BÀI THỨ 15
THỜI Hạ-Lai là thời cuối của Thượng-Kiếp, nó cũng trong thời Đồng-Độ, vạn-pháp đương thời nó phơi bày đủ mọi mặt, nên chi tất-cả Chúng-Sanh thảy đều hiện-tướng. Sự phơi bày nầy, chứng tỏ tiêu-biểu từ Thượng-Sanh đến Hạ-Kiếp diễn hai tấm-tuồng, nhưng là một thể-cách như nhau.
Theo Kinh-pháp thuyết minh Chúng-Sanh nó VÔ-NGÃ, nên chúng-sanh chưa có chi tự-quyết trong lập-trường sáng-suốt khẳng-định như nhiên, dù có khẳng-định, sự-lý khẳng-định nơi tư-thế thụ-sinh mê-chấp hư-vọng chớ nào Giác-Chân khẳng định, vì sao? Vì hình- thức hư-vọng sáng tạo tư-tưởng, tánh-tướng bị sanh mà Lai-sanh nhân-thế, cho đến nỗi vũ- trụ Tam-Thiên cùng hằng-hà sa-số chúng-sanh-giới bị thụ-sanh ứng-hiện, do đó nên chi tất cả Tam-Thiên Đại-Thiên thế giới mới bị sống không ngoài Tam-Giới, chia ra từ Thượng- Giới, Trung-Giới và Hạ-Giới, con người sanh vào kiếp hạ-giới gọi là Lai Sanh.
Tam-Giới đều sinh-sống trong Như-Lai-Tạng hay Pháp-Thân của Đức Đại Nhựt Như-Lai-Phật, chung gồm có Quốc-Độ, Tịnh-Độ nhiều hạng chỉ vì các hàng tu-chứng dựng nên. Thượng-Trung-Hạ, mỗi Cảnh-Giới Thế-Giới, đều có qui-chế Lục-Đạo, Lục-Đạo này để bổ sung Chánh-Báo hưởng thụ, Thọ-Báo cực-hình phạm-vi chúng-sanh trong cõi đó.
Thọ-Báo Chánh-Báo nó ảnh-hưởng kiếp-sống tác-tạo của chúng-sanh, từ hành-động đến tư-tưởng mà hình-thành, như: Rộng-rãi, eo-hẹp, đắn-đo, so-tính, Thù-Hận, hoặc bao- dung cứu-giúp mà bị xếp hàng theo thứ lớp của Lục-Đạo, không ngoài: Thiên-Nhân, A-Tu-La, Súc-Sanh, Ngạ-Quỉ, cùng Địa-Ngục.
Ví như: Cõi Thiên hay Cõi Tiên, liền ứng trực thị-hiện nơi Tâm-trí Lục-Đạo chạy vòng quanh các Thiên-Tiên, gọi đó là Lục-Đạo của Thiên-Tiên. Đến như hiện tại Cõi Nhân mỗi Nhân Sinh đều có Lục-Đạo nó bao quanh trong Con Người Nhân-Thế. Mỗi cõi, mỗi Cảnh-Giới thảy thảy đều sẵn có Lục-Đạo sắp xếp an-bài. Lục-Đạo chính là nguồn-gốc thao- diễn, nên mỗi mỗi Con Người chung khắp Nhân-loại, nhịp nhàng bất-tận, vì lầm theo nó mà có, chớ chưa phải Lục-Đạo là điều bắt buộc chư Thiên-Tiên với con người phải sa vào Lục- Đạo. Khi thật tỏ-rõ Lục-Đạo không còn bị-trực nơi nó, gọi là Tri-Kiến hay Giải-Thoát vậy.
Từ mỗi một lối sống, Kiếp-sống tuổi thọ dài ngắn, tùy thụ-sanh vào Cảnh-Giới. Chúng-Sanh toàn-diện nơi đó tùy-thuộc Qui-Chế được sống trong phạm-vi tuổi thọ không quyết-định, mà phải nhất-định từng Cõi. Như Thế-Gian tính ra mỗi Thế-Kỷ Một-Trăm-Năm, mỗi kiếp là 80 tuổi chẳng hạn, đối với hạn-lượng Tiên-Thần hay Cõi Thiên vẫn như thế.
Còn sự vui-buồn sướng-khổ, hay trình-độ thụ-hưởng hay bị hưởng cao-thấp khác nhau, nhưng lớp lớp chúng sanh không ngoài thụ-hưởng và bị hưởng. Chẳng khác ở thế gian Kẻ Giàu Người Nghèo, kẻ sướng người khổ cùng bậc Chức-Vị đến Dân-Giã, nhìn sai-biệt mà nơi Lục-Đạo bản-năng làm căn-bản chính.
Đối với Chư-Thiên hoặc giả chư Tiên đến Con Người Cảnh-Giới của mỗi cõi, không thể giải nói với kẻ chưa biết chi, vì kẻ chưa biết họ sống nhỏ hẹp nơi quan-niệm, nên họ cầu vái lấy sự cầu-vái linh-thiêng cho đó là giao-cảm. Họ lại Tưởng-Niệm thành-thử cho tuổi thọ của Tiên-Thần Thánh-Hóa sống mãi không bao giờ bị chết trong vòng sanh-tử. Đến nỗi Tiên-Thần Thánh-Hóa còn quan-niệm Phật-Giới không đổi thay, chỉ tuổi thọ bất-đồng mỗi nơi định-kỳ kiếp-sống. Cũng như: Các loài thú-vật quan-niệm Con Người sống mãi thì sao?
Trên đã phân-định Thời-Gian và Không-Gian theo Tam-Giới Thượng-Trung-Hạ. Về Vũ-Trụ Nhân-Sinh vẫn có Ba-Thời vận-chuyển Tâm-Tánh Con Người, do nơi Thời mà con người bị thời hướng-dẫn. Bởi nơi Mê mà Lục-Đạo đưa đường để các bậc tu-hành sát-thật chứng-tri.
Ba thời trong Vũ-Trụ đối với Con Người chia ra là thời Thượng-Cổ thời Trung-Cổ được gọi là thời Trung-Kiếp hay Hiền-Kiếp cũng thế. Còn Hạ kiếp gọi nó là thời Mạt-Kiếp, con người tùy thời mà giảm thọ theo từng thế kỷ.
Thời Hạ-Lai Mạt-Kiếp là thời cuối của ba thời. Tâm-Tánh lối sống của thời Thượng- Cổ khác hẳn với thời Hạ-Kiếp, nhưng lẽ-sống vẫn đồng nhau trong một chiều-hướng sống. Thời Thượng-Cổ con người ngu-dại, nhưng Độc-Ác vô cùng giết nhau chém nhau không kiên-sợ, Hành-Hạ hại nhau không Hối, đánh-đập nhau chẳng xót thương. Con người trong thời Thượng-Cổ, chẳng khác với loài thú dữ, toàn dân đương thời Thượng-Cổ chỉ biết lương- thực món ăn, có thể người ăn thịt người là sự thường trong lẽ sống, nó mãi như thế. Cuộc sống lẽ sống trải qua thời Thượng-Cổ có hàng triệu triệu thế-kỷ của loài người Hung-Bạo Độc-Ác làm căn-bản. Do Hung-Bạo mới làm Bá-Chủ Thượng-Cầm Hạ-Thú, vì độc ác nên chi con người tự-trị con người, ngoài ra chưa có loài nào làm chủ con người đặng cả.
Con người trong thời ấy đều xem như Con Vật, nhờ sự khôn-ngoan có trí hóa phát- sanh, mới phát minh cải-hóa đặng nhiều lối sống. Từ chỗ ăn lông ở lỗ cho đến y-áo cùng các thức-ăn hương-vị. Con Người lần-lượt đến gần cuối thời Thượng-cổ đã có sự-sống để Sống. Khi con người có nề-nếp sống, thì trái-lại bảo-vệ lẽ-sống, do đó nên chi đâm ra kiêng- sợ sự-sống bị đe-dọa của mình, sự đe-dọa thứ nhất là Hung-Bạo, cho nên mới bước sang qua thời Trung-Kiếp.
Thời Trung-Kiếp là thời xây-dựng con-người bảo-vệ đời-sống. Sự bảo-vệ nơi căn-bản là Đạo-Đức, dẹp bỏ tất-cả từ Ngôn-Ngữ đến hành-động Hung-Bạo, độc-ác vô-nhân. Thời này vẫn tùy thời-cơ, thời-thế hay thời-cuộc trình-độ hướng-dẫn con người, nhờ như thế nên phát-hiện từng lớp nhân-loại, từng thứ bậc trọng-đại yếu-nhân ra dạy dỗ. Tất cả chương- trình trong thời nầy không ngoài LÀM-LÀNH, LÁNH-DỮ, xa hẵn lối sống sát-hại nhau, thương-mến nhau, trên thuận dưới hòa, nhẫn-nhịn nhau đầy-đủ khía-cạnh.
Do-đó mới có hàng Thánh-Nhân, chia ra từng lớp để dễ-dàng nhận-định, Thánh-Tăng, Hiền-triết. Thời Trung-Kiếp vẫn trải qua hàng triệu-triệu thế-kỷ dạy-dỗ phát-huy được nhiều ngành đến ngày nay mới có. Nó mãi đến cuối thời Trung-Kiếp được gọi là Hiền-Kiếp. Thời Hiền-Kiếp dân rất lành, đời sống sung túc, nhưng trái-lại Háo-Danh, từ nơi háo-danh đưa lại cho con người ưa thích Thần-Thánh-Hóa, tự sanh nhiều mê-tín, Tế-Thần, Tế-Lễ sát hại súc-vật, cho đến nỗi mang người ra cúng-tế, gả bán, dâng-cúng cho Thần, được Thần giúp-đỡ dân-lành an cư làng-xóm. Do lẽ ấy mới chia ra rất nhiều Tông-Phái Thần-Linh, chia ra từng giai-cấp bất-công trong xã-hội với con người.
Vẫn đương-thời ấy Thái-Tử Tất-Đạt-Đa, tại Ấn-Độ ra đời. Ngài vẫn là Con Người, chung với tất cả con người, có đức-tánh dung-hòa. Nhãn-Quang, Trí-Hóa kiểm-soát Lục- đạo, nhiếp-thâu lục-đạo, hoàn toàn Giải-Thoát Vô-Thượng Chánh-Giác. Ngài là bậc toàn- thiện lời chỉ-dạy toàn-diện, lời toàn-diện là lời bất-hủ, nơi Kim-Thân lời vàng. Lời vàng giáo-huấn cho nhân-loại từ một kiếp đến vạn-kiếp đều áp-dụng xây-dựng cho con người đặng an-lành, đặng Tri-Kiến Giải-Thoát. Ngài chính bậc Thượng-Đẳng, hơn tất cả các vị Thánh-Nhân, Hiền-Triết, Thánh-Tăng cùng Thánh-Đạo, nên chi Thế-Gian mới suy-tôn Ngài đấng Vô-Thượng Thế-Tôn.
Đức Thế-Tôn Ngài đã tỏ-tường Tam-Giới nơi thời-gian không-gian, lại tận thấu Thời-Cơ vạn-kiếp của thế-giới với con người, sống nương theo mạch-lạc thời-cơ quyết-định Hạ-Kiếp Lai-Sanh. Khi đến thời-cơ Hạ-Kiếp tất-cả Thiên-Loài Nhân Loại phải chịu tuần- hoàn vạn-cảnh nơi thời Mạt-Pháp chuyển-quay. Ngài mới Tuyên-Ngôn minh-thuyết, sau thời Hiền-Kiếp qua đến hai ngàn năm sau Mạt-Pháp. Sự sống-chết tử-sanh biến đổi. Chúng- sanh đang sống rộng-rãi trở thành nhỏ-nhen, từ thanh-cao biến thành đê-tiện khó tu, khó chứng, do nơi tham-cầu tham-muốn mà phải cạnh-tranh chạy theo dục-vọng.
Trong thời Hiền-kiếp nó dục-vọng về Danh-Giả, đến thời Mạt-Pháp nó nặng về Ngạ Quỉ, Súc-Sanh cùng Địa-Ngục lai sanh ba đường-ác. Thời Hiền-Kiếp Nhân-Thiên làm chủ- trì. Thời Mạt-Pháp ba đường-ác chủ-động, nên chi vướng vào Lý-Chướng Sự-Chướng khó tu mà đoạn-duyên Phật.
Từ khi Đức-Thế-Tôn nhập Niết-Bàn, bậc tin Phật tu-hành nhiều gấp trăm-triệu người. Nhưng nhận-chân rất hiếm, xem kinh-điển nghiên-cứu đa phần, còn thực-hiện trực- giác lại kém. Chung lại nơi Nhân-Thế kể ra hàng Trăm-Triệu, chỉ chứng-quả lấy một vị mà thôi, vì sao? Vì một là chưa thấu-đạt bản thân chơn-giác. Hai là: Tu chưa thấu rõ Thời-Cơ Hiện-Kiếp, đa số căn-cứ mãi một chiều-hướng làm cho đường tu chính mình bị chết khô nơi tông-giáo. Khi chưa rõ duyên-căn thời-cơ, thời đường tu nơi mình bấn-loạn. Sự liễu-thông của chính mình nằm nơi giả-thuyết. Nếu tận duyên-căn thời-cơ nơi hiện-kiếp mới Thật Chứng, thì sự liễu thông kia trở thành lời Minh-Thuyết không còn là lời giả-thuyết, đó chính là một yếu-điểm Giải-thoát-môn.
ĐẾN THỜI HẠ LAI :
Thời Hạ-Lai là thời Chung-Kết Tam-Giới Thượng, Trung và Hạ. Mỗi thời nó có mỗi lối sống. Thời Thượng-Cổ đơn-giản hung-bạo kém-trí làm một lối sống. Thời Trung- Cổ dạy-dỗ xây nền-tảng con người theo một chiều-hướng làm lối sống. Thời Hạ-Lai phát- triển văn-minh khoa-học làm lối sống. Đó chính là ba chỉ-tiêu của ba thời đưa nhân-loại cho đến đích lối sống.
Lối sống thời Hạ-Lai đa phần sống theo lý-trí hơn là Nhân-Nghĩa của thời Trung-Kiếp. Còn lại một số ưa Trung-Kiếp hơn Hạ-Lai, nên chi thân-tâm đang còn ngưỡng-vọng Đạo-Đức trong căn-bản Hiền-Lành mới có hai lối sống hiện-tại.
Đem so-sánh hai thời Thượng-Cổ và Hạ-Lai mới thấy hai lối sống trở thành một lối sống của Hạ-Lai và Thượng-Cổ. Con người thời Thượng-Cổ kém trí Hung-Bạo. Người trị người cùng các loài độc-ác. Thời Hạ-Lai con người đa-trí khôn-ngoan không hung-bạo nhưng kỹ-thuật trị người cao, sử-dụng con người với con người theo nền Khoa-Học.
Khoa-Học văn-minh hiện-đại mà đoạt đến đích hoàn-cầu thế-giới thì con người có lối sống như Thần-Tiên, vì sao? Vì Khoa-Học phụng-sự cho con người. Nhưng sự tiến-triển của khoa-học đang thực-nghiệm của một vài Cường-Quốc, cùng bao nhiêu nước chật-vật mua bán đổi chác, học đòi trong khoa-học để áp-dụng con người lấy con người phụng-sự nền khoa-học, đặt con người chạy theo lớp lớp khoa-học, thì làm sao con người tránh khỏi thời Mạt-Pháp.
Đứng vào ngành khoa-học của Thần-Túc-Học để phân-tách, thì con người vạn-vật đang sống trong Vũ-Trụ, nếu cho nó ăn để nó sống chưa phải cái sống cho nó sống, bằng tất-cả nhu-cầu sẵn-sàng đáp-số cho nó sống thời chưa hẳn nó đặng sống. Thật ra nó chỉ sống với tinh-thần thâu-nhận Nguyên-Tinh thì nó mới có nơi sống.
Nguyên-Tinh Chất là cái gì ? Là cái sẵn sống của con người với vạn-vật, gọi là thiên-nhiên Vũ-Trụ đã có sẵn dung-dưỡng tất-cả đặng sanh-sống. Một khi con người Tắt-Thở, có nghĩa không thâu-nhận nguyên-tinh thì gọi nó là Chết. Nhưng nào có chết, chất sống một thời-gian nào xuyên qua thân Ma-Xác, thân-ma-xác liền hóa ra vi-trùng, sự hợp-hóa vi-trùng, những loài vi-trùng này vẫn được sống trong Xác-Ma. Phải chăng không có cái chết chăng ?
Nền khoa-học chưa thâu-đạt hoàn-mỹ về khoa Thần-Túc-Học, khoa thần-túc học nầy nó nằm nơi Thiên-Hòa Địa-Lợi, mới thấy con người và sự sống của vạn-vật cần có nguyên-tinh mới sống, chưa phải khoa-học thành-tựu hoàn-toàn cung-cấp cho con người và thế-giới đặng sống đâu.
Từ nơi chất-sống dung-dưỡng con người, con người sống không ngoài Bồi-Dưỡng nguyên-tinh-chất nên chi đã từng hấp-thụ chất-sống mới phát-sanh: Có Cảnh-sanh-Tình, tình-cảnh hoàn-cảnh thực nghiệm thì đặng thông-thái, bằng hoàn cảnh than-van, tự mình tiếp-thu phiền-não, khi phiền-não hờn-giận oán-trách thì không thể thu-nhận nguyên-tinh con người tự sanh đau bệnh. Bệnh hoặc Lão-Khổ là nguồn-gốc bế-tắc nguyên-tinh, đó chính lời chân-thật.
Tất-cả các Độc-Giả cùng các Bậc Tín-Tâm tu-Phật hãy đọc kỹ, xem kỹ cốt đem đến sự hiểu-ích có lợi cho chính bản-thân mình là hơn tất cả. Tài-liệu này là một tài-liệu: Đạo-Đời hợp-nhất Trường-Tồn Phật-Tôn. Nếu là bậc có chí truy-tầm để mà trực giác thì mới công-nhận tài-liệu nầy đúng-đắn. Bằng tu-đạo để chứng-từ có đạo đặng tu thì, khó xem, khó hiểu vô cùng vậy.
Con người cùng thế-giới nương nơi Cảnh mới phát-huy do hợp Tình mà thoải-mái, cho nên trên hoàn-cầu thế-giới tùy Cảnh tiến-triển, tùy tình mới phát minh của mỗi nước mà Văn-Minh Tiến-Bộ. Mỗi Dân-Tộc khác nhau về Trình-Độ, dân-tộc nơi mỗi nước trình-độ càng cao thì Nước nơi đó sung-sướng lành-mạnh, trình-độ thấp dân-tộc đói-khổ, đó là Nguồn-Sống sự-sống phát-hiện ra sự sinh-hoạt sướng khổ trợ-giúp con người.
Con Người đối với Cảnh, con người khôn-ngoan lành-mạnh hoặc mưu-sĩ xảo-trá do Cảnh điều-động hướng-dẫn con người. Chớ nào phải con người hướng-dẫn Cảnh? Ngặt-nghèo thay! Đích nơi con người nào có Có, vì con người nương nhờ cái sống nguyên-tinh, sự-sống do Cảnh hướng-dẫn để sống.
Từ vạn-Cảnh lần lần thay-đổi. Thế-cuộc có nhiều bộ mặt đổi-thay. Sự đổi-thay nay chưa hẳn là Cảnh đổi-thay hay Tình để thay-đổi, nó do Nhân-Vật có nền-tảng suy-tưởng mạnh, cho nên được gọi là suy-tưởng phát-huy, nhưng suy-tưởng kia nó không ngoài Lục-Đạo mà suy-tưởng. Vì sao không ngoài Lục-Đạo đặng suy-tưởng thời con người nên nhận-xét kỹ mới nhìn-nhận suy-tưởng không ngoài Lục-Đạo Hướng-Dẫn để con người hợp-cảnh sanh tình, thì chính đích chính thuộc-quyền Lục-Đạo, cơ-cấu phụ sở-hữu Cảnh dẫn Tình.
Lục-Đạo là một Nguồn Máy động-cơ, chủ-yếu con người không thoát khỏi Lục-Đạo nên con người suy-tưởng không ngoài suy-tưởng: Thiên-Nhân, A-Tu-La, Súc-Sanh, Ngạ-Quỉ và Địa-Ngục. Thiên-Nhân là suy-tưởng thanh-thoát. A-Tu-La là Nóng-Giận. Ngạ-Quỉ Căn căn-tánh tham-lam, Súc-Sanh-Giới là vòng-đai mong-muốn. Địa-Ngục-Môn tự mình độc-ác phải tự mình chui vào. Con đường Lục-Đạo bao-vây, tùy theo Thời mà xuất-hiện nơi tâm-tánh con người. Chính thời Hạ-Lai này, Đơn-Vị Hung-Bạo của A-Tu-La, Dòng-Dõi Súc-Sanh-Giới. Địa-Hạt Ngạ-Quỉ-Căn. Hùng-Biện Địa-Ngục-Môn. Bốn-Tướng làm chủ-trì điều-hành con người cùng thế-giới phải chịu. Còn Thiên-Nhân trong thời Hạ-Lai rất hiếm, chỉ nơi lòng của một con người nào ưa-chuộng gìn-giữ mới huân-tập nó lai-vãng đến từng lúc với vị đó mà thôi, vì sao? Vì Nhân-Thiên-Đạo hai đạo này, thời Trung-Cổ làm chủ-động, thời hạ-lai phụ-tá mà thôi.
Đến thời kỳ Bốn-Tướng phát-huy, chủ-đích của con người theo Bốn-Tướng. Ba-đường-ác thạnh-hành, tất-cả con người thảy đều hiện-thân theo bốn-tướng mà hoạt-động, chỉ dùng món ăn làm lẽ-sống, lấy y-phục Cửa-Nhà khang-trang giàu-mạnh làm chỗ sống, lấy giống-Đực và giống-Cái thông-Dâm làm mức sống. Ngoài ra tranh-dành đấu-trí nhau, đến lúc thất-bại sanh ra chém-giết nhau, bảo-vệ Bốn-Tướng trong lớp sống Hạ-Lai.
Thời Hạ Lai Mạt-Kiếp con người rất Khôn-Ngoan, có bộ-óc tự-lập, có lý-trí tự-do, tự-do kia mỗi con người thảy đều mang lấy nó, nên mới xảy ra nhiều lối tự-do quái-đản, chẳng ai nghe lời ai dạy cả, họ có nhiều lý-trí bác-bỏ nhiều vấn-đề, dù vấn-đề bồi-dưỡng bổ ích bản-thân nơi họ, họ vẫn chưa chịu nghe, dù cho có nghe không thực-hiện làm sao kết-quả được bổ-ích, trở thành không bao giờ qua được trở-lực của Lục-Đạo mà thoát sinh.
TẠI SAO KHÔNG QUA NỔI CHỦ-LỰC LỤC-ĐẠO?
Do mỗi một con người có một đích sống quan-niệm lẽ-sống của một tướng-môn thì làm sao qua chủ-lực được Sáu-Đạo mà thoát-sinh khỏi Lục-Đạo?
Có kẻ ưa thích Tướng-Môn A-Tu-La hay A-Tu-La Thần-Quỉ, hoặc Dòng-Dõi Súc-Sanh-Giới, hoặc Ngạ-Quỉ-Căn cùng Địa-Ngục-Môn đều tường tận, chứng tỏ Tướng-môn nơi mình là hơn hết, chẳng bao giờ nghe tướng-môn khác trình-bày. Sự tự-mãn đường đi, nước bước tự-hào tự-tín, thành thử mỗi mỗi đều gìn-giữ quan-niệm, nên không thể nào làm sao qua khỏi Lục-Đạo. Được gọi là: Ngành nào theo ngành nấy, chỉ vì nó đã thụ-nghiệp.
Thời Hạ-Lai thuyên-diễn, nó đi ngược lại với thời Trung-Kiếp quá nhiều, nhưng theo tâm-khảm tấm-lòng nhân-loại vẫn ước-mơ mơ-ước nuôi-mộng Hiền-Nhân, cho nên Lục-Đạo ngọn gió phong-trào đưa đẩy bằng cách nào, khi con người tham-vọng đến tuyệt-vọng phải hồi-hướng Trung Kiếp Lai-Sanh. Sự thuyên-diễn nầy không riêng chi nhân-loại mà chung tất-cả những Bậc đã từng nhất-định thoát-sanh, truy-tầm phương-thức pháp-môn giải-thoát, phải lăn mình trong Đạo-Giáo Tôn-Giáo cầu lấy Tu-Chứng Thực-Chân để Chứng-Tri Phật-Đạo.
Càng xả-thân cầu-đạo bao nhiêu lại càng lưu-trữ giáo-điều Tam-Tạng kinh điển hồi-hướng mơ-tưởng hoài-vọng nơi Trung-Kiếp của Đấng-Chí-Tôn lưu lại, đến giai-đoạn xem như tan-vỡ mộng-vàng vẫn nằm trong Phước-Báo cầu-báo như tất-cả – không hơn kém. Sự hiện-diện kiến-tri của Phật-Đạo, đối với nơi nhận-định của con người rất khác-biệt nhau, một bên hiện nơi Lục-Đạo hiện-hành, nhân-sinh kết-quả, còn một bên huân-tập Trung-Thời, bị sống nơi mơ-màng chân-lý thì biết tính sao đây ? Do nơi đâu mà trở nên như vậy? Do nơi chưa biết căn-cơ của mỗi mỗi Chúng-Sanh-Giới mà hướng dẫn. Tại chưa rõ Thời-Cơ nơi kiếp Hạ-Lai để tu hành hiện-thân theo dân-chúng mà huân-tập Giác-Chân đặng sở đắc Nhất-Tướng về với Như-Tướng mà Viên-Thông, cứ mãi gìn-giữ Giáo-Điều gọi là xây-dựng, nào có xây-dựng chi đâu lại bị sanh muôn ngàn tâm-chí Cô-Đọng, tự phát-sanh nuôi dưỡng không-chấp bị chấp-không gọi là Chánh-Pháp.
TẬN DỤNG THỜI HẠ LAI
Phật-Đạo tùy Căn-Cơ cứu-độ, tùy Thời-Cơ lưu-hành mới Chứng-Tri Phật-Đạo. Đó là chính-yếu đối với Bậc Tu-Phật. Chỉ sợ chưa biết Tu, chớ đừng sợ không Giải-Thoát. Đương thời Hạ-Lai, dù cho Đức Di-Lạc Tôn-Phật ra đời chăng, vẫn tùy-thời mới xuất-hiện, vẫn tùy-căn cứu-độ Tứ-Loài. Ngài tùy thời-đặng THƯỢNG-SANH-ĐÂU-XUẤT-MÔN, Ngài tùy-Căn HẠ-LAI VÔ-THƯỢNG-TÔN.
Nơi Hiền Kiếp Hạ-Lai, tất cả nhân-sinh tứ-loài thảy đều hiện-thân Lục-Đạo, đa-số từ A-Tu-La, Ngạ-Quỉ, Súc-Sanh, Địa-Ngục, còn về Nhân-Thiên đứng vào hàng thiểu-số, thời làm sao DI-LẠC TÔN-PHẬT hiện thân Thiên-Nhân cứu-độ?
Ngài đã từng minh-thuyết:
THƯỢNG-HẠ HÒA AN-HẢO
SUY-TÔN KHAI ĐẠO-TRÀNG
NHẤT-NGÔN TRI-KIẾN-PHẬT
HOÀN-TẤT GIẢI-THOÁT-MÔN
Ngài vừa minh-thuyết xong, thực-hiện Tận-Dụng Thời Hạ-Lai. Thiên-Tiên mừng rỡ vỗ-tay. Địa-Tiên than-thở chau-mày khóc than. Nhân-Sinh đi đứng ngỡ-ngàng. Các hàng Bồ-Tát cười vang vui mừng.
Vì sao ? Vì Thiên-Tiên là bậc nhẹ-cảm, từ quá-khứ vị-lai rất giao-cảm với bậc nầy, tất-cả di-chuyển điều-động vạn-pháp xuất-hiện hay lưu-hoàn thảy đều tỏ-thông liễu-ngộ, chỉ sút kém với hàng Bồ-Tát chưa biết thân-mạng nơi mình đổi-thay, thay-đổi như thế nào để giải-quyết Sanh-Tử Lão-Khổ mà thôi.
Bậc Thiên-Tiên nhìn thấy Vũ-Trụ thanh-quang buông-tỏa, dân-cư an-lành, đến đời Hạ-Lai Mạt-Kiếp Địa-Ngục phát-sanh, khói-nghiệp tràn đầy, liền có Huỳnh-Quang nương theo cứu-độ. Nhìn Huỳnh Quang cứu-độ Tứ-Loài, Thiên-Tiên mừng rỡ vỗ tay.
Còn Bậc Địa-Tiên than-thở chau mày khóc-than. Bậc Địa-Tiên, luôn luôn ngưỡng-vọng thời Trung-Kiếp, sống mãi nơi lòng của Địa-Tiên. Đến giai-đoạn hỏa-ngục phất, Phật-Đạo tận-dụng thời Hạ-Lai cứu-độ. Tất-cả hàng Bồ-Tát tận-dùng nơi Phổ-Môn Quán-Âm Thị-Hiện mà cứu khổ. Hàng Địa-Tiên nào hay biết, than-thở Phật-Đạo suy-đồi, mạt-pháp làm cho Phật-Đạo tan vỡ, Chư-Thiên Sa-Đọa Lai-Trần, Bồ-Tát lai-sanh nơi Địa-Ngục mà than khóc.
Hàng Nhân-Sinh nào hay biết, hiện-tại lối sống ra sao, tương-lai như thế nào, cầu-đạo chưa tường trong lối Đạo, biết nơi nào là chốn Phật-Đường để gởi xác nuôi thân-mạng sống-chết ra sao? Tất-cả nhân-sinh đang ngơ-ngẩn chưa truy tầm ra Chơn-Giác. Từ chỗ mơ-hồ ám-ảnh, Phật-Thuyết Ma-Thuyết ra sao, gìn-giữ Giáo-Điều tiểu-căn làm nơi Phước-Báo, làm lành tránh dữ, đặng yên thân.
Các hàng tu Đại-Thừa thực-hành Hạnh Bồ-Tát, nương vào vạn-pháp viên-thông, Tịnh Bất-Tịnh thảy đều nhiếp-thâu tận-giác. Do-đó mới kiến- tạo công-năng, nương nhờ nơi Công-Đức mà Tận-Dụng thời Hạ-Lai mà Sở-Đắc.
Thời Hạ-Lai chính thời Đồng-Độ, sự tu-hành đặng Phước-Báo quá nhiều, nơi Thiện-Căn được đáp-số chưa phải là ít. Nơi biết tu tận-dụng Hạ-Lai mà Giác-Ngộ. Tất-cả Nhân-Sinh Tứ-Loài nương vào Hạ-Lai Mạt-Kiếp được độ Nhân-Thiên. Đức DI-LẠC TÔN-PHẬT Tận-Dụng Hạ-Lai Tận-Giác Vô-Thượng-Tôn. Lành thay! Lành thay! Đức Chí-Tôn Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni-Phật khéo biết, khéo tường-tận chốn Hạ-Lai Đồng-Độ.
NAM-MÔ ĐƯƠNG-SANH HẠ-LAI DI-LẠC TÔN-PHẬT
KỶ NIỆM THỜI HẠ LAI.
TỊNH–VƯƠNG NHẤT–TÔN
