GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 18
Khi bấy giờ Thiền-Sư nhập xong Chánh-Định, Chánh-Định là nơi ra vào quán-xuyến trùm khắp, quán-xuyến từ Thân-Mạng đến các hình-tướng, hằng-hà sa-số các thân-mạng Tứ-Loài sống-chết từng lớp, tồn-sanh sanh-diệt nơi tất-cả chúng-sanh, họ chỉ nương nơi Túc-Mạng mà ấn-định, sự ấn-định nó không ngoài Thần-Túc tư-tưởng và trình-độ trực-thuộc gìn-giữ, nên mới có từng cảnh-giới, từng mỗi cõi, rộng-hẹp khác biệt nhau của mỗi cõi, mỗi một cõi đồng Chủng-Tộc, trùm khắp đồng thể-tánh. Thiền-Sư Ngài đã tận-tường từng chốn, nên sự giao cảm đối với Ngài thời trùm-khắp vũ-trụ tam-thiên, không ngoài từng Pháp-Giới vận-chuyển Pháp-Thân.
Thiền-Sư đã từng nhiếp-độ thâm nhập chu đáo tận-tường của mỗi Giới-Sanh, ảnh-hưởng thâm-nhiễm nên mới có một Chủng-Tộc, toàn-diện pháp-giới như thế có hằng-hà sa-số vô-lượng vô-biên Chủng-Tộc, tuy nhiên sai khác nhau nhưng đồng-đẳng, an-lành nơi Pháp-Thân gọi là Pháp-Thân-Phật. Đối với Thiền-Sư là Bậc Chánh-Giác.
Đứng nơi Phật-Pháp bất-ly thế-gian giác để diễn-giải Pháp-Thân thì nó không khác mấy với Hoàn-Cầu thế-giới trên quả địa-cầu gọi là Pháp-Thân. Mỗi một Nước có một đường hướng chế-độ, hoặc mỗi một gia-đình có một nếp-sống trong gia-đình gọi là Pháp-Giới. Mỗi một con người có mỗi định-hướng theo trình-độ giai-cấp mình, do Bản Tánh chủ-định gọi là Chúng-Sanh-Giới. Từ trong Chúng-Sanh-Giới đến Pháp-Giới kết-nạp nhau trở thành Pháp Thân-Phật. Bậc Chánh-Giác tận-tường chu đáo từ nơi Chúng-Sanh-Giới toàn-diện Pháp-Giới không thiếu-sót gọi là Chánh-Giác. Đối với Thiền-Sư cũng như thế.
Khi bấy giờ Thiền-Sư quá tường-tận sự xuất nhập nơi Như-Lai-Tạng, phân-chia định-hướng cùng bất-định-hướng dung-thông cùng bất-dung-thông Như Lai. Nên chi Thiền-Sư hợp-hóa Như-Lai, ứng-hiện nơi Pháp-Thân thị-hiện, toàn thân Như-Lai Chánh-Giác. Từ mỗi một lỗ chân lông của Thiền-Sư đến bá-thiên vạn-triệu hằng-hà sa-số không còn bờ ngăn nên đồng ứng-hiện bá-thiên Cảnh-giới, sa-số các Cõi Thị-Hiện vẫn từ mỗi lỗ chân-lông bước ra được gọi là ứng-hiện Pháp-Thân của Bậc Chánh-Giác.
Lúc bấy giờ toàn thân nơi Thiền-Sư thảy đều mỗi lỗ chân lông có một vị thị-hiện, chung quanh Thiền-Sư có hằng-hà sa-số ứng-trực thị-hiện lễ-bái, ứng-trực thọ-trì tán-thán công-đức vô-lượng Thiền-sư, tận-độ chúng-sanh giai-thành Phật-Đạo. Thiền-Sư minh-thuyết giải-bày nói năng xong, từng lớp lớp thọ-trì, lớp lớp ái-kính. Tất cả thảy đều thưa-gởi. Mỗi chủng-tộc của mỗi Giới-sanh mình. Thiền-Sư cười vỗ tay, tất-cả đều vỗ tay xưng-tán. Thiền sư nói: Lạ thay! Trên con đường giải-thoát. Ngài liền Thọ-Ký cho tất-cả Chúng-Sanh-Tánh sẽ thành Phật.
Thiền-Sư đứng lên, bước ra ngoài sân lều lá, miệng lẩm-bẩm: Tuyệt-tác thay! Đấng Chí-Tôn Vô-Thượng, Ngài đã thành Phật, Ngài thọ-ký chúng sanh sẽ thành Phật. Nay ta lại thọ-ký Chúng-sanh-tánh sẽ thành Phật, tuy nhiên hai lối trong ngoài, chung lại chỉ có một điều duy nhất, phải chăng tiêu-biểu hoàn-tất Ba-Thân?
Tại sao như thế? Giác thời có Giác mà vốn chỗ Tận-Thành vẫn chưa. Tướng-Tánh vốn Tương-Song khi đang diệu-dụng hành-dụng, mà thân tâm tự chia hai lối thành-thử Thực-Hành và Trí-Tuệ nó phải chưa đồng, làm cho các bậc Tu-Hành dù cho Tín-thành cực-điểm, đầy-đủ trên con đường giải-thoát chăng, vẫn suy-nghĩ hai chiều làm sao Tận-Thành cho đặng. Ta thật rõ tận-tường có nên phơi-bày để đời nầy cùng đời sau thực-hiện tận-giác chăng?
Khó khăn thay một khúc eo vĩnh-cửu, chỗ giác với Tận-Thành. Nói đến các bậc Giác thời thật nhiều mà Tận-Thành quá hiếm, đừng nên hoài-tưởng Giác chính là Thành. Các bậc dùng Trí tu-hành vẫn từ nơi Giác-Trí đặng Như-Trí. Bằng dùng Hạnh để tu Đạo-Hạnh thời nó lại đứng vào hàng Nhất-Tướng về với Như-Tướng, tướng mà như như là Trang-nghiêm-tướng nơi Thập-Bát La-Hán chớ nào tận-giác. Đến hàng Bồ-Tát từ nơi Sơ-Trụ Bồ-Tát cho đến Đại Bồ-Tát Ma-Ha-Tát vẫn tận-độ chúng-sanh giai-thành-Phật-Đạo, chớ Pháp-Thân chưa Tận-dụng vẫn chưa Tận-Thành thì sao? Duy nhất chỉ có Đức-Chí-Tôn Bổn-Sư Vô-Thượng mà thôi.
Ta phải nói sao đây, phải bày-biện như thế nào, thật khó khăn thay cho từng lớp lớp căn-cơ tu-chứng, phân-đối với dung-hòa. Lời Ta diễn-giải toàn lời Công-Năng Tu-Đạt toàn-diện không hai. Khi Ta diễn-giải với Tâm-Chí Thân-Tâm của Ta thì nó nghe ưu-tú đặng bảy mươi phần trăm. Bằng ta viết ra từng lời nói diễn-giải nó không ngoài văn-tự minh-thuyết. Các bậc từ đời nầy cho đến đời sau đọc tụng chưa hẳn đã lãnh-hội vẹn-toàn, dù bậc Tín-Tâm thông-hiểu chăng vẫn thông-hiểu với hàng Thinh-Văn gặp đặng duyên mà giác, chớ chưa tận sâu lời Ta đã nói, đây là lời ta nói với hàng đã từng biết xem Kinh, đã từng tu với Tự-Tánh. Nếu bậc tu Y-Kinh chưa liễu-nghĩa thì làm sao thấu đặng lời Ta? Thiền-Sư tự-thán xong cũng vừa đúng ngọ thọ-trai.
Cơm nước do các nhà hảo-tâm mang đến cúng-dường, tuy không đầy-đủ lắm nhưng thiền-sư thực-dụng tạm qua ngày đơn-giản. Theo như thường-lệ, mỗi lần thọ-trai xong, Thiền-Sư thả chiếc võng treo xuống, hai tay nhún hai đầu võng thật kỹ-càng mới đặt lưng nằm xuống, có một lúc, có một cụ già ở cuối xóm, mang chiếc võng lên cúng-dường. Cụ già thưa với Thiền-Sư: Bạch Thiền-Sư! Con từ thuở còn trai làm nghề đan võng, đến nay tuổi già không còn làm nghề đan võng nữa, con niệm-tình ái-kính đối với Thiền-Sư, mua một ít dây gai, tự tay đan chiếc võng để cúng-dường, xin Thiền-Sư thương con thâu-nhận. Thiền-Sư gật đầu. Cụ bái-tạ ra về.
Thiền-Sư lấy một sợi giây, cắt chia làm hai đoạn, buộc hai đầu võng để treo, xong đâu đấy đặt mình nằm xuống võng, chẳng may giây đầu võng bị tuột, làm cho Thiền-Sư bổ té, từ đó trước khi nằm võng phải nhún kỹ mới lên nằm. Phần cụ già kia đã quá vãng, chiếc võng vẫn đang còn. Đôi khi Thiền-Sư nhớ lại, lòng mình man-mát thương cụ đã qua đời. Thiền-Sư không lạ chi cả nên nói:
Vẫn một sớm chiều man-mát tính
Do lòng đồng-hóa đẹp duyên-trinh.
Ngọn gió thoảng mát dưới ánh nắng vàng, chung-quanh tĩnh-tịch, có những chiếc lá khô khua của lều lá vẫy-ve nhau, Thiền-Sư nằm trên chiếc võng, võng đưa đầu võng lúc-lắc, Thiền-Sư lẩm-nhẩm tư-tưởng phát-sinh, đang giải nói hồn mơ.
Thật hay thay! Như-Lai-Dụng. Lời nầy của Kinh-Pháp mà Đức Thế-Tôn ấn-chỉ có hai lối hành-dụng và Thực-Dụng của Như-Lai, chung gồm chỉ có chữ Dụng.
Từ Hành-Dụng của Như-Lai là vận-chuyển vạn-pháp trùm khắp Tam-Thiên, thế-gian xuất-thế-gian, rồng-người, tất-cả các sự-việc hoàn-cảnh hằng ngày cho đến đi đứng nằm ngồi mỗi mỗi lớn nhỏ thảy đều Hành-Dụng của Như-Lai, chung gồm không trong ngoài của Như-Lai Hành-Dụng. Còn về Thực-Dụng nơi Tứ-Loài chúng sanh ăn uống thực-dụng hằng ngày sinh sống thảy thảy được gọi là Thực-Dụng.
Các bậc tu-hành đến các vị Thiền-Sư đa số Giác-Ngộ nương nhờ nơi va-chạm nghịch-cảnh bối-cảnh hành-dụng mà Trực-Ngộ, hiếm bậc đang Thực-Dụng mà Trực-Giác nơi các món ăn Như-Lai Thực-Dụng, vì sao? Vì Thực-Dụng là Bổn-Lai. Lạ thay nơi hiểu-biết hoặc giả nghiên-cứu nơi văn-tự mà trực-thuộc về Bộ Óc tạm biết mà các hàng Thinh-Văn Duyên-Giác đã từng tu. Nếu đem sự hiểu-biết áp-dụng thực-hành nơi hiểu-biết thực-hiện thì tự biết kia đặng nương vào Công-Đức Hành-Dụng Như-Lai mà Trực-Ngộ thì thâm-sâu biết chừng nào. Vấn đề nầy đã có nhiều bậc tu-hành theo Pháp-Môn Như-Lai Trực-Giác không ít, còn tu Tận-Thành rất hiếm. Vì sao? Vì Trực-Giác nương Công-Đức Như-Lai mà giác, còn Tận-Thành bậc tu đã tỏ-ngộ tường-tận Thông-Đạt vạn pháp diễn-hành mới có đầy đủ Công-Năng, chính mình xây dựng Tận-Thành Chánh-Giác. Lúc đến đây Thiền-Sư nở nụ cười tươi, ngọn gió thoảng qua nơi hư không đủ màu, đủ sắc quay-quần vũ-trụ tạo thành luồng gió nhẹ-nhàng, thoải-mái với Thiền-Sư.
Thiền-Sư bừng tỉnh, bóng cây đã ngã dài, Ngài đứng lên treo lại chiếc Võng về chỗ cũ, Thiền-Sư vẻ mặt trầm-ngâm suy nghĩ. Ngài bước lại hạ thấp mái-hiên, đóng khuôn cửa sổ cùng hai cánh cửa lớn của lều lá. Ngài đưa tay lấy chiếc gậy cùng chiếc Nón đội lên đầu, nhẹ bước ra đi về hướng tây-bắc.
Đối với Thiền-Sư Ngài chưa già lắm, chỉ trên dưới Năm Mươi, có một hôm Ngài vào khu rừng, cách Lều-Lá độ chừng 500 thước, Ngài nhìn thấy cành cây khô vừa tầm làm chiếc gậy. Ngài liền bẻ mang về tự tay điêu-khắc, chiếc gậy có một đầu quéo một đầu trơn không nhọn lắm, phòng-ngừa lúc vào rừng để dẹp những cành gai hay đá sỏi cốt để cho con đường mòn dễ đi. Ngài xem con đường vào rừng sâu tảng-đá, lên thác xuống gành không khác với con đường đạo ngày trước đã từng qua, tuy chân vẫn đi, nơi tay phải có sẵn lợi-khí, lợi khí nầy là trí-tuệ tan-dẹp đóng-ngăn, lợi-khí chiếc gậy là vạch đường trỗ-ngõ, sau cho kẻ khác họ đi. Lợi-khí trí-tuệ giải-quyết từng giai-đoạn, thoát khỏi quan-niệm chính-mình vấp phải đứng yên cho đó là: Trí-Tuệ cứu-cánh giải-thoát, chớ chẳng chi giải-thoát.
Mỗi lần Thiền-Sư Ngài suy-nghĩ như thế, bản thân Ngài thấy nó hay hay. Ngài cho đó là Niệm-Niệm. Chư-Phật nghìn xưa vẫn niệm-niệm, hôm nay Ngài vẫn niệm-niệm, gọi là niệm-niệm Phật.
Thiền-Sư đang đi nửa đoạn đường, gặp hai chàng trai gánh than đi tới, nhìn thấy Ngài, vội để gánh bên đường chờ Thiền-Sư đi qua kính-bái. Có đôi lúc Ngài nghĩ lại, khi Ngài mới đến an-trú tại địa-phương nầy, có người cho Thiền-Sư là Ông Thợ Mộc, kẻ cho là Thầy-Thuốc-Nam đủ thứ, đủ người nghĩ đến Thiền-Sư. Đến sau nầy dựng nên Lều-Lá, khi dân địa-phương dừng bước ghé chân đỡ cơn mệt-nhọc mới rõ là bậc Thầy-Tu, may thay có người ưa-thích đạo, ưa tìm hiểu lý-chân, chuộng Pháp-môn tu-thiền, kính nhờ Thiền-Sư chỉ-giáo, nên chi có một số người mang thức ăn cúng-dường, mới đặng ở yên sống tạm trong địa-phương nhỏ bé.
Thiền-Sư vừa đến chân rừng thì trời chiều mát-dịu, có những con chim nhỏ quấy-rầy ríu-rít trên cành cây. Ngài mãi đi đến đồi-đất cao nhất an-tọa đỡ hơi, lặng nhìn xa xa có những xóm nhà lẻ-tẻ chen lẫn cây xanh. Thiền Sư lẩm-bẩm, Ta hãy đi đến với Mười Tám Vị La-Hán, họ đang Hội-Thảo xem-xét có những gì, nghĩ xong Ngài trầm-ngâm lặng-lẽ, nét mặt thay đổi không ngừng. Thiền-Sư lắc đầu nói: Vi-Diệu thay cho Pháp-Thân Ứng-Trực, làm thế nào tất cả những bậc tu-hành thâm-sâu tận-thấu, cho đến Chư Bồ-Tát khẩn cầu hết mình tu cầu chánh-quả, hết toàn-năng kiến-tạo Bát-Đại Niết-Bàn cũng chẳng thấm vào đâu, thời làm sao Nhân-Sinh Tứ- Loài phàm-phu hiểu đặng.
Hôm nay chính Ta tận-thấu, nó khác hẳn với lúc đang tu, rất tận-tường trọng-lượng bản-chất linh-động thể-chất hợp-hóa vi-diệu dung-thông vô cùng không tận, ứng-hiện trực-hiện, cảm-hóa hiện đến tận-thành thực-hiện nơi Pháp-Thân chu-toàn cho tất-cả từng lớp lớp chúng-sanh cầu-vái đến chư Thiên-Tiên ứng-hiện, Chư-Thiên liền ứng-hiện, do nơi ứng hiện của trình-độ qui-chế chúng-sanh-giới mà pháp-thân tùy nơi ứng hiện, thành thử các bậc tu-hành chuyên-ròng tế-lễ cầu lấy linh-thiêng ứng-hiện hơn là Trực-Hiện. Ứng-hiện là qui chế của Thế-Gian cho đến hàng Thinh Văn Duyên Giác cùng A-La-Hán. Ứng-hiện là chỗ tu-hành cầu-vái van-xin. Còn Trực-Hiện là nơi Trực-Giác Tam-Muội Pháp-Môn. Nên Quán-Thế-Âm mới tự-nguyện tùy nơi Sở-Nguyện của chúng-sanh mà ứng-hiện. Đến hàng tu tự-tín bản-năng, tự-tín công-năng Công-Đức kết-tạo thời thọ-hưởng nơi qui chế Trực-Hiện. Trực-Hiện là nơi Bồ Tát Sơ-Trụ đến Đại Bồ Tát thường dùng Trực-Hiện cùng CẢM-HÓA-HIỆN, cảm-hóa-hiện chính bậc thường thông-cảm Tam-Thế Tam-Thiên. Xuất-định dạo khắp các Cảnh-Giới, gọi là Cảm-Hóa-Hiện cho đến bậc tận-thành, lúc bấy giờ mới THẬT-HIỆN. Bốn-Tướng hiện trên vẫn còn nơi Pháp-Thân-Phật chu-toàn thị-hiện đồng-đẳng từng lớp Tu-Chứng, từng lớp chưa tu-chứng đảo điên vẫn đặng thừa-hưởng hiện. Nơi hiện-cảnh ứng hiện chia ra làm hai nơi, gọi là chánh-báo cùng thọ-báo hiện. Chớ chưa hẳn Tâm-Hiện hay Tâm-Pháp, Pháp-Tâm hiện, vốn như-nhiên pháp-thân tùy thuận hiện, vì sao? Vì Như-Nhiên hợp-hóa Bản-năng thể tánh đồng-hiện thôi. Thiền-Sư giải xong thi-vịnh:
Ta soi nơi tấm gương dày
Đưa tay nhảy-múa, phơi-bày mặt-gương
Pháp-Thân vi-diệu khôn tường
Tùy Công-Năng Đức. Tùy phương hiện-hình.
Ngài thi-vịnh xong bốn câu, Ngài đứng lên sửa bộ áo, lấy chiếc gậy cầm tay, thong-thả đi vào rừng sâu là nơi Thiền-Sư an dưỡng Tọa-Thiền, dọc đường Ngài gỡ những cành gai của những người hái củi vứt bừa-bãi cho đến khi vào tận chỗ. Ngài nhặt một ít củi khô để lại phòng đêm lạnh đốt lên, xong đâu đó, hớp một hơi nước. Ngài ngồi Tĩnh-Tọa trên tảng đá, như nhiên tịch-tịnh, thả theo gió thoảng lần lần trong khi Xuất-Định. Phong-cảnh ở khu-rừng trản, có những mỏm đá lô-nhô, bắt đầu in-tuồng theo cơn-định của Thiền-Sư.
Thiền-Sư đến ngôi Chùa Cổ, mái chùa cong cong hai-cánh, vừa rộng vừa thấp tựa như Chim-Phụng-Hoàng trãi-cánh che-chở khách thập-phương. Ngài bước vào bên trong chùa có Mười Tám Vị chia ra Ba-Nhóm đang Hội-Thảo về chân-lý đường tu. Ngài dùng Nhĩ-Viễn-Thông, Nhãn-Tạng Tam-Muội-Định, thấy rõ, tai nghe không thiếu sót. Thập Bát La-Hán không hề hay biết trong hội-thảo có Vị Đại-Đại La-Hán dự.
Các vị La Hán, về phương diện Y Phục thì đủ màu sắc, tùy theo Địa-Phương-Giới. Phần sở-thích mặc do Cử-Chỉ-Hành, mỗi vị đều có nét-vẻ trang-nghiêm ngôn-hạnh, tất-cả ai nhìn thấy phải kính-nhường.
Trong Ba-Nhóm, mỗi nhóm có sáu-vị, sáu-vị ngồi hình tròn. Nhóm ngồi về phía Tả, nhóm ngồi về phía Hữu, còn một nhóm ngồi ngay trước Chánh-Điện Trung-Ương. Dưới nền chùa trải bằng ngọc-thạch màu xanh, những cây cột là toàn Mã-Não đính kim-cương trở thành đỏ trắng lấm-tấm sáng. Mùi thơm hương thoảng, có những tiếng nhạc do các cây cảnh giao-động tự trở thành. Thật thanh-tịnh tao-nhã thay cho Như-Lai thị-hiện cảnh đoan-trang khả-ái của Bậc La-Hán tận-thành Như-Tướng.
Nhóm thứ nhất về phía Tả hội thảo: Thân Tứ-Đại giả-tướng, chốn trần-lao ô-Trược nhiễm-Trược khó tu, chúng ta hãy tìm phương-thức Xuất-Thế Ly-Thân trừ vọng, Ta truy-tầm bản-chất bất-diệt hư-không kiến-tạo Tinh-Khí-Thần, ta sống nơi Tinh-Khí-Thần viễn-thông bất-biến thời làm sao thân-mạng hủy-tiêu ?
Nhóm thứ hai về phía Hữu hội thảo. Nhóm nầy Sở-Đắc thần-thông, toàn-diện Sáu-Vị phát-quang từng tia sáng, thâu nhận đặng nhóm-tả đã hội-thảo trên, đồng vỗ-tay cười xòa nói: Tinh Khí Thần ở đâu mà có? Nếu có chăng thời có cả từng lớp thân-mạng của Tứ-Loài chúng-sanh trùm khắp, chớ nào phải hư-không có, còn các chốn lại không? Tinh-Khí-Thần là một thể chất Túc-Thần, cùng Túc-Mạng được gọi là Thần-Túc-Thông cùng Túc-Mạng-Thông. Nay chúng ta phải huân-tập nơi Thân-Mạng, huân-tập thiện-căn mới nhiếp-thâu trí-tuệ tu-đạt Túc-Thần làm căn-bản, lấy Đạo-Hạnh trang-nghiêm làm bước đi tư-tưởng định-tưởng làm quả-vị, tu như thế làm như vậy mới mong tu-đạt huyền-cơ. Ta chớ nên vì Ô-Trược, Mạng-Trược xa lánh ngồi yên trở thành Chồi-Khô-Mộng-Lép. Trước kia chúng ta truy-tầm chân-đế, vẫn suy-tính như trên, có lúc lăn mình tìm thuốc trường-Sanh bất-lão, nay chúng ta thảy đều rõ biết, trường-sanh ở nơi đầu não chúng-sanh sẵn có Tinh-Thần khí phách, khi ta sa-sút tinh-thần chưa bồi-dưỡng sung-mãn liền đâm ra nản-chí, lúc Tinh-Khí-Thần sung-mãn thì phát-sanh trí-tuệ viên-thông. Lúc Đức-Trí viên-thông đương nhiên Tu-Đạt.
Nhóm thứ Ba là nhóm Trung-Ương, ngồi chính giữa, nhóm nầy ngồi yên, lặng-yên thu-nhận từ ngọn gió thoảng đưa hay di-chuyển, chung gồm đầy-đủ Sáu Pháp-Thần-Thông. Nên chi đồng nghe tiếng nhạc trời trỗi khắp Mười phương, họ lại đồng thấy thanh-quang, huỳnh-quang, bạch-quang, hồng-quang cùng mỗi mỗi hào-quang di-chuyển, báo hiệu điềm-lành hoặc hung-bạo. Họ vẫn nghe, vẫn nhìn-nhận cuộc hội-thảo của hai nhóm kia không thiếu-sót. Nhiều khi nhóm nầy thường nghĩ. Lạ thay, lạ thay! Xuất-Ly rồi Nhập-Cảnh, đến thanh-thoát, đặng bình-an, do đó nhóm trung-ương công-dụng an-lành duy-nhất.
Bỗng-nhiên có một vị trong nhóm. Vị nầy đứng vào hàng đầu bậc La-Hán, khuôn mặt thay đổi từng lúc từng hồi, từ chỗ ngạc-nhiên nầy sang ngạc-nhiên khác nói lên: Lành thay, lành thay! Huyền Cơ vận-chuyển ánh-quang chúng ta bị mờ thay vào giòng-quang rạng-rỡ vận-chuyển cho đến nỗi mặt đất rung-rinh, thân hình nhẹ-nhõm. Các ông nào hay biết thì làm thế nào vọng-tưởng tu-đạt huyền-cơ vũ-trụ, làm thế nào đòi ngự-trị vạn-pháp trọn-vẹn bất-sanh an-lành bất-tử? Vị nầy nói vừa dứt, Huỳnh-Quang tỏa khắp phơi-bày, làm cho tất-cả hào-quang của các bậc La-Hán chưa còn nhìn thấy. Tiếng nhạc cùng với hương-đàm lần đưa thơm-ngát, có từng cánh hoa từ hư-không rải xuống khắp sân-chùa, tựa như trải tấm nhung-hoa. Ngôi chùa PHỤNG-HOÀNG-TỰ biến dần trở thành TÒA LÂU-ĐÀI LONG-BỬU-TỰ, tất-cả toàn-diện đính ngọc Bảo-Châu, nên thêu-dệt bằng kim-cương ngọc-bích hoa vàng lấm-tấm mã-não trân-châu, Các vị A-La-Hán đứng lên, trở về đơn-vị gần cổng chùa LONG-BỬU, thật cao-quí thay cho Bảy giòng-quang đưa lượn theo chiều sóng-nhạc đẩy-đưa in-tuồng đón-mừng bậc Chánh-Giác.
Khi bấy giờ Mười-Phương Chư-Phật, đồng nói lên câu chúc-tụng Phật-Vương, xong đâu đó nói với chư-vị Bồ Tát. Nầy các Ông hãy đi đến Khánh-Trang-Tỉnh, Long-Phụng-Sơn, Long-Bửu-Pháp, có Vị Phật-Pháp Hiệu Phật-Vương, thị-hiện thời Hạ-Lai. Vị nầy có nhiệm-vụ chỉnh-trang Phật-Pháp, chứng-thị hạ-lai, tuyên thời Tứ-Hạnh làm cho tất-cả đang sống vật-vờ, đang tu lầm-lạc trở thành Chánh-Pháp Tịnh-Vương, Nhất-Tôn Tứ-Hạnh, cốt mang đến điềm-lành đưa về Chánh-Giác, các ông nên đến kính-bái chiêm-ngưỡng thọ-trì Tứ-Hạnh Ngài đã bổ-ban Chư Bồ-Tát đồng đảnh-lễ, phóng-quang, nương nơi huỳnh-quang, đồng đến bái-lễ.
Tất-cả các hàng Chư-Thiên, Tiên-Rồng Thánh-Hóa nhìn về Đông-Nam, hương-đàm trùm-tỏa, nghe tiếng trên hư-không phổ-truyền, tất-cả đều mang các phẩm cúng-dường đồng đến bái-lễ.
Khi bấy giờ Tòa Long- Bửu, các cánh hoa tự động kết thành tràng-hoa to bằng Quả Hồng-Đào, tựa như quả mâm-xôi. Phật-Vương thị-hiện, mặc y-áo Bạch-Nhung, đầu đội mão Bảo-Trì màu trắng-hồng nhạt, trên mão có Chín búp-hoa, mỗi búp hoa tỏa ra mỗi hào-quang tia-sáng. Gồm có Huỳnh-Quang, huỳnh-huỳnh-quang. Thanh-Quang có sắc thanh-thanh-quang. Hồng-Quang có sắc hồng-hồng-quang. Hắc-Quang có sắc Hắc-Hắc-Quang, còn riêng nhất Bạch Quang không có sắc Bạch-Quang. Ngài Thị Hiện đầy đủ 32 tướng tốt bước lên hoa, hào quang tia màu vàng. Chư Bồ-Tát, Chư Thiên-Tiên cùng Chư Long-Thần cho đến hàng A La-Hán cùng Thinh-Văn Duyên-Giác, nhìn không nháy-mắt, đồng-thanh xưng-tán, chưa bao giờ nhìn thấy nay nhìn thấy. Bỗng trên hư không xưng-tán, do công-đức vô-lượng Phật mà thị-hiện Vô-Thượng-Tôn, Vô-Thượng-Sắc, vô-lượng-hương đầy-đủ không thiếu-sót. Ngài lên Tòa Sư-Tử an-tọa. Tất-cả các hàng chiêm-ngưỡng lễ-bái, xong đâu đấy theo thứ lớp, theo thứ-vị đồng nhau tĩnh-tọa.
Khi bấy giờ Đức Vương-Phật nhẫn mười hai triệu phút, mặt Ngài an-nhiên bình-dị hòa-đồng với tất-cả, làm cho các hàng thứ lớp thảy đều hoan-hỷ, phấn-khởi ái-kính không còn mảy-may hư-vọng hoài-vọng tập-khởi. Ngài liền nói: Ta khá khen cho thời hạ-lai lạc-pháp nầy mà Thập-Bát La-Hán Hội-Thảo. Chư Vị Bồ Tát đang hiện-hành, hàng hàng lớp lớp tu-trì không nhàm-chán, gìn-giữ bảo pháp trường-tồn. Đối với các Vị, căn-cơ chưa đầy-đủ, trí-tuệ chẳng viên-thông nên chi Trí-Hóa sanh ra vạn-pháp an lành, đặng chánh-báo Nhân-Thiên, đặng tu chứng từng Phẩm-Hạnh. Bằng Trí-Tuệ tối-tăm, trí-hóa tự-sanh các Nghiệp. Sống trong cơn thăng-trầm đủ lối. Tu nơi vạn ý uyên-thâm vòng-quanh khó thoát-sanh tu-đạt chánh-giác. Lý-Sự Tín-Tâm Nhất-Tâm đảnh-lễ Chư-Phật thì có, nhưng đường lối chưa tận-thâm làm sao đắc-quả? Ta vì các ông Thị-Hiện đầy-đủ, CƯ-NHÂN-TƯỚNG, đầy-đủ hoàn-cảnh thâm, vào Sắc-Thinh-Hương-Vị mà bảo các ông đừng Xúc-Pháp. Từ hàng Thiện-Nam-Tử đến hàng Thiện-Nữ-Nhơn, tu-cầu ứng-hiện, tu lấy thọ-lãnh Nhân-Thiên rất hiếm bậc đang tu nơi trực-hiện.
Ngài nói đến đây có vị Bồ-Tát bước ra đi vòng bảy lễ chiêm-ngưỡng lễ-bái thưa gởi: Bạch Thế-Tôn con đã tu-sạch tất-cả chúng-sanh, truy-tầm lấy mỗi một chúng-sanh đều không có, con kính nhờ Chí-Tôn thương con khai-thị cho con, làm như thế nào, tu bằng cách nào cho đặng tận-giác quả bồ-đề nguyện.
Hay thay khéo thay nầy Bồ-Tát Bửu-Tịnh, Ông tu sạch lý-chúng-sanh, chớ chưa tu-đạt Bổn-Lai của mỗi chúng-sanh-giới. Mỗi chúng-sanh-giới, bá-thiên vạn chúng-sanh hợp-hóa trở thành Pháp-Giới. Mỗi một pháp-giới có hằng-hà sa-số chúng-sanh. Ông tận-giác chúng sanh bổn-lai diện-mục. Ông tận-thấu pháp-giới diễn-hành khi bấy giờ Ông Thị-Chứng mới Tận-Thành Tận-Giác. Bồ-Tát Bửu-Tịnh toàn thân thảy đều nở ra hoa bửu-pháp, nhẹ-nhàng tươi-tỉnh vui-mừng xưng-tán, Chưa bao giờ đặng nghe hôm nay mới đặng, Chí-Tôn vô-thượng thị. Xong đâu đấy đảnh-lễ ngồi lại một bên chiêm-ngưỡng.
Các hàng La-Hán, các hàng Thinh-Văn, các hàng Duyên-Giác cùng với Hộ-Pháp, cho đến Hộ-Pháp Bồ-Tát đồng đảnh-lễ thưa thỉnh: Trong khi thưa thỉnh có cả Chư-Thiên cùng hàng Chư-Tiên Lễ-ứng cầu thỉnh:
Bạch Thế-Tôn thương xót chúng con khai-thị cho chúng con có điểm-lành, có nơi nương-tựa trên con đường Chánh-pháp, có một lối-sống từ đời nầy cho đến đời sau nương nơi lời vàng của Đức Thế-Tôn ban-hành tường-tận, khỏi lạc, khỏi sai, khỏi ngờ, tranh-chấp, một khi chúng con trưởng-thành Phật-Đạo, tỏ-rõ lối đi dù chúng con hiện-tại say-mê, ngày mai trực-giác, thưa gởi xong. Bỗng nhiên toàn thân Phật huỳnh-quang rạng-rỡ ngay nơi ngực Ngài phát-hiện thanh-quang bạch-quang tỏa khắp Bảo-Tòa. Ngài nói: hay thay lời các ông thưa thỉnh có lợi-ích cho Chánh-Pháp, có một lối-sống tu đến tận-thành, Ta vì tất-cả thị-hiện xây-dựng cho tất-cả, các ông hãy nghe đây:
Đối với trên con đường Phật-Đạo trưởng-thành thật là Vô-Lượng Công-Đức, vô-lượng Công-Năng nó lại có vô-lượng chốn sai chỗ đúng, vô-biên sai-lạc, lạc-sai nghi-chấp và Chấp-Nghi. Nơi Nghi-Chấp chính là chỗ tu-hành có Hạn-Lượng. Chốn Chấp-Nghi là nơi thiếu Tinh-Tấn. Hai lẽ trên trở thành nghi-chấp cùng chấp-nghi. Bằng Công-Năng Công-Đức đầy-đủ, Tinh-Tấn không ngừng thì làm sao không thành-đạt Công-Năng Công-Đức Tinh-Tấn là chìa-khóa giải mê-lầm. Nó ví như: Kẻ nọ có đi thời có đến. Bằng chưa đi làm sao dến được mà mong.Tinh -Tấn nó cũng như thế.Tinh-tấn quá ư hệ-trọng, Công-Năng Công-Đức không vừa. Nên chi Đức PHỔ-HIỀN nguyện độ phẩm Tinh-Tấn, đưa chúng sanh Bất-Thối Bồ-Đề, giúp chư Bồ Tát Bất-Thối Bồ-Tát vào biển-cả thành-Phật. Khi gần thành Phật, đến lúc thành Phật mới chu-đáo PHỔ-HIỀN-HẠNH là chính-yếu đường tu không-hai con đường giải-thoát vì sao? Vì Tinh-Tấn mới nhiếp-thu TỨ-HẠNH, hoàn-mỹ vẹn-vừa Pháp-Thân tỏ-rõ, Thật-Hiện mà Chánh-Giác.
THẾ NÀO LÀ TỨ-HẠNH?
Thứ nhất : La-Hán-Hạnh.
Thứ hai : Thinh-Văn-Hạnh.
Thứ Ba : Duyên-Giác-Hạnh.
Thứ tư : Bồ-Tát-Hạnh.
Chung gồm Bốn-Hạnh được gọi là TỨ-HẠNH, vì sao? Vì Phẩm-Hạnh của những bậc A-La-Hán gọi là Hạnh-Tướng-Phật: Nếu an-trụ tướng ấy thành-đạt Tướng-Phật thời gọi là BÍCH-CHI-PHẬT, bằng tu-hành Hạnh La-Hán nó lại tùy nơi tu-chứng cấp-bậc an-trụ thì chánh-báo từ hàng Thiên-Tiên Địa-Tiên, trở nơi Ứng-Hiện Trực-Hiện Tam-Thiên Đại-Thiên thế-giới gọi là Tam-Giới.
Bậc tu La-Hán-Hạnh, nương nơi Tứ-Hạnh tu-cầu chánh-giác, thời tận-dụng kinh điển làm ngón tay chỉ, xem kinh cốt liễu-nghĩa không chấp tự-kinh thâu-nhận Trực-Giác, gọi đó là thực-hiện Thinh-Văn-Hạnh.
Bằng tùy duyên cảnh thuận-nghịch mà trực-giác không vì Thuận, chẳng vì Nghịch, tâm phân-đối chướng-ngại nơi Tịnh Bất-Tịnh mà thối-chuyển chấp-nghi, duy-nhất trực-giác mà đặng, gọi là thực-hiện Duyên-Giác-Hạnh.
Khi ba phẩm hạnh trên đầy-đủ, đương-nhiên phát-tâm dũng mảnh vào con đường tu-hành Bồ-Tát-Hạnh, vì sao? Vì hạnh Bồ-Tát tùy căn mà trực-hiện bổn-lai diện-mục nơi Bồ-Tát. Khi Bồ-Tát trực-hiện Ứng-Thân nơi Bồ-Tát, Bồ-Tát giả-mê, như-nhiên có Phẩm-Hạnh đầy-đủ, có uy-nghi, có những lời chánh-đáng nằm sẵn Tự-Tánh của Bồ-Tát xuất ra, không lệ-thuộc giáo-điều, nhưng không làm hại kinh-pháp của Đức Thế-Tôn hướng dẫn. Vì sao? Vì những lời trực-giác kia toàn lời thị-hiện Chư-Phật, nay Bồ-Tát thừa-hành nên phát lời nói ấy. Các Ông chớ nên phê phán lời trực-Giác, tự-giác nói ra, hoặc giả chấp-nghi mà dừng-trụ thời không bao giờ đến quả Bồ-Đề, Nay Ta vì thương các ông nên nhắc-nhở để các ông khỏi tổn-thương con đường tu-đạt. Ngài vừa nói đến đây thời trong hàng Thinh-Văn Duyên-Giác cùng La-Hán, Chư-Thiên đều đứng lên thưa gởi:
Bạch Đức VƯƠNG-PHẬT chúng con đang đi trên đường nầy. Chúng con đang đứng trong đàng nầy, Chúng con đang tu trên con đường nầy. Nếu chờ cho mãn-kiếp, nếu chờ cho đúng-thời, nếu đợi cho đến lúc, chưa đặng gặp Phật, chưa đặng gặp Đại-Tăng thì mới làm-sao tu-cầu chánh-giác? Xin nhờ Đức Phật-Vương cứu-giúp chúng con khai-thị.
Ngài liền phóng-quang nơi Pháp-Đảnh, tỉa ra Chín giòng-quang, nét mặt tươi đẹp vô cùng tận, nở nụ cười tựa như triệu nghìn hoa đàm xòa-cánh. Ngài nói:
May thay, may thay: Các ông là những bậc gặp lúc, những bậc đặng gieo-căn duyên-lành vô-triệu kiếp bị lung-lạc trong các lối đi, gặp bậc Thiện-Tri-Thức chỉ đường hướng dẫn thì làm sao lạc-lối mà sợ-sệt van-xin? Ngài vừa nói đến đây tất-cả vui-mừng vô kể, đồng đảnh-lễ, đồng chiêm-ngưỡng, đồng ái-kính chẳng khác Cha-Lành cứu bầy con đói khổ. Các Tuần-Trời rẻo tiếng nhạc, các Cõi Tiên trải hoa đầy-đủ màu-sắc, toàn là các giàn-hoa quí nhất thảy đều trải đến cúng dường, Ngài lặng-yên thọ-ký công-đức cho tất-cả, Ngài nói:
Các ông hãy nghe, các ông hãy thọ-trì đọc-tụng. Tứ-Hạnh đồng-đẳng như nhau, không lớn chẳng nhỏ, không cao chẳng thấp, bằng thiếu-khuyết một trong Tứ-Hạnh khó mà thành. Phải chăng các ông đã đặng sự đồng-đẳng tu-hành thực hiện Tứ-Hạnh mà Giác-Ngộ chánh-giác chăng? Tất-cả đảnh-lễ thọ-trì, phụng-hành kính bái.
Lúc bấy giờ trời vừa rạng sáng, những bầy chim gọi đàn ríu-rít kêu nhau, những con thú nhỏ chạy trong rừng cây sột-soạt. Ngài đứng lên, thở một hơi dài dưỡng-khí sạch trong của gió rừng mát-mẽ, xong đâu đó Ngài cầm chiếc gậy với nón lá đội lên đầu, bước theo đường mòn trở về Lều-Lá. Ngài sắp đến nơi. Ngài vừa đến chỗ, lòng nơi Ngài bâng-khuâng tự-thán:
Lá chen Lều-Lá cảnh xinh xinh
Ngày đến, năm đi chuyến lộ-trình
Hai mái duyên-lành che nắng gió
Một Vùng Rừng trãi đội trời xanh
Ta tuyên Bảo-Pháp, toàn-dân thỉnh
Về với Gia-Trung mỗi một mình
Chí-Nguyện khai-thông Đời-Sống Đạo
Tâm-Tình thắt-thẻo Tấm-Lòng xinh.
NAM-MÔ TỲ-LÔ GIÁ-NA-PHẬT
Ngày 20 tháng 06
TỊNH-VƯƠNG-NHẤT-TÔN.