lý làm Chân. Khi Lý-TỎ thì Sự-THÔNG. Sự-TỎ Lý-ĐẠT. Lúc THÔNG-ĐẠT thực-hiện SỰ-SỰ Tận-Thành, không còn Lý-Sự, về với CHÁNH-TÍN.
 Con đường Tu-Phật, tu-cầu Tri-Kiến Giải-Thoát khó-khăn. Chưa phải Chân-Lý Nhà-Phật khó-khăn hay Đạo-Phật khó-khăn, chỉ bậc tu thiếu-khuyết lầm nhận khó-khăn, vì bước tu sai-lệch tăng-giảm, đúng cùng chưa đúng với tinh-thần Chơn-Thể, trở thành biểu-tượng nhiều phương diện, định-hướng khác nhau, cho đến nguyện-vọng tu-cầu hình-thể lòng Tín-ngưỡng khoảng-cách xa nhau. Bậc Xuất-Gia đến Tu Tại-Gia tu-hành có một Tự-Tâm Minh-Đạt. Tự-Tánh Di-Đà nơi quan-niệm sai khác nhau không thể nào diễn-giải hết đặng.
 Phật-Tử tu rất đông. Bậc tỏ CHƠN-THỂ-PHÁP lại hiếm, Bậc Sở-Đắc càng hiếm hơn. Kể ra thống-kê, từ Mười-Ngàn-Vị, chỉ có một vị chứng-tri Chơn-Thể Pháp, biết đường lối Đạo-Phật Tu-Phật. Từ một Vị đến Mười Ngàn Vị biết Tu-Phật Chứng-Tri đường lối Đạo-Phật, chỉ còn Một Bậc Đắc Chân-Lý. Từ một bậc Đắc Chân-Lý, cho đến TRĂM TRIỆU Đắc Chân-Lý, chỉ còn lại mỗi Một-Bậc CHÁNH-TÍN Thành PHẬT.
 Vì sao? Vì Năng-Khiếu kiến-tri dừng-trụ Tu-Chứng. Vì Tín-Hạnh-Nguyện, Hạnh-nguyện kém, TÍN hồi-hướng bị phân-kiến Thánh-Phàm, dừng-trụ Tu-Chứng. Vì Giới-Định-Tuệ chưa Minh-Đạt Chủng-Tánh, dừng-trụ Tu-Chứng. Vì Tứ-Nhiếp-Pháp. Lục-Ba-La chưa đồng-sự nhiếp-thu Mật-Đa rốt-ráo, dừng trụ Tu-Chứng. Lại nữa: Kém Kiên-Trì thiếu Vô-Sanh Nhẫn-Pháp về với Giác-Tịnh. Tự-Tại Vô-Ngại Kiến-Dục Độ-Sanh. Bất-Tịnh Dục-Vọng mà dừng-trụ Tu-Chứng. Sự-Lý Tu-Chứng có hàng-hàng lớp-lớp của các bậc tu vô-kể, thật vô-vô-kể. Đức BỔN-SƯ khi Ngài còn tại-thế lời Vàng minh-thuyết Phật-Thừa, các bậc tu-hành nhận chơn Tam-Thừa tu-tập, tùy Duyên, tùy Căn thấp-cao Chứng-Thị nên mới có hàng Thinh-Văn, Duyên-Giác, Bích-Chi cùng A-La-Hán đến Bồ-Tát, lúc đang tu Bất-Thối Bồ-Đề, Bất-Thối Bồ-Tát. Bồ-Tát Nhất-Sanh Bổn-Xứ Thành Phật.
 Đạo-Phật đứng trước thời Hạ-Lai. Bậc tu-hành kém yếu Năng-Lực tinh-thần, con đường tu suy-giảm, đa dạng thường chấp hay chấp, Tự-Mãn Lý-Chướng, thêm lười-trễ, hiếm bậc đánh đổi tu-cầu giải-thoát nên khó tin Giải-Thoát, chỉ tu-cầu liễu-sanh qua từng cảnh-giới tu-cầu Phước-Báo Nhân-Thiên thì làm sao tin đặng Bậc hoàn-toàn Chánh-Tín Giải-Thoát?
 Nói đến Chánh-Tín Phật-Đạo thì Vô-Lượng Vô-Biên Công-Đức giải-thoát. Vô-Lượng Vô-Số Vô-Xứ Cảnh-Giới giải-thoát. Vô-Lượng Vô-Biên Vô-Cùng-Tận Pháp-Giới Giải-Thoát, Vô-Lượng-Thọ Vô-Lượng-Nghĩa liễu-Đạt Giải-Thoát, Vô-Lượng Vô-Tận Sanh-Diệt Diệt-Sanh giải-thoát. Vì sao? Vì PHẬT-PHÁP vô-biên thề-nguyện HỌC không trụ một pháp, thấu-tận vạn-pháp giải-thoát. SỰ-SỰ Như-Lai thề-nguyện SỰ vẹn, diện-kiến Như-Lai Giải-Thoát.
 Bậc tu Tín-Ngưỡng TÂM trơn liền vẫn giải-thoát. CHÍ Bất-biến giải-thoát. DŨNG Bất-thối giải-thoát. Nương Vạn-Pháp Tu Bát-Nhã trọn trí Bát-Nhã giải-thoát. CẢNH không nhiễm-trước, TÌNH không oán-hận giải-thoát. Không ái-nịch, ái-dục, không tập-khí giải-thoát. Diệt-Sanh không nhàm-chán giải-thoát. SỰ không chê, LÝ không trụ-chứng giải-thoát. Giải-thoát từ điểm nhỏ cho đến trùm khắp vô-biên cùng-cùng-tận giải-thoát. Chớ nên lựa-chọn kén-lường điên-đảo vọng-cầu nơi Sự-Việc Lớn mà bỏ những việc Nhỏ không tu để giải-thoát, không bao giờ giải-thoát, phải lâm nơi dừng-trụ tu-chứng như trên.
 Khi bậc tu hành biết nhận rõ Pháp-môn Giải-Thoát, qua từng giai-đoạn pháp-giới giải-thoát, từng khúc-nôi pháp-giới giải-thoát, lần hồi Kiên-trì không lay-chuyển. Bất-Thối-Tâm, thâm-nhập pháp-môn thời pháp-môn nào cũng hướng về giải-thoát tu giải-thoát. Tâm không quái-ngại. Trí chẳng mơ-màng thực hành giải-thoát. Vì sao? Vì Chơn-Thể nơi Tâm, ngôn-ngữ cử-chỉ của chúng-sanh bất-cọng nhập Tâm-nhỏ, lúc Xuất-Tâm thì lớn-lao vô-cùng. Hành-động chúng-sanh bất-cọng, khi nhập vào Tâm-lớn, lúc xuất thì nhỏ, do như thế nên chi có khẽ-nghi Chấp-Trụ, dừng-trụ giải nghi giải-thoát.
 Nói về TƯỚNG và TÂM thì Tướng đã giải-thoát từ lâu. Tâm chưa giải-thoát. Khi Đức THẾ-TÔN Ngài đạt Vô-Thượng Chánh-Giác, Ngài nói: “Lạ thay! Tướng đã giải-thoát từ lâu, ngày nay Ta mới giải-thoát.” Vì Tâm bị vướng-mắc, Thiên-Ngã, Nhân-Ngã, Thọ-Giả Ngã-Tưởng, trở thành Chúng-Sanh-Giới nên có trọng-lượng và giới-hạn. Nhân-Cách, Tư-Cách cùng Thể-Cách mỗi mỗi Chúng-Sanh-Giới kiến-tạo tự-tạo các Nghiệp, có nghiệp-chủng, từ mỗi nghiệp-chủng trở thành các Cõi các Cảnh-Giới, không ngoài Thượng-Sanh Hạ-Kiếp, Chánh-Báo, Thọ-Báo, dời đổi qua từng kiếp sống mạng sống, Lý-Sống cùng Sự-Sống lại-qua qua-lại không ngừng. Mỗi phục-diện của chúng-sanh-giới đều có HẠNH-GIỚI. Giới-Hạnh nầy sắp-xếp thứ-tự phù-hợp với từng giới, chúng-sanh từng bậc Nhân-Giới, Thiên-Giới, Tiên-Giới, Thần-Giới, Ngạ-Quỷ Súc-Sanh-Giới, đến Địa-Ngục Giới, gọi là giới nào hành-sự theo giới ấy, nên chi Bậc Tu-Phật căn-bản phải tu Giới-Hạnh-Nguyện, lập Đạo-Hạnh Nhân-Thiên-Hạnh, Đạo-Hạnh theo tinh-thần tu-cầu Diệu-Quả Tri-Kiến Giải-thoát thời phải tu Vạn-Hạnh là PHẨM-HẠNH, tùy theo các giới-sanh nhiếp-độ, tùy Duyên hóa Độ, tùy mức giới-sanh HỢP-HÓA, giải-trừ Tâm vướng-mắc, thực-hiện TỨ-NHIẾP-NHIẾP-THÂU Vạn-Hạnh trở về NHẤT-HẠNH, cho nên Chư Bồ-Tát TỰ-NGUYỆN, Tu-Hạnh con đường Hạnh-Nguyện nơi Bồ-Tát là Hành-Dụng, thực-hành cốt nhiếp-hạnh, Bồ-Tát dùng Hạnh giải giới không còn là Chúng-Sanh-Giới, trở thành Bồ-Tát Độ-Sanh, thoát-sanh pháp-giới. Bậc tu Hạnh chưa trọn thì pháp-giới phải mang, bằng GIỚI-HẠNH VIÊN-ĐẠT tận-thành vẫn Chứng-Đắc.
 Nói chung lại hai chữ: CHÚNG-SANH, phân-tách ra có Nhân-Chúng-Sanh, Thiên-Chúng-Sanh, Tiên-Chúng-Sanh, các thọ-chủng chúng-sanh không ngoài GIỚI và CÕI, như: Cõi-Trời, Cõi Người-Ta, đến Cảnh-Giới Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, nơi nào chốn nào có Danh-Từ thảy đều phải tu thêm nữa đến rốt-ráo thành-Phật Chánh-Giác, nên gọi là CHÁNH-TÍN THÀNH-PHẬT. Đây chính là một điểm nên ghi nhớ. Như trên đã nói thì kể theo trên thế-giới hoàn cầu không thể nào nói đặng bao nhiêu chúng-sanh, làm sao diễn-giải cho hết nổi Pháp-Thân-Phật có bao nhiêu chúng-sanh?
 Phật nói: “Chúng-Sanh đa bệnh. Phật Đa-Hạnh.” Đối với Lời Vàng Kinh-Điển hướng-dẫn để tu-hành. Chẳng khác khu rừng có vô-lượng lá rừng mà lời thuyết chỉ bằng một nắm-lá trong bàn-tay, thì làm sao dạy để giác? Phật không dạy, chỉ KHAI-THỊ cốt NGỘ-NHẬP, lời khai-thị từng môn, từng lá-rừng, bậc tu-hành phải ngộ-nhập thực-hành từng giống cây nơi khu-rừng tường-tận, không còn lấy một lá nào mà không thấu đặng, gọi là sạch-sẽ không lầm, Giác-Ngộ. Bậc chưa nhận liền chẳng hiểu, bậc hiểu không hành cũng phải đứng yên, làm sao Thị-Nhận để về CHÁNH-TÍN.
 Nguồn-Mê nó vô-tận như Lá-Rừng không thể đếm đặng. Thời-gian lại vô-thủy vô-chung, nên chúng-sanh bị sanh-hóa hóa-sanh vô-lượng, vô-biên kiếp, không thể lường được đã từng thăng-trầm bao nhiêu kiếp, sanh nơi nào đến chốn kia hay từ chỗ kia đến nơi nọ đặng. Nhưng có thể tỏ-thấu chúng sanh phải sanh, cùng phải Tử không ngoài con đường gọi là QUỸ-ĐẠO-GIỚI-SANH Chánh-Báo Thọ-Báo, Thượng-Sanh Hạ-Kiếp, lần-lượt thay đổi tùy theo Tánh-Chất Phẩm-Lượng hiện hành cấu-tạo Thiện-Ác, Rộng-Hẹp, cộng-hóa hay bất-cộng bị hóa trọng-lượng tương-song thụ-sanh trong kiếp đó.
 Khi được tu, biết tu là con đường xây-dựng HÓA rồi mới sanh, chưa biết tu-sửa, chưa biết xây-dựng thù-hận tranh-giành gây-hấn là Diệt tồi-phá đều BỊ-HÓA, BỊ-CỘNG nghiệp, phải lâm nơi Diệt rồi mới sanh Hạ-Kiếp hay các loài Cầm-Thú. Vì sao? Vì cho chúng-sanh bình-đẳng Tứ-Loài Sanh-Hóa từ Noãn-Sanh, Thai-Sanh, Thấp-Sanh, cùng Hóa-Sanh, thành thử hạ-sanh diệt-sanh hạ-liệt sanh nơi Hạ-Tiện Người và sanh-vật.

 Nói về con đường sanh-tử Lầm-Mê đã có từ Vô-Lượng vô-biên thế-kỷ làm chúng-sanh phải hứng-chịu với con đường ấy khó mà thoát-sanh hoàn-toàn chánh-giác. Từ vô-thủy vô-số vô-biên đã sẵn có chúng-sanh. Đến hiện-kiếp nầy vẫn đã có vô-số vô-biên chúng-sanh còn lại tái-sanh chưa giải-thoát, vẫn đi nơi sanh-tử, vẫn chịu sống-chết theo quỹ-đạo-giới của mình mà Tử-Sanh, thường-còn, bất-biến, thường-trụ bất-di, do nơi Sở-Chấp, hứng-chịu với mục-đích đang lầm-lạc Diệt-Sanh Sanh-Diệt là hơn cả nên chi mới có lý-sự chướng-ngại. Tâm-Chí ngăn-cách, so tính đủ điều làm cho con đường Chánh-Tín xa với Chơn-Tâm, không còn Chơn-Thể nơi vạn-pháp để Tỏ-Tánh Tự-Tánh mà Tự-Giác. Bậc tu-cầu về với Chánh-Tín phải Công-Đức vô-lượng, dung hòa vô-biên cốt giải-trừ Bản-Ngã Giả-Tưởng vô-số pháp-giới, trọn lành tròn-giác. Thật khó giảng-giải như thế nào, duy nhất chúng-sanh phải Đại-Bi Đại-Nguyện thề-nguyện ĐẠI-THÀNH, Phật với chúng-sanh phải Đồng-Năng Đồng-Lực, Đồng-Hóa mới trưởng-thành Đồng-Đẳng Đẳng-Giác. Bất đồng chênh-lệch cho đến Thiền-Trí không nhận được Giác-Trí, Giác-Trí chưa nhận được Huệ-Nhãn, Huệ-Nhãn khó tín Phật-Nhãn thì sao? Đồng-Đẳng, Đẳng-Giác sạch-sẽ Chánh-Giác. Đối với Quỹ-Đạo-Giới sạch-sẽ hơn thế nữa Giới Giới-Tận, tận-tận-Giới Chánh-Tín, gọi là thậm thâm Bát-Nhã-Giới vậy.
 Bậc Vô-Thượng Chánh-Giác tận chu-đáo tỉ-mỉ. Mỗi một chúng-sanh có Chánh-Báo cực-điểm, bất-khả-thuyết, toàn-diện Bích-Châu, Bảo-Châu, Trân-Châu. Các Châu đó quý-báu vô cùng tuyệt-vời không thể nói lên, như thế nào đặng lại Chánh-Báo. Không có đường kính thẳng, đường kính dài, hay đường kính rộng để chỉ nơi ấy Chánh-Báo được. Vì lầm-lạc, mê-mờ chạy theo Sanh-Diệt, khốn-khổ đau buồn, hơn là sung-sướng thoải-mái, vướng-bị vô cùng tận, vô-số vô-biên pháp sống-chết sanh-hóa, hóa-sanh không ngoài pháp-giới di-động điều-hành, thọ-nghiệp-hải, thọ từng chủng-hải, thọ từng khắt-khe nghi-chấp-hải, kể sao cho tận đặng. Nói đến đời, chỉ biết từng giới nơi bản-ngã Giả-Tưởng, kể cả niên-canh tuổi tác, bị động-tác nơi tuồng đời ưu-đãi, bạc-đãi khác nhau. Đáng kể đến THÂM-TÂM biết tiên-liệu, tùy người mà đối-xử, nghịch hay thuận, tùy mỗi con-người biết ngự-chế thâm-tâm tánh-chất hay chưa ngự-chế tánh-chất, nơi này nó làm cho khởi-sanh Động-Tịnh Vọng-Động, nhiếp-thâu hay chưa bao giờ nhiếp-thâu, trở thành trăm ngàn vạn-nghiệp nặng-nhẹ khác hẳn nhau. Bậc nhìn-nhận bên ngoài hay bậc bàng-quan chưa ngự-chế, đua chạy tấm-tuồng, dù có tu bao nhiêu chăng vẫn tu nơi Sanh-Diệt Diệt-Sanh. Bậc tìm các Pháp sâu-đậm để tu, thời biết ngự-chế thâm-tâm, biết xuôi-dòng quần-chúng cốt nhiếp-thâu vạn nẻo về với một đường chính nơi mình tỏ-ngộ, đây là Pháp Bất-Diệt viên-dung. Khi chưa nhận tiến-bộ thâm-tâm, thì vạn lối kia nó diễn-giải trăm đời vạn kiếp thảy đều như mây cùng gió, xuôi dòng sanh-tử.
 TÂM phân-biệt THÁNH và PHÀM, ĐỜI hay ĐẠO, tu vạn kiếp không bao giờ thành CHÂN-GIÁC. Lúc VÀO ĐỜI CHUNG-CẢNH, KHÔNG VƯƠNG THẾ-TÌNH thì đã thực-hiện CHÂN-TRUYỀN BẢO-PHÁP. Khi TIN-PHẬT, mà chưa TIN lấy BẢN-NĂNG nơi mình TU-ĐẠT thành PHẬT, đó là đang còn tu Mê-Tín, khó về CHÁNH-TÍN CHƠN-TÔN. Đây là Pháp-Môn TÍN-NGƯỠNG về với CHÁNH-TÍN GIÁC-NGỘ. Đọc tụng BẤT-THỐI-NGÔN.

VÔ-THƯỢNG-TÔN

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam