Như Lai Thiền

 MINH-ĐỊNH VỀ NHƯ-LAI-THIỀN.
 Về NHƯ-LAI-THIỀN duy chỉ có Đức ĐẠI-NHỰT NHƯ-LAI PHẬT mới chủ- trì trọn mà thôi, còn kỳ dư những vị Hiện-Thể như PHẬT chẳng hạn vẫn thừa-hành TÔN để mà Chỉ-Đạo môn Như-Lai-Thiền, vị ấy dùng phương-thức tùy thời đưa Bồ-Tát tu hạnh, lập môn đến chừng Bồ-Tát Sở-Đắc Nhất-Tôn Như-Lai-Thiền.
 Vì vậy đời nầy hoặc đời sau, nếu bậc Tín-Tâm gặp đặng PHẬT, vị Phật thừa-Hành chỉ-Đạo theo môn Như-Lai-Thiền thì Thiền ấy mới đúng Như-Lai-Thiền, bằng chẳng như thế khó mà tu đặng Như-Lai-Thiền.
 Ngoài ra bậc Tín-Tâm gặp Bồ-Tát, vị Bồ-Tát ấy một là sáng-tác danh-nghĩa Như-Lai-Thiền, hai là y theo TÔN tập Như-Lai-Thiền nầy, dụng tất-cả phương-cách chỉ dạy cho Tín-Chúng, sau Tín-Chúng Sở-đắc Thiền-Môn, thì Thiền-Môn ấy chẳng phải sở-chứng Như-Lai-Thiền, chính là Bồ-Tát-Thiền. Đến như A-La-Hán, Bích-Chi, Thinh-Văn, Duyên-Giác, phàm-phu hoặc ngoại-giáo gặp đặng tập Như-Lai-Thiền đem tập Thiền nầy ra chỉ dạy cho Tín-Chúng Đạo-Hữu y theo môn-chỉ đến nơi kết-quả, thì sự kết-quả tùy theo Sở-Chứng mức-độ A-La-Hán, Bích-Chi, Thinh-Văn, Duyên-Giác, phàm-phu hay ngoại-giáo mà thôi.
 Đối với Như-Lai-Thiền là một môn Tối-Diệu Tâm truyền Tâm Ấn-Chứng mật-thiết liên-hệ với cấp-bậc căn-bản Giác-Ngộ, Vô-Thượng Bất-Nhị Viên-Dung trùm khắp không thiếu sót. Nếu vị nào Sở-Đắc tận cùng thời như thế, cho nên bậc Chỉ-Đạo Thiện-Tri-Thức phải là bậc Hoàn-Toàn Giác-Ngộ, thời Tín-Chúng được Ấn-Chứng trong ngày Lễ Phát-Bồ-Đề-Tâm vào Dòng NHƯ-LAI, được tu Như-Lai-Thiền thật là một Pháp-Môn khó nghĩ-bàn đặng.
 Như-Lai-Thiền không thể dụng Lý-Trí, bằng văn-tự luận-giải hoặc nghiên-cứu mà triệt-thấu Nhãn-Tạng. Cũng chưa thể đứng ra nói cho Bậc chưa Giác-Ngộ mà nhận-chân được. Vì sao? Vì Bậc chưa Giác-Ngộ Tâm đang đầy hư-vọng nghi-chấp thành thử nghe không đặng minh-xác Như-Lai-Thiền. Cho nên càng dùng Trí dự đoán, càng dụng Luận để thông-đạt bao nhiêu lại càng lạc-lõng bấy nhiêu. Có nhiều Bậc tu huân-tập, tu Cấu-tịnh, tu Định-tưởng bao nhiêu lại càng vấp phải lỗi-lầm bấy nhiêu. Chỉ trừ ra có Bậc Sở-Đắc Pháp-Tánh, tự soi Thể-Tánh Như-Lai-Thiền thì mới tỏ-tường được Thiền Như-Lai chung gồm duy-nhất. Như-Lai-Thiền Thể-Tánh vốn sẵn an-nhiên tịch-tịnh viên-dung bình-đẳng, Bậc tu như thế mới gọi là THIỀN-TRÍ. Nhờ Thiền-Trí Hành-Giả mới soi sáng được các Nghiệp-Chủng của mỗi vị tu Thiền thọ-chấp nơi Nghiệp-Thức của mình trở thành tu-chứng khác-biệt, thấp cao. Nhờ soi được Tín-Chúng, lại nhờ chính mình soi nghiệp-cấu nơi mình mà thật-chứng Tri-Kiến Giải-Thoát.
 Thời đang còn các Chư Tổ chỉ dạy về Thiền-Tông, thời ấy hãy còn Chân-Truyền. Hai nữa trong thời Trung-Kiếp Tín-Chúng giữ trọn TIN-VÂNG, chưa đặt ra vấn đề nghiên-cứu thành-thử ít dùng LÝ để Chướng với TÔNG. Do đó tìm tòi cũng yếu kém. Thế mà TỔ vẫn phải thành lập mục-tiêu chính-đáng để làm cây kim Chỉ Nam cho Tín-chúng nương theo tránh khỏi sai lạc. Mục-tiêu ấy là TÔNG- CHỈ- THỂ- DỤNG như sau :
 Lấy KHÔNG TÀ NIỆM lập TÔNG
 Lấy CHẲNG KHỞI-VỌNG lập CHỈ
 Lấy THANH-TỊNH-TÂM lập THỂ
 Lấy TRÍ-TUỆ lập DỤNG.
 Đến sau cùng có một vài vị Thượng-Tọa Đại-Đức vẫn nương theo thành-lập: TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG đặng chỉ giáo cho Tín-Chúng nhưng chưa rành mạch vẫn bị sai chạy nhiều đâm ra nghiên-cứu, muốn thế nào thì tu theo thế ấy. Từ nơi Thiền-Tánh Chân-Như,Thể-Tánh Chân-Giác bị tiêu giảm; từ nơi Tỏ-Ngộ Trực-Giác bị xóa mờ, vì theo vọng-thức đảo-điên ở nơi nghiên-cứu, nên chi chấp từng văn-tự, phân biệt từ nơi được mất trở thành tu theo quan-niệm Lý-Trí cuồng-vọng, không còn gì Ý-Trí tỏ-rõ Thiền-Tánh, do đó bị sai lạc thành thử chẳng đặng kết-quả Pháp-môn Giải-thoát.
 THẾ NÀO KHÔNG TÀ NIỆM?
 Tà-Niệm nơi Thiền-Tông tức là mong-tưởng chờ đón Phật-Thánh-Tiên ứng hiện trong khi Tọa Thiền. Vì sao? Vì mong-tưởng do khởi-vọng mà ứng-hiện. Sự ứng-hiện do Vọng-khởi do 55 thứ Ma mà có. Nó không thực-thể bị mộng-tưởng điên đảo mà thành; sai biệt với tinh-thần Thể-Tánh Tự-Giác, cũng như mộng-tưởng Nhập-Xuất để bị Ma-Nghiệp lừa gạt phát sinh điên khùng. Duy-nhất nương theo THIỀN-TÁNH, tỏ soi Tỏ-Tánh.
 THẾ NÀO KHÔNG KHỞI-VỌNG?
 Từ một khởi thường phát-sinh động-vọng, động-vọng sinh ra động-khởi Tà-niệm. Chẳng khác nào: Nước bị Gió liền nổi Sóng. Khởi-Vọng sanh tham muốn, tham muốn sinh tham-vọng. Tham-vọng thường niệm-niệm Bất-Chơn, Bất-Chơn tu theo Kiến-Dục. Càng Kiến-Dục bao nhiêu lại càng tưởng-vọng bấy nhiêu. Nếu các bậc Thiền-Tọa khởi-vọng theo vọng-tưởng thời Chơn-Tánh hóa cuồng-loạn. Nên Chư TỔ mới dụng THANH-TỊNH-TÂM lập THỂ, cốt điều-ngự khởi-vọng đảo-điên cuồng-loạn trở về Chơn-Tánh Thể-Tánh. Chính Thể-Tánh là Bổn-Lai Tự-Giác, còn tu Thiền CHỦ VI GIÁC. Do đó mà Tọa-Thiền không nên Tà-Niệm đồng với khởi-vọng.
 Thời xưa Chư TỔ thành lập Thiền-Tông thật chu-đáo tận-tường, các Ngài mới THANH-TỊNH-TÂM đứng nơi Thân-Tâm Thể-Tánh của các Hành-Giả, cho nên mới dùng Thanh-Tịnh-Tâm lập THỂ thật là Tối-Diệu. Vì sao? Vì Thể-Tánh Thân-Tâm của Hành-Giả vốn sẵn Thanh-Tịnh-Tâm, do khởi-vọng, tà-niệm mà Thể-Tánh Thân-Tâm theo khởi-vọng, chấp tà-niệm lầm-mê điên-đảo vọng-loạn. Do lẽ ấy chư TỔ mới lập Thanh-Tịnh-Tâm làm THỂ căn-bản tu-tập trở về với THỂ TÁNH CHƠN-NHƯ. Ngài lại dùng TRÍ-TUỆ làm ngọn đuốc sáng soi rốt-ráo. Những vị Giác-Ngộ đối với Phật-Đạo cùng Tín-Chúng mục-đích đưa tất-cả Tín-chúng thành-tựu Tri-Kiến Giải-Thoát. Vì mục-đích của Đạo-Phật, vì Bổn-Nguyện với Chí Nguyện chung nên chi Bậc Giác-Ngộ dù cho có lập Thiền-Tông hay Tịnh-Độ-Tông hoặc Thiên-Thai-Tông thảy đều dùng phương thức đề-tài đem đến sự kết-quả cho Tín-chúng là GIẢI-THOÁT. Vì Chí-Nguyện mục-đích trên nên chi các TỔ thành-lập TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG rất liên-hệ bảo-trì nhau đưa cho Tín-chúng tu-tập đoạt đến quả-vị TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.
 Nói đến Tà-Niệm thật là vô kể, cần phải tu cho đến CHÁNH-NIỆM mới thôi. Tà-Niệm do đâu mà có? Do Lầm-Mê, khi đang mê-lầm thì đang còn khởi-vọng đảo-điên. Lúc GIÁC-NGỘ minh-định tường-tận không còn lấy một Khởi, một Khởi đã không còn thời có đâu phải Vọng.
 Nên PHẬT nói:“ Khi chưa GIÁC dù có cho là CHÁNH-NIỆM chăng vẫn là TÀ-NIỆM. Lúc đã GIÁC dù TÀ-NIỆM vẫn CHÁNH-NIỆM. TÀ CHÁNH chăng chỉ có MÊ và NGỘ”.
 Tập Như-Lai-Thiền nầy không ngoài đem đến Hành-Giả Tri-Kiến Giải-Thoát. Tập Như-Lai-Thiền diễn-giải đương thời Hạ-Lai Mạt-Pháp, chính là thời Nhân-Loại đang tương tranh LÝ-SỰ thật lạ lùng khó nghĩ-bàn đặng. Vì sao? Vì Thiền thất Chơn-Truyền Chư TỔ không còn Bình-Bát Ấn-trao. Đó là lẽ dĩ-nhiên của thường tình phê chỉ của thời lạc-lõng khó tin. Bằng có những Bậc đương thời Hạ-Lai nhìn đời chê chán, phát Tâm tu-hành, tu đặng làm đến kết-quả mới hay rằng thời nào nó cũng như thế, thời nào Phật-Tánh vốn thường còn, Chơn-Pháp vốn sẵn có. Do tại nơi Tâm mình lạc-lõng thờ-ơ, chưa thiết-tha tự-tín lầm-lẫn chia ra ba thời Chánh-Pháp cùng Mạt-Pháp, Thượng-Lai cùng Hạ Kiếp. Khi mà phát Bồ-Đề-Tâm tu-tập thì khi ấy là Chánh-Pháp. Lúc biếng-trễ tu- hành lạc-lõng thân-tâm thời lúc đó là lúc Lạc-Pháp. Ngày nay tập Như-Lai-Thiền biên-tập diễn-giải cũng là một sự sẵn có Như-Lai-Thiền từ lâu, vì Như-Lai-Thiền bất-diệt.
 Đối với Như-Lai-Thiền hay Chân-Lý, Bậc biết tu Tự-Giác hiện-tại, dùng Công-Đức tạo Công năng, nương theo Vạn-Pháp cốt Tỏ-Pháp, thì thời nào cũng nhận thấy Chân-Lý hữu dụng thực-tại, không cầu nơi quá-khứ, chẳng mong chi vị-lai. Còn tu-tập theo lối HOÀI-MONG VIỄN-TƯỢNG lúc đang còn hoài-mong, khi đang mơ-ước viễn-tượng thời hãy còn tu tập mong chờ. Đến hồi sự hoài mong viễn-tượng thất-vọng thì đường tu cũng bị tan theo chiều-hướng cố-định của mình. Sự Hoài mong viễn-tượng PHẬT gọi là VỌNG-TƯỞNG ĐIÊN-ĐẢO xa lìa Thể-Tánh, tu như thế đến vạn kiếp cũng chẳng đến đâu cả. Tu mà biết được Vô-Minh Nghiệp-Chướng của mình cổi-giải đó mới thật là Bậc Biết-Tu. Tập Như-Lai-Thiền tu nương nơi CHƠN-TÁNH THỂ-TÁNH soi-tỏ THIỀN-TÁNH kết-quả vô cùng. Như-Lai-Thiền là một TÔN chung gồm SÁU CỬA THIỀN MÔN nên gọi là NHẤT-TÔN NHƯ-LAI-THIỀN, đầy đủ Hiển-Giáo Mật-Tôn, Hiển-Mật song tu, Ẩn-Hiện duy-nhất.
 Như-Lai-Thiền vẫn có TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG, các Hành-Giả khi được xem tập Như-Lai-Thiền cần suy xét mục-tiêu Tông-Chỉ-Thể-Dụng. Lúc nhận-định được thì tu Thiền mới kết-quả, bằng chưa nhận-định được thì tu chiều-hướng hay bị sai. Hành-Giả hãy nương theo mục-tiêu làm Kim-Chỉ-Nam. Tập Như-Lai-Thiền nầy Tông-Chỉ-Thể-Dụng không khác với lập TÔNG. Có khác chăng là khác nơi ƯNG VÔ TRỤ XỨ lập TÔNG. Ưng Vô Trụ Xứ tức dụng TÂM nương theo Hành-Dụng Như-Lai cốt Tỏ-Ngộ như sau:
 Lấy HÀNH-DỤNG NHƯ-LAI lập TÔNG.
 Lấy KHÔNG TRỤ. . . . . . . . . . lập CHỈ
 Lấy GIÁC. . . . . . . . . . . . . . . . . lập THỂ
 Lấy HÀNH-NGUYỆN . . . . . . lập DỤNG
 THẾ NÀO LÀ HÀNH-DỤNG NHƯ-LAI?
 Nói đến HÀNH-DỤNG-NHƯ-LAI, chỉ có Bồ-Tát nương Công-Đức NHƯ-LAI mà lập HẠNH-NGUYỆN Hành-Thâm Pháp-Giới Nhiếp-Độ Vạn-Pháp thực-hành Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa mới có thể biết đặng sự Hành-Dụng Như-Lai. Còn đem ra đặng diễn-giải có thể nói: Vạn Pháp khi đã thành-tựu hiện-tướng gọi là TƯỚNG-PHÁP. Tướng-Pháp thì như: Quốc-Độ, Tịnh-Độ, Sơn-Hà, Đại-Địa đến các Cõi, các Cảnh-Giới trở thành Thế-Giới Tam-Thiên,Tướng-Pháp đứng về TƯỚNG-PHẦN PHÁP-THÂN PHẬT. Còn Hành-Dụng Như-Lai là lúc Vạn-Pháp đang di-chuyển trong khi chưa hiện hãy còn Ẩn rồi sẽ Hiện, chưa Thành rồi sẽ Thành, chưa kết-hợp rồi sẽ đến Kết-hợp, chưa Giác có Tu rồi sẽ Giác, chưa Đắc rồi sẽ Đắc. Tuy Như-Lai Hành-Dụng không có hình-tượng, nhưng bậc đã Tỏ thấu thật Tỏ-tường Như-Lai diễn-hành không thiếu-sót, nên gọi là NHƯ-LAI-THỂ.
 Trùm khắp trong vũ-trụ có không-khí, có hư-không, có thế-giới, có Xuất-thế-giới đến cõi Trời, cõi Phật, cõi Tiên thảy đều nằm trong NHẤT-THỂ NHƯ-LAI. Vì vậy nên nói đến NHƯ-LAI thời nói chung trùm khắp, chớ không thể nào nói một nhóm nhỏ mà chỉ Như-Lai được. Kinh KIM-CANG có câu : NHƯ-LAI KHÔNG TỪ ĐÂU ĐẾN, CŨNG KHÔNG ĐI ĐÂU, GỌI LÀ NHƯ- LAI. (Như-Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như-Lai.) Khi các Hành-Giả đã tu Như-Lai-Thiền thời nên thực-hành KHÔNG-TRỤ-XỨ làm con đường bước đi cho rốt-ráo. Nếu từ đời này đến đời sau miệng đọc tụng: Tôi tu Như-Lai-Thiền, mà Hành-Giả TRỤ-XỨ bằng phương-thức Định-Tưởng hoặc cầu-mong Niết-Bàn trong viễn-ly điên-đảo mộng-tưởng, thì chưa trọn Như-Lai-Thiền mà phải trụ trong Sáu Cửa Thiền Môn, chọn lấy Một CỬA Trụ-Xứ. Vì sao? -Vì Như-Lai-Thiền gồm SÁU MÔN vào một Bộ NHƯ-LAI-THIỀN nên gọi là NHẤT-TÔN.
 NHẤT-TÔN NHƯ-LAI-THIỀN, nên chi lập TÔNG HÀNH-DỤNG NHƯ-LAI tu-hành PHẬT-THỪA Tỏ-Thông NHẤT-THỂ mà TRỌN-GIÁC.
 THẾ NÀO LẬP CHỈ KHÔNG-TRỤ?
 Lập CHỈ tức lập một con đường đi trùm khắp trong NHẤT-THỂ không Trụ-Chấp. Chính Pháp KHÔNG-TRỤ-CHẤP là PHÁP THƯỜNG-CHÂN, thành thử Tu không Trụ-Chấp cốt Hành-Thâm Pháp-Giới Tỏ-Ngộ Như-Lai Hành-Dụng của Như-Lai-Thiền.
 Các Bậc Tín-Tâm tu-hành vị nào cũng ước ao Tu cho đúng với tinh-thần PHẬT-ĐẠO, từ HIỂN-GIÁO đến THIỀN-TÔNG vẫn có một Tâm-niệm duy-nhất Tu PHÁP THƯỜNG-CHÂN, có Tu Pháp Thường-Chân mới đến CHÂN-THƯỜNG BẤT-BIẾN.
 THẾ NÀO LẬP THỂ GIÁC?
 Lập THỂ GIÁC, THỂ chỉ thẳng ngay BẢN-NĂNG của các Hành-Giả, nếu Hành-Giả Tọa-Thiền mà BẢN-NĂNG THỂ-TÁNH nơi Hành-Giả chưa GIÁC, hay Không CHỦ-VI-GIÁC thì Tọa-Thiền vô-ích hoặc tạo thêm cái Mê-Lầm hoài-ảo mộng-tưởng thua kẻ chưa Tu. Tu cốt Soi biết Vô-Minh, Giải-Trừ Vô-Minh, bằng chẳng Giải-Trừ thì chưa lấy được một ngày Tu.
 Nên chi TỌA-THIỀN NHƯ-LAI lập CHỈ KHÔNG-TRỤ Hành-Giả lần qua các Pháp BẢN-NĂNG TỰ-GIÁC, THỂ-TÁNH GIẢI MÊ-CHẤP. TÔNG-CHỈ-THỂ và DỤNG thảy đều Tương-Song trợ giúp cho nhau. Khi Hành-Giả NGUYỆN-ĐỘ CHÚNG-SANH, thật-hành dụng Ý-TỨ, dụng TRÍ-TUỆ, dụng NGÔN-NGỮ, dụng ĐẠO-HẠNH, dụng TỨ NHIẾP-PHÁP, LỤC BA-LA-MẬT-ĐA thảy đều là PHẨM TRỢ-ĐẠO đưa Hành-Giả đến GIÁC-NGỘ.
 TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG của NHƯ-LAI-THIỀN chính là một PHÁP-ĐỘ Hoàn-Mỹ. Các Hành-Giả từ nơi Công-Phu đến Thực-Hành phải có một đường-hướng làm Kim Chỉ-Nam nương nhờ nơi đó mà TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT, vì vậy cho nên thiếu sót khó thành-tựu.
 BẢNG ĐỐI CHIẾU:
 NHƯ LAI THIỀN: TỔ TRUYỀN THIỀN:
 HÀNH-DỤNG NHƯ-LAI lập TÔNG.
 KHÔNG TÀ-NIỆM lập TÔNG.
 Lấy KHÔNG-TRỤ lập CHỈ.
 Lấy CHẲNG KHỞI-VỌNG lập CHỈ.
 Lấy GIÁC lập THỂ.
 Lấy THANH-TỊNH-TÂM lập THỂ.
 Lấy HÀNH-NGUYỆN lập DỤNG.
 Lấy TRÍ-TUỆ lập DỤNG.
 Các Hành-Giả xem bản đối chiếu Như-Lai-Thiền và Tổ-Truyền-Thiền, nơi Tông-Chỉ-Thể-Dụng thảy đều có một mục-đích chính làm PHẨM TRỢ-ĐẠO đưa Hành-Giả Tọa-Thiền kết-quả như ý-nguyện.
 TẠI SAO PHẬT THUYẾT- PHÁP ĐƯỢC GỌI LÀ BẢO- PHÁP?
 PHẬT Thuyết-Pháp có mục-đích GIẢI NGHI-CHẤP, Phá Đố-tật lầm-lẫn đem lại sự lợi-ích hiện-hữu. Khi Bồ-Tát nghe được, nhận được thi-hành theo lời chỉ dạy kết quả quí-báu, nên được gọi là BẢO-PHÁP. Cho nên những Bậc xem Tam-Tạng Kinh-điển nhận được lời Kinh chỉ dạy thực-hành tu-chứng kết-quả mới thấy Bảo-Pháp sống động linh-hoạt. Bằng xem Kinh mà chỉ biết Kinh, chưa nhận được thời làm thế nào thật-hành tu-tập đặng. Đối với tập Như-Lai-Thiền nầy dạy rõ THỂ-TÁNH, Tu Thiền cốt rõ nơi THIỀN-TÁNH, THỂ-TÁNH nơi THIỀN không khác mấy với PHÁP-TÁNH. Thể-Tánh Thiền nương theo từng Tà-Niệm, từng Khởi-vọng của các Hành-Giả mà nó từ NHẤT-TÔN THIỀN-TỌA đến SÁU MÔN NGOẠI-GIÁO, gọi là SÁU CỬA THIỀN MÔN. Trên đã nói Sáu cửa Thiền-Tông do Khởi-vọng mà có, nay các Hành-Giả Tọa-Thiền không Trụ-Xứ, Nhiếp-Độ trùm khắp để đoạt đến NHƯ-LAI-THIỀN. Bằng Trụ-Xứ hay chìm đắm nơi Thiền chưa trọn SÁU TÔNG thì sai lạc nơi Tiên-Đạo hoặc Thần-Đạo chưa rốt-ráo Giải-Thoát.
 THẾ NÀO LÀ SÁU CỬA THIỀN-MÔN?
 CỬA THIỀN thứ Nhất là: VÕ-ĐẠO THẦN-THÔNG-THIỀN.
 CỬA THIỀN thứ Hai là: ỨNG-KHẨU-THIỀN.
 CỬA THIỀN thứ Ba là: THẦN-THIỀN hay THẦN-QUYỀN-THIỀN.
 CỬA THIỀN thứ Tư là: NHÂN-THIÊN-THIỀN.
 CỬA THIỀN thứ Năm là: TỊCH-TỊNH-THIỀN.
 CỬA THIỀN thứ Sáu là: TIÊN-ĐẠO-THIỀN.
 SÁU CỬA THIỀN trên do sở thích ưa muốn mà thành, do duyên-căn mà đến. Sự Mê-lầm bao nhiêu lớp thì Căn-Tánh nó có bấy nhiêu Tuần, bởi sự Mê-lầm Trụ-Xứ mới có LỤC-ĐẠO: Thiên, Nhân, A-tu-la, Súc-sinh, Ngạ-quỹ đến Địa-ngục tận cùng.
 Khi mà các Hành-Giả ưa thích tham chuộng Thiền để Trụ-Xứ thì đến lúc lâm-chung mãn-phần sinh về Cõi Thiên, đến Nhân, A-tu-la, Địa ngục cũng thảy đều Chánh-Báo Thọ-Báo như thế. Sáu Cửa Thiền-Môn trên Bổn-Lai Bản-Chất nó cũng như vậy, nó vẫn tùy-thuận theo sự ưa-thích mong cầu của Hành-Giả Trụ-Xứ mà đáp-ứng theo như ý nguyện.
 Khi Hành-Giả ưa-thích tham-chuộng VÕ-ĐẠO hay THẦN-THÔNG-THIỀN để Trụ-Xứ, thời lúc bấy giờ Hành-Giả công-nhận là Chân-Lý tuyệt-đối cao-cống nhất không có môn Thiền nào bằng.
 Lúc Hành-Giả ưa-thích tham-chuộng ỨNG-KHẨU-THIỀN để mong cầu Trụ-Xứ thời khi bấy giờ Hành-Giả không nhận thấy bên ngoài, liền công-nhận là Chân-Lý tuyệt-đối cao-cống nhất không có Thiền-Môn nào bằng.
 Khi bấy giờ có Hành-Giả ưa-thích tham-chuộng THẦN-THIỀN hay THẦN-QUYỀN-THIỀN, van-vái cầu mong Trụ-Xứ, thời lúc bấy giờ Hành-Giả kính nhận Linh-thiêng quyền-phép, chân-chính tuyệt-đối, cao-cống nhất chưa có Thiền-Môn nào bằng.
 Lúc Hành-Giả ưa-thích tham-chuộng NHÂN-THIÊN-THIỀN để mong cầu Xuất-Hồn tạo nên Thần-Thức thanh-thoát trực tiếp Chư Thiên, thấu soi quả Địa-cầu Trường-Sanh bất-tử, nhân trí Thánh nhân mà Trụ-Xứ, thời Hành-Giả công nhận là Chân-Lý tuyệt-đối cao-cống chưa có Thiền-Môn nào ví bằng.
 Khi Hành-Giả ưa thích tham-chuộng TỊCH-TỊNH-THIỀN để Trụ-Xứ, thời lúc bấy giờ Hành-Giả công-nhận Tịnh-Pháp là một Pháp-Môn Xuất-Ly Thế-gian giải-trừ nghiệp-cấu, dứt hẳn nghiệp-lậu kiết-sử được Thanh-Tịnh-Tâm, dù vô-tình hoặc đã cố-ý mà lâm vào TỊNH nơi TIÊN-ĐẠO hay TỊNH-BIỆT. Chẳng biết lầm-tưởng Chư PHẬT Đắc Quả không ngoài TỊNH, liền công-nhận cao-cống Chân-Lý tuyệt-đối chẳng có Pháp-Môn Thiền nào không ngoài TỊNH.
 Lúc có những Hành-Giả ưa thích tham-chuộng TIÊN-ĐẠO-THIỀN cho là thoát khỏi vòng Sanh-Tử, Tọa-Thiền để huân-tập Trụ-Xứ, thời bấy giờ công-nhận Tiên-Đạo Thanh-thoát dễ Tu, dễ chứng, cảnh-giới sung-sướng an-nhàn là một Chân-Nguyên tuyệt-đối chưa có Thiền-Môn nào ví bằng.
 SÁU CỬA THIỀN-MÔN nó đáp-ứng nhu-cầu của các Hành-Giả, vì THỂ-TÁNH-THIỀN tùy theo ĐỊNH-TƯỞNG, tùy theo Tà-Niệm, tùy theo Khởi-Vọng, tùy theo Trình-Độ, tùy theo Sở-Chứng, tùy theo lầm-lẫn nhiều ít mà trở thành như thế, nó không phải Chánh-Giác, nó không phải là Pháp THƯỜNG-CHÂN. Vì sao? -Vì TRỤ-XỨ, dùng BẢN-NGÃ GIẢ-TƯỞNG tạo nên nó như vậy, nên PHẬT nói: “ NÓ MUỐN THẾ NÀO, NÓ ĐẶNG THẾ ẤY. THIỀN TÁNH TÙY-THUẬN THEO SỞ-NGUYỆN CỦA NÓ MÀ THÀNH ”.
 SAU ĐÂY ĐẠI CƯƠNG :
 TÔNG – CHỈ – THỂ – DỤNG CÁC MÔN THIỀN.
 VÕ-ĐẠO THẦN-THÔNG-THIỀN.
 Lấy LINH-THIÊNG DƯỠNG THẦN-THỨC lập TÔNG.
 Lấy ĐIỆN-PHÁP, THIÊN-ĐIỆN lập CHỈ.
 Lấy VÕ-CÔNG THIỀN-TỌA NHIẾP-THÂU lập THỂ.
 Lấy THANH-TỊNH, DỤNG HOA-QUẢ TRƯỜNG-TRAI lập DỤNG.
 Phái VÕ-ĐẠO hiện nay chia ra nhiều lối, bên Tây-Tạng dụng Công-lực Tọa-Thiền phát sinh ra hơi nóng trong mùa rét, vị phụ-trách về Thiền lấy chăn nhúng nước phủ trên thân mình của vị Tọa-Thiền, tùy theo Công-Năng mức-độ hơi nóng trong người tự phát sinh đến chừng chăn khô mới lấy ra. Duy-nhất Phái này nhận-lãnh Tu Thiền cao thấp ở nơi lấy chăn đắp nước trong mùa Đông giá lạnh. Vị tu cao nhất phủ đặng bảy chiếc khăn chồng vào thân mình. Ở Thái-Lan dùng Võ-Thiền tu Võ-Đạo. Ở Việt-Nam tu tại núi Thất-Sơn Nhiếp-dụng TINH-KHÍ-THẦN.
 ỨNG-KHẨU-THIỀN.
 Lấy TRAI-ĐÀN, LỂ-BÁI TÍN-TÂM lập TÔNG.
 Lấy BÚT-CƠ NHẬP-XÁC ỨNG THI-THƠ lập CHỈ.
 Lấy THANH-TỊNH THIỀN-TỌA LINH-THÁNH lập THỂ.
 Lấy TRỐNG-PHÁCH, TẾ-LỄ, Y-ÁO lập DỤNG.
 Phái nầy hiện nay có quá nhiều chia ra đủ hình-thức, do trình-độ Mê-Tín như cầu Phật-Mẫu, Đại-Thánh, Thiên-Tiên hay lên Đồng, cầu Bóng, nhập xác, dụng am, không ngoài Ứng-Khẩu Cơ-Bút.
 THẦN- QUYỀN- THIỀN.
 Lấy LINH-THẦN HIỂN-HÁCH THIÊNG-LIÊNG lập TÔNG.
 Lấy CHIÊM-NGƯỠNG, THÀNH-TÂM lập CHỈ.
 Lấy CÔNG-PHU THIỀN-TỌA, TĨNH-TÂM lập THỂ.
 Lấy TINH-KHIẾT THẦN-MIẾU TRỐNG-PHÁCH lập DỤNG.
 Môn nầy thuộc về Thiền Thần-Thánh Phái, chủ về Linh-thiêng Quyền-Phép, cho nên Tín-Chủ phải Thành-Tâm cầu-khẩn, mong Thần-Thánh phò-hộ nhỏ phước cho, lại thường hay Tế-lễ trâu bò, xây cất chùa Thánh to lớn, tùy theo xứ sở địa-phương, trình-độ cúng tế.
 Phái nầy có từ thời Thượng-Cổ, thời ấy Dân giả hiểu biết ít-oi, Mê-Tín lại quá nhiều nên chưa biết Gió, Mưa, Lửa, Núi do đâu mà có. Dân-giả lầm tưởng TRỜI sai Thần-Mưa, Thần-Gió, Thần-Sấm, Thần-Sét; Thánh thời ban Phước cứu-độ non-sông. Hiện nay danh-từ này hãy còn. Sau Khoa-Học tìm ra đặng sự thật ĐẤT-NƯỚC-GIÓ-LỬA lúc đó mới tiêu-giảm Mê-Tín Quyền-Thần của các vị ấy.
 Đến thời Đức THẾ-TÔN HIỆN-THỂ, chính là thời thịnh-hành nhất của Thần-Quyền. Có hàng trăm ngàn con Cừu bị nhà Vua, Dân giả tế-lễ trong một năm, có hàng vạn-vạn con vật suốt cả năm đem đi tế-lễ chư Thần. Đôi Địa-phương thời đó vẫn đem Đồng-Nam, Đồng-Nữ dâng cúng chư Thần làm vật tế-lễ. Phái Thần-Quyền là một Phái kể không thể nào hết được sự Mê-Tín Tế-Lễ.
 Từ khi ĐỨC PHẬT ra đời giải-trừ Mê-Tín, nghiêm-luật cấm sát-sanh tế-lễ, dụng Tinh-Thần Thể-Tánh Tự-Giác Giác-Tha cứu-giúp chẳng biết bao nhiêu sinh-vật, cải ác tùng thiện rất nhiều, nhờ thế mà đỡ bớt.
 NHÂN-THIÊN-THIỀN.
 Lấy HƯỚNG-THƯỢNG CÕI TRỜI lập TÔNG.
 Lấy SUY-TƯỞNG LUYỆN TINH-KHÍ-THẦN lập CHỈ.
 Lấy THANH-TỊNH NGHIÊN-CỨU TỌA-THIỀN lập THỂ.
 Lấy THANH-THOÁT NGÔN-NGỮ CAO ĐẸP lập DỤNG.
 Phái Thiền nầy hiện nay các nước ưa-chuộng đang nghiên-cứu. Đa số các bậc Trí-thức hướng thượng suy-tầm trong hai lối:
 – Lối thứ nhất DƯỠNG-THẦN, nuôi thân chữa bệnh, dùng Thiền-Tọa tiếp THIÊN-ĐIỆN, xuất hồn Huân-tập Tinh-Hoa Thần-Thức tạo thành căn-bản đoạt quả THÁNH-THÔNG gọi là TINH-KHÍ-THẦN làm cho Thần-Thức giao-cảm với CÕI-TRỜI sáng-soi Vũ-Trụ.
 – Còn một lối thời dụng Thiền-Tọa nghiên-cứu Đạo-Phật cốt TRI-KIẾN SIÊU-HÌNH. Hiện nay, bên Nhật-Bản dùng Thiền ZEN và YOGA. Còn ở miền Nam Việt-Nam có phái THÔNG-THIÊN-HỌC.
 TỊCH-TỊNH-THIỀN.
 Lấy NGHIÊM-LUẬT GIỚI-LUẬT lập TÔNG.
 Lấy TU-TỊNH LÌA-ÁI XUẤT-LY lập CHỈ.
 Lấy THIỀN-TỌA KHẤT-THỰC lập THỂ.
 Lấy CÔNG-ĐỨC, CÔNG-QUẢ lập DỤNG.
 Phái nầy thành-lập y theo Tông Thiền của Chư TỔ, y theo Tôn-Chỉ của Đức BỔN-SƯ nên chi trên hình-thức Đạo-Tràng thành-lập các TỊNH-XÁ, Các Hành-Giả được xưng danh bằng SƯ-SẢI, Y-áo vẫn đắp Y đương thời Phật còn tại-thế, tay bưng Bình-Bát, đi đứng trang-nghiêm chủ-yếu Xuất-Thế. Nhưng vì lạc hướng không đúng thời nên chi các Sư không thể nào gìn-giữ đúng NGHIÊM-LUẬT cùng GIỚI-LUẬT cho đặng. Khi TÔNG không thành-tựu thì CHỈ-THỂ-DỤNG bị sai trở thành TU TỊNH. Từ nơi TỊCH-TỊNH-THIỀN cốt TỊNH-GIÁC, Tịnh-Giác phải LÌA NGÃ cùng NGÃ-SỞ mới thành-tựu GIÁC-TỊNH. Bằng chưa LÌA để TỎ-NGỘ mang thêm vào SẮC-PHÁP TƯỚNG-PHẦN thì bước đường Tu trở nên ẢO-TƯỢNG TƯỚNG-PHẬT. Từ nơi Tướng-Phật Cấu Tịnh chủ-yếu Xuất-Ly TỊNH-BIỆT đen tối, Chân-Lý mơ-màng nên chẳng kết-quả được bao nhiêu.
 Thêm vào đó có một phái vẫn: Y Tông-Chỉ trên nhưng lại có phần thư-thái hơn, tìm phương-thức Giải Mê-Chấp, Nghiệm-Luật tùy theo Trình-độ, tùy theo Tinh-thần ít gò-ép, phái nầy gọi là NGUYÊN-THỦY.
 TIÊN-ĐẠO-THIỀN.
 Lấy LÂM-SƠN XUẤT-THẾ lập TÔNG.
 Lấy THANH-KHIẾT-THANH-TỊNH-TÂM lập CHỈ.
 Lấy TỌA-THIỀN LY-DỤC, LY-ÁI lập THỂ.
 Lấy ÉP XÁC TRƯỜNG-TRAI ẨM-THỰC lập DỤNG.
 Tiên-Đạo tùy theo Căn-Tánh, Đức-Tánh, trình-độ, suy-tưởng, Định-Tưởng, không ngoài THANH-THÔ, TẾ-NHỊ để tu-tập Thiền-Tọa. Cho nên tu Tiên Đắc-quả có thứ bậc. Pháp-Môn TIÊN-ĐẠO-THIỀN duy-nhất ĐỊNH-TƯỞNG, huân-tập các Pháp Thanh-cao, đẹp-đẽ, lấy-bỏ, lựa-chọn, thanh-lọc rồi mới nhiếp-thu tu-luyện. Các Bậc tu Tiên-Đạo-Thiền phần nhiều ưa-thích lên Non hoặc nơi Lâm-sơn cùng cốc, vẫn có bậc chán đời xa lánh trần-tục lên non tìm Tôn-Sư để tu-luyện. Bậc Tu Tiên kể ra thời nầy cũng hiếm. Chỉ có Bậc Tu Phật lầm hướng Tu hoặc chưa chu-đáo lối tu nên chi càng Tín-thành tin Phật bao nhiêu mà sai đường-hướng vẫn bị tu-cầu Hữu-Lậu Phước-Báo Nhân-Thiên sa vào Tiên-Đạo. Sự lầm-tưởng chẳng phải bây giờ mới có, thời xưa vẫn thường bị sai đường-hướng, cho nên Kinh KIM-CANG mới nói BỐN TƯỚNG GIẢI-THOÁT cốt để lại đời sau Tu tránh khỏi sai lạc.
 THẾ NÀO LÀ BỐN-TƯỚNG GIẢI-THOÁT?
 BỐN TƯỚNG GIẢI-THOÁT là: THIÊN-TƯỚNG, NHÂN-TƯỚNG, CHÚNG-SANH-TƯỚNG, THỌ-GIẢ-TƯỚNG.
 THIÊN-TƯỚNG chính là Tướng Định-Tưởng Trụ-Xứ, khởi-vọng mong-mỏi, thanh lọc Tốt-Xấu, tránh-né Thiện-Ác, Lấy-Bỏ cấu-tạo, huân-tập nhiếp-thâu trở nên tu-luyện lầm vào Tiên-Đạo.
 Thứ Hai nữa là NHÂN-TƯỚNG, nơi Nhân-Tướng Thường-Trụ, Thường-Chấp, thường BẢO-THỦ CÁ-NHÂN, cho mình Tu-Hành Chân-chánh, thương ghét không chừng, tu theo chí-hướng qui-định. Đến khi lòng Hành-Giả vẫn tin Phật, mà đường-hướng sai lầm bị lạc vào Tiên-Đạo.
 Thứ Ba là CHÚNG-SANH-TƯỚNG, nơi Tướng Chúng-Sanh Tu-Hành không chừng, không đổi, khi thích thì Tu thật nhiều, lúc buồn chê-chán Bỏ-Tu. Lại thường nâng Tánh Tự-Cao, Tự-Đại, chấp-nhận mình khôn-ngoan xảo-quyệt hơn ai. Lúc chính CHÚNG-SANH-TƯỚNG lại tự hạ mình Nghiệp-Căn xấu-số không tu được, chê-chán buồn khổ, vì nơi Nghiệp Chúng-Sanh-Tướng mà PHẬT nói Kinh BẤT-TĂNG BẤT-GIẢM để đưa Chúng-Sanh-Tướng trở về BẤT-THỐI, BẤT-TĂNG. Vì sao?- Vì THỐI sa vào Địa-Ngục, còn TĂNG bị lâm nơi Tiên-Đạo.
 Tướng thứ Tư là TƯỚNG THỌ-GIẢ, Tướng THỌ-GIẢ là TƯỚNG THỌ-NGÃ, cho sự làm của Mình là ĐÚNG, cho suy-tưởng nghĩa-lý nơi mình là PHẢI, cho đường mình phải như vậy, tướng định của mình phải như thế, nên chi PHẬT dạy LÌA-NGÃ, tu đến trọn vẹn CHÁNH-NGÃ; LÌA TIỂU-NGÃ GIẢ-TƯỞNG Tu đến trọn-vẹn ĐẠI-NGÃ BÁT-NIẾT-BÀN.
 PHẬT-ĐẠO Kinh-sách rất rõ-ràng, lời chỉ dạy không thiếu sót, nhưng mấy ai đã hiểu-biết đặng trọn. Lúc Hiểu-Biết được phải qua từng giai đoạn Tu-hành đầy-đủ Công-Đức tạo nên Công-Năng, mới tùy theo Công-Năng Công-Đức minh-định được đường-lối tu khỏi sai lạc.
 Minh-Định về NHƯ-LAI-THIỀN phải có một Đường-Lối Chánh-Đáng Căn-Bản dặn-dò Minh-Xác, chớ chẳng phải Tu thế nào cũng đặng, nói thế nào cũng đúng.
 NHƯ-LAI-THIỀN chính là một tập THIỀN lưu lại thời Hạ-Lai Mạt-Pháp, dù cho đương thời Mạt-Pháp Bậc Tín-Tâm thực-hành đúng theo tinh-thần thì đương-nhiên hưởng-thọ đặng thời CHÁNH-PHÁP.
 Tập NHƯ-LAI-THIỀN viết ra từng lời HUYẾT-QUẢN chứa đựng chẳng biết bao nhiêu sự SỐNG-CÒN CỦA ĐẠO-PHẬT. Trong lúc Nhân-Sinh lạc loài Bảo-Pháp, lòng TÔI không mong mỏi chi hơn là TÍN-TÂM của các Hành-Giả phải thực-hành Tu nơi CHƠN-TÁNH, HÀNH-NGUYỆN ĐỘ-SANH lướt qua các PHÁP-GIỚI cốt TỎ-PHÁP, Tu KHÔNG TRỤ-CHẤP, ĐỨC-TRÍ TƯƠNG-SONG, ĐẠO-HẠNH và TRÍ-TUỆ Duy-nhất, đó chính là CÚNG-DƯỜNG NGÔI TAM-BẢO vậy.
 Đức TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN
 BÚT GHI :
 NHƯ-LAI NÀO CHỈ ĐÂU BÀY, CHỦ TIN ĐỐN-NGỘ MỚI HAY DIỄN-TUỒNG.
 MINH ĐỊNH VỀ THỂ TÁNH CỦA THIỀN
 THIỀN. Thời trước Đức THẾ-TÔN còn tại-thế chẳng có TÔNG nào cả. Sau thời Đức THẾ-TÔN, các TỔ Sở-Đắc mỗi Vị một GIÁC-MÔN, lúc bấy giờ mới phát-nguyện duy-trì BẢO-ẤN. Mỗi Vị, thành-lập mỗi Khối chỉ-dạy cho Tín-Chúng Khối ấy mới gọi là TÔNG, trở-thành 12 Tông, nhưng có 5 Tông thịnh-hành như: THIỀN-TÔNG, GIÁO-TÔNG (Hiển-Giáo), TỊNH-ĐỘ-TÔNG, HOA-NGHIÊM-TÔNG.
 ĐẠO-PHẬT kể từ đời Thượng-Pháp đến thời Hạ-Lai Lạc-Pháp thời nào cũng có TỔ thừa-kế chỉ-dạy, Có thời Vị chỉ-dạy nhiều, có thời Vị chỉ-bày ít, có thời Vị PHẬT Hiện-Thể. Thời Hiện-Thể chỉ dạy đầy đủ 12 Tông, đồng với 10 Danh-Hiệu. Vị PHẬT hoặc Vị TỔ cũng phải tùy thời THUẬN theo NGHIỆP của Chúng-Sanh mà Hóa-Giải bất-luận Tín-Chúng Tại-Gia hay Xuất-Gia mới nhất-định Tu đặng. Miễn Tin PHẬT, Tin Pháp-Môn, Tin TĂNG Chỉ-Đạo. Không khác mấy với các Hành-Giả đứng trong giai-cấp địa-vị nào miễn Tín-Thành thiết-tha có Tâm Cầu Đạo là Tu đặng.
 Minh-Định về THỂ-TÁNH của THIỀN, Thể-Tánh ấy do nơi CHỦNG-NGHIỆP của Chúng-Sanh tự chia ra từng GIỚI mà có. Khi đã trót MÊ liền bị LẦM, đã LẦM thì có LẪN, thường Chướng-đối nhau, cạnh-tranh nhau, vướng-vấp nhau sinh ra thù-hận. Nếu chẳng Chướng-đối nhau, chẳng thù-hận nhau liền có sự Cảm-Mến nhau liên-kết vẫn thành NGHIỆP ÁI-NỊCH. Đứng hai tư-thế, từ nơi cảm-mến đến hận-thù thảy đều là đường dây SANH-TỬ LUÂN-HỒI. Lúc TẬN-GIÁC mới hay rằng: THỂ-TÁNH VỐN AN-NHIÊN VIÊN-TỊCH, do sự MÊ-LẦM mới có cớ-sự trên.
 Từ nơi THỂ-TÁNH Viên-Tịch sáng-suốt vốn sẵn có nơi Nhân-sinh của con người, nhưng tại Nhân-sinh Khởi-Vọng, Động-vọng, Hoài-mong, chạy theo sự khát-vọng hoài-mong từng Giới-hạn nầy đến Giới-hạn nọ, vì lẽ ấy nên chi từ THỂ-TÁNH trở thành CHỦNG-TÁNH. Đã thành Chủng-Tánh riêng biệt, trình-độ cao-thấp, rộng-hẹp nên chia ra BỐN Giai-cấp biệt-lập khác nhau gọi là: CHỦNG-TÁNH CHÚNG-SANH, CHỦNG-TÁNH BỒ-TÁT, CHỦNG-TÁNH PHẬT.
 Chủng-Tánh PHẬT lúc còn đang ẨN Mê-Ngộ chưa phân gọi là PHẬT-TÁNH, lúc GIÁC-NGỘ gọi là TÁNH-PHẬT, đến CHỦNG-TÁNH NHƯ-LAI-TÁNH. Tại sao NHƯ-LAI lại có TÁNH? NHƯ-Lai bất-động không chỗ chỉ. Vì Bồ-Tát quán NHƯ-LAI phải dụng TÁNH BẤT ĐỘNG TRÙM-KHẮP để quán NHƯ-LAI, khi đã quán NHƯ-LAI gọi là NHƯ-LAI-TÁNH hoặc NHƯ-LAI NHÃN-TẠNG.
 Khi đã minh-định về THỂ-TÁNH thì thử hỏi THỂ-TÁNH có thể làm những gì?-Những gì THỂ-TÁNH cũng làm được, cũng Đến được, khỏi cầu ai chỉ cần biết khai-thác THỂ-TÁNH là dùng được tất-cả.
 Vì vậy cho nên Nhân-Sinh TU PHẬT biết nương nơi THỂ-TÁNH GIẢI MÊ-LẦM được GIÁC-NGỘ. Nhân-Sinh Tu Thiền-Tọa nương nơi Thể-Tánh Tỏ-Thiền tức là TỎ THIỀN-TÁNH. Nhờ thế mà VIỄN-THÔNG TAM-GIỚI, Tỏ-Rõ TAM-THIÊN Khỏi LẦM hết MÊ mà GIÁC-NGỘ. Chớ nên Khởi-Vọng để thấy Tam Thiên, chớ nên Hoài-mong Xuất-Hồn Nhập-Cảnh mà đoạt đến Tam-Giới. Dù cho Hành-Giả có đoạt Tam Giới Tam-Thiên bằng Ảo-Tượng Xa-Lìa THỂ-TÁNH mà đạt đến, thì nơi chốn ĐẾN kia thảy đều nằm nơi VỌNG-TƯỞNG ĐẢO-ĐIÊN thành-tựu. Nó không Bền chi cả.
 Bậc TRÍ khi Tu Thiền-Tọa cần nhất tự kiểm điểm lấy mình, từ Khả-Năng đến Công-Năng, từ Tinh-thần Cầu Đạo đến Nghiệp-Chướng làm trở-ngại bước đường tu-tập nó như thế nào? Nếu nhận thấy bên nào khuyết phải dụng Công bồi-dưỡng thêm, Nghiệp nào Tánh xấu-xa chi làm cho đường tu Bất-Tín, Bất Hạnh-Nguyện, Bất Cảm-Hóa nên HÓA-GIẢI, nên Chỉnh-Trang lại, để cho THỂ-TÁNH được Dung-thông. Đó là biết Khai-Thác THỂ-TÁNH mà Tu.
 Lúc đã biết từ nơi THỂ-TÁNH Đồng-Hợp với THỂ-TÁNH CHÂN-NGUYÊN VŨ-TRỤ, nhưng vì Mê-Lầm tối-tăm do sự cản-trở của NGHIỆP-THỨC Khởi-Vọng phải chịu với tư-thế CHỦNG-TÁNH CHÚNG-SANH thì nơi Chủng-Tánh Chúng-Sanh nó có điểm nào cần nên canh-giữ hoặc tiêu-giảm nó, khi biết được nơi Chủng-Tánh Chúng-Sanh nó có Bốn Đặc-Điểm đáng Lưu-Tâm. Thế nào là Bốn Đặc-Điểm cần Lưu-Tâm?
 -Thứ Nhất: TĂNG.
 -Thứ Hai: GIẢM
 -Thứ Ba: CẤU.
 -Thứ Tư: TỊNH
 Nơi Bệnh TĂNG thường Tự-Cao, Tự-Mãn. Lúc Tự-Cao cho mình hơn tất-cả, khi Tự-Mãn cho mình là Đúng là phải. Do căn bệnh TĂNG thường lầm-tưởng mình thông-hiểu Đạo-Pháp, ngỡ mình Đắc-Đạo Tăng-Thượng, lại ít học hỏi tu-hành, tìm những Pháp sâu-đậm để tu. Thật nguy-hại, làm cho Bậc TĂNG xa-lìa THỂ-TÁNH.
 Về phần GIẢM, GIẢM chính là một căn-bệnh Thụt-Lùi THỂ-TÁNH của mình đi xuống, Mình Bất-Tín mình, Thân-Mạng của mình Không biết Ngự chế, đem giao Thân-mạng mình cho TRỜI-ĐẤT-QUỈ-THẦN, nên chi mình tự thán mình Nghiệp Nặng, mình máng cho mình ngu-si tăm tối để nhờ ơn trên ban cho mình. Do Hai căn bệnh TĂNG, GIẢM làm sai-lệch THỂ-TÁNH nên PHẬT mới khuyên các Hành-Giả nên LÌA-NGÃ cùng NGÃ-SỞ cốt Tiêu-giảm bệnh TĂNG, dụng Pháp-Môn TINH-TIẾN để nâng-đỡ bệnh GIẢM của Chúng-Sanh.
 Còn về CẤU, CẤU là một chứng tật khăng-khăng Cấu-Tạo gìn-giữ. CẤU nên bị Tập-Nhiễm Thường-Nhiễm, Thọ-Ngã Thường-Ngã bởi CẤU mà có. Khi Hoài-mơ vọng-tưởng cấu-tạo nơi mơ-tưởng trở thành NGHIỆP. Do CẤU mới có Thiên-hình vạn-tượng, có Tam-Thiên Chủng-Tánh, vì Pháp CẤU chính là một Pháp Sanh-Tử Luân-Hồi nên PHẬT mới dạy TỪ-BI-HỶ-XẢ cốt gây Đạo-Đức. Do nơi CẤU mà có Pháp-Môn BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA. Bằng không CẤU thì Tâm rỗng-rang viên-tịch, nếu KHÔNG CẤU thì THỂ-TÁNH Dung-Thông, Chủng-Tánh Chúng-Sanh nơi CẤU rất là ngăn-ngại, CẤU chính là Bờ-Ngăn CHÚNG-SANH-GIỚI vậy.
 Còn về phương-diện TỊNH, TỊNH là một phương tiện ĐỘ lúc bị ĐỘNG, TỊNH chẳng khác nào viên thuốc ngủ dùng lúc cứu con bệnh đang đau nhức. Đối với Chúng-Sanh-Tánh hay lấy THANH-TỊNH để nuôi Bạc-Nhược hoặc dung-dưỡng tuổi già, hoặc giả các Bậc Tu-Hành Nhẫn-Nhục hay Nhẫn-nhịn để chấm dứt tranh-giành gây-hấn nên gọi là TỊNH độ ĐỘNG.
 Đứng về Thể-Chất của TỊNH, có Bậc Tu Thiền-Tọa buổi ban đầu chưa Minh-xác tỏ-tường THỂ-TÁNH của mình hoặc của THIỀN-TÁNH, bị vọng-loạn giao-động điên-đảo mới dùng TỊNH cốt Độ vọng-loạn, đảo-điên. Độ xong vọng-loạn điên-đảo, sáng soi tỏ-rõ sự điên-đảo loạn-vọng, như thế gọi là TỊNH-GIÁC. Phải Tu nơi GIÁC-TỊNH mới tỏ đặng THIỀN-TÁNH THỂ-TÁNH duy-nhất. Bằng chẳng GIÁC-TỊNH, dụng TỊNH Tu TỊNH hay bị nơi CẤU-TỊNH lần đưa Hành-Giả vào TỊNH-BIỆT. Khi đã lâm vào nơi TỊNH-BIỆT THIỀN-MÔN thì Hành-Giả tối-tăm mơ-màng sinh ra căn bệnh Rỗng nơi đỉnh đầu rất khó chịu, có thể khùng dại nữa.
 TĂNG-GIẢM-CẤU-TỊNH là BỐN BẢO-CHÂU đối với Bậc Biết Tu, Biết Điều-Hành Ngự-Chế. Khi Biết thì Hành-Giả từ nơi Lạc-loài sai-lạc tu trở về CHÂN-THỂ. Bằng chưa Biết Tu, chưa Biết sử dụng điều-hành nó, thì nó đem Hành-Giả càng tu đến đâu càng bị NGỘ-ĐỘC đến đó. Vì sao Biết Điều hành?- Vì Bậc Biết Điều-hành, gặp lúc Chủng-Tánh sanh Tánh ê-chề lười-trễ đường Tu, thì Hành Giả phải tự nâng Công-Phu, tự tăng sống-động. Đó chính là biết Điều-hành Ngự-chế. Lúc quá-ư sống-động Thể-Tánh soi biết nên GIẢM đến mức-độ quân-bình. Đó là Bậc biết Chế-ngự Điều-hành.
 Về CẤU, khi cấu-tạo nhiều thành NGHIỆP, bằng KHÔNG CẤU hoặc XÃ sạch CẤU vẫn mang NGHIỆP. Nơi CẤU biết dụng CẤU gọi là Huân-Tập Nhiếp-Độ. Huân-Tập Nhiếp-Độ thực-hành cấu-tạo để TỎ-NGỘ. Khi Tỏ-Ngộ CẤU đương-nhiên dung-hòa, cũng như TỊNH ĐỘ ĐỘNG, Tỏ ĐỘNG liền Hoàn-Mỹ TỊNH-GIÁC vậy.
 Lời diễn-Giải trên mới hiểu đặng Vạn Pháp Biết Sử-Dụng hay chưa biết Sử-Dụng. Đối từ Thế-Gian đến Xuất-Thế Gian, trong công việc chi nó phải linh-động. Một Cơ-xưởng kỹ-nghệ, các máy-móc bên trong nó vẫn điều-động chạy hoài, về Vũ-trụ bao-la, Vũ-trụ vẫn sống trong mây gió. Chân-Lý luôn-luôn thao-diễn sống-động vô-cùng đối với bậc Biết Tu.
 Bậc Biết Tu thời nào cũng thấy PHẬT. Thấy PHẬT không phải Tưởng-tượng hay Chiêm-ngưỡng để mà Thấy. Càng nương theo vết chân của CHƯ PHẬT đã qua, ngày nay Bậc Tu-hành lần bước, càng bước bao nhiêu thì lời PHẬT dạy càng TỎ bấy nhiêu, đó là yếu-tố THẬT-THẤY vậy.
 CHÂN-LÝ là một LÝ-CHÂN, nương theo LÝ-CHÂN Sở-Đắc CHÂN-LÝ, các Bậc Tu tìm nơi CHƠN-TÁNH để Tu, lần Tỏ THỂ-TÁNH Viên-Thông THIỀN-TÁNH thì con đường Tu-hành rất sống-động, thụ-hưởng rất linh-hoạt. Nhờ dụng TRÍ Hóa-Giải, nhờ Công-Năng lướt qua các chướng-ngại LÝ-SỰ mới công-nhận PHẬT-ĐẠO Cứu-Độ thích-nghi hiện-tại, thích-ứng rõ-ràng. Đối với CHÂN-LÝ, PHẬT-ĐẠO không có Pháp nào là Pháp THIỆN-ÁC, TỐT-XẤU, LÀNH hoặc DỮ cả. Chỉ có Bậc Tu-hành chưa Am-Tường Vạn-Pháp sống-động Linh-hoạt, chỉ biết xem Kinh mà chưa Hiểu Nghĩa Kinh, Tu không Hóa-Giải, chính là Tu xác của nghìn xưa. Tu dụng TRÍ-TUỆ Hóa-Giải Liễu-Nghĩa Kinh-Pháp thực-hành để Tu, đó chính là Bậc biết Tu hiện-tại của hiện-tại Thông-đạt.
 THỂ-TÁNH luôn-luôn sống-động, khi các Hành Giả Tọa-Thiền Khởi-Vọng thế nào, ĐỨC-TRÍ ra sao, Hạnh-Kiểm như thế nào, Nguyện-vọng ra sao thì THIỀN kia chính nó là TÁNH của Hành-Giả biểu-lộ hiện-diện ra từng giai-đoạn của Hành-Giả. Hành-Giả ngỡ là THIỀN Ứng nên Thọ-Chấp nơi THIỀN mà chìm-đắm. Nên PHẬT nói: “NÓ MUỐN THẾ NÀO, THÌ THIỀN-TÁNH THẢY ĐỀU ĐỒNG-NƯƠNG, ĐỒNG-ỨNG THEO CÁI MUỐN CỦA NÓ. NÓ NGỠ LÀ XUẤT-NHẬP MONG-MỎI THỤ-CHẤP NƠI THIỀN-TÁNH.”
 Khi nhận-định được PHẬT-PHÁP, Hành-Giả Tu theo Môn nào chẳng hạn, không ngoài phải lượng theo Tu sao cho phù-hiệp, có phù-hợp mới có TRÍ-TUỆ Hóa-Giải từng giai-đoạn Ngăn-Chấp. Bằng khắc biệt, Tu theo Lý-Trí nơi mình Khởi-muốn liền đương sinh Vọng-Đảo Mơ-màng, phải nên công-dụng PHẬT-PHÁP BẤT-LY THẾ-GIAN GIÁC. Đối với Thế-Gian là một điểm tương-tựa suy-ngẫm cốt GIÁC PHẬT PHÁP. Đó chính là một Tài-Liệu Bất-Hủ vậy.
 Ví như: Đồng-Hợp các Chất, Chất liền HÓA Chất. Như Đồng-Thanh tương-ứng, Đồng-Hữu tương-cầu, PHẬT-ĐẠO vẫn phải đi trong TÌNH-LÝ đó. Vẫn thực-hành Tu nơi ĐỒNG-HỢP ĐỒNG-HÓA gọi là HÓA-ĐỘ MÊ-LẦM. TÂM PHẬT cùng với TÂM Chúng-Sanh không Khác mà Khác, vì Chúng-Sanh chưa HỢP với TÂM PHẬT nên chưa Thành PHẬT. Nếu TÂM mong THÀNH TÂM phải biết nương theo Tu làm sao cho ĐỒNG-HỢP liền đặng HÓA. Vì như thế nên BỒ-TÁT phải thực-hành Tu các Pháp-Môn mà ngày trước PHẬT đã từng Tu, nay Bồ-Tát phải Tu, chủ-yếu HỢP VỚI TÂM PHẬT Thành PHẬT.
 Ngày nay các Hành-Giả Tu tìm CHÂN-LÝ lần tiến để Tu. Thời xưa các Bồ-Tát vẫn phải tìm tòi y như Hành-Giả hôm nay. Khi các Bồ-Tát biết được Lý-Sự ĐỒNG-HỢP ĐỒNG-HÓA nên Bồ-Tát mới Đại-Nguyện BI-CHÍ-DŨNG, thi-hành LỤC BA-LA-MẬT-ĐA cốt Đồng-Hợp với tất-cả Nhân-Loại mà HÓA-THỂ NHƯ-LAI THÀNH PHẬT.
 Đối với Vũ-trụ bao-la, Nhân-sinh cùng khắp, từ các Cõi Rồng Người được gọi là NHƯ-THỂ hay NHƯ-LAI-THỂ. Còn đối với các Hành-Giả từ nơi THỂ mà hiện TÁNH tư-riêng nên còn là THỂ-TÁNH, lúc Tọa-Thiền gọi là THIỀN-TÁNH, khi làm xấu gọi là TÁNH-XẤU, lúc làm đặng sự an-lành gọi là TÁNH TỐT. Nó không ngoài THỂ-TÁNH . THỂ-TÁNH nó còn đặng có một cái là NHƯ-NHIÊN TỰ-GIÁC nơi Hành-Giả, nhờ như thế nên chi HỢP-HÓA với Vũ-trụ NHƯ-THỂ. Khi các Hành-Giả tu-tập chưa dùng CÔNG tạo nên ĐẠI-ĐỨC, tức là ĐỨC bao-trùm HỶ XÃ Nghiệp-Lậu Kiết-Sử cốt TẬN-GIÁC thì lấy đâu có CÔNG-ĐỨC Cúng-Dường NHƯ-LAI. Đã không có CÔNG-ĐỨC Cúng-Dường thì lấy đâu TỎ-NGỘ? Do tu-tập ĐỒNG-HÀNH mới ĐỒNG-HỢP đặng ĐỒNG-HÓA. Các Hành-Giả phải nương theo vết chân của Chư Bồ-Tát đã đi, hôm nay Hành-Giả phải Tu Học thật-hành cũng như thời trước Chư PHẬT đã từng dùng BI-NGUYỆN GIÁC-THÔNG trọn-vẹn, thời Bồ-Tát cũng phải thực-hành Hạnh-Nguyện cho đặng THÔNG-GIÁC trọn-vẹn, đó chính là con đường duy-nhất.
 TẠI SAO THIỀN-TÔNG TÂM TRUYỀN TÂM LIỄU-NGỘ?
 Vì THIỀN-TÔNG chuyên-ròng THỂ-TÁNH TỰ-GIÁC, nên chi Phái THIỀN-TÔNG không dùng Văn-Tự. Dù cho có dùng Văn-Tự chăng cũng là ngón tay chỉ cốt TRỰC-GIÁC. Vì vậy nên chi nương nơi THIỀN-TÁNH để TỎ-TÁNH, chớ chẳng phải THỤ-THIỀN mà GIÁC-NGỘ. Do đó mới gọi là THỂ-TÂM, TRUYỀN-TÂM LIỄU-NGỘ.
 Các Hành-Giả Tu Thiền-Tọa, xa lìa THỂ-TÁNH chưa rõ THIỀN-TÁNH, tự lập ĐỊNH-TƯỞNG, THƯỜNG-TƯỞNG hay nghiên-cứu dự-đoán thảy điều sai lạc. Chẳng khác nào như kẻ lấy VÔI làm BÁNH, một khi BỘT là BỘT chớ không thể nào lấy BỘT làm VÔI, lấy VÔI làm BỘT đặng.
 THIỀN-TÔNG Quyết-Định phải từ nơi THỂ-TÁNH mà Thành-Tựu CHÁNH-GIÁC vậy.
 Tu Thiền có BỐN THỜI như sau:
 TỨ THỜI THIỀN-TỌA.
 SƠ-KHAI TRIỀN-MIÊN ĐỊNH.
 TRUNG THỜI RÕ-RÕ SOI.
 HẠ-LAI THU-NHIẾP CHỈNH.
 HOÀN-TẤT KHẢI-KHẢI MINH.
 PHƯƠNG-THỨC TỌA-THIỀN
 Trước tiên vào Tu Tọa-Thiền phải NIỆM-PHẬT. Hành-Giả rửa tay rửa mặt, nếu tắm càng tốt. Xong đâu đó đốt Hương lên Bàn thờ PHẬT bái ba bái, ba lạy. Vào nơi Tịnh-Cốc (hay phòng riêng).
 LỐI NGỒI:
 Ngồi Bán-Già, mặt quay về hướng Bắc. Hai bàn chân để ngữa, tay Phải để dưới, tay Trái đặt lên trên, hai cánh tay đồng duỗi thẳng, đặt hai bàn tay ngữa dưới rún giữa nhượng chân của Bán-Già. Ngồi im Tâm Thanh-Tịnh giây lát. Bắt đầu Niệm-Phật 10 câu, mỗi câu 10 lần. Lúc chưa thuộc thì Niệm mỗi một Danh-Hiệu: NAM-MÔ TỊNH-VƯƠNG PHẬT độ 15 phút, Niệm bằng TÂM-NIỆM tốt hơn hết. Tâm Niệm là Niệm không ra tiếng, Niệm bằng tư-tưởng Niệm, xong Bái một Bái.
 TRANG-TRÍ CHỖ-NGỒI:
 Ngồi, Hành-Giả phải ngồi trên một tấm Nệm bề 80 phân vuông, dài hơn bàn tọa cũng được, gọi là tấm Náp. Ngồi trên bộ ván hoặc trên giường có Nệm càng tốt, chớ nên ngồi dưới đất không có Náp. Ngày xưa Chư TỔ thường xây cất Cốc riêng, nếu Hành-Giả cất Cốc càng tốt, còn không có Cốc thì Tọa-Thiền trong phòng riêng. Nên nhớ nhà có sẵn bàn thờ Phật thì đốt Hương bàn thờ, bằng chưa sắm bàn thờ thì vào phòng trước khi Tọa-Thiền Bái ba Bái, sau đó mới Niệm-Phật.
 TỌA-THIỀN:
 Khi Niệm-Phật mặc áo rộng hoặc đồ bà-ba mỏng. Pháp-Môn Niệm-Phật xong Bái một Bái như trên đã dạy. Lối ngồi Bán-Già, Hành-Giả thay áo, chỉ mặc quần cụt, giây lưng nơi quần nên nới rộng, vì lưng quần bị thắt chặt lúc ngồi, các Pháp chẳng thông hay bị đau lưng hoặc đau ruột về sau. Pháp-Môn Thiền-Tọa phải cho thông thả thoải mái. Bên Tây-Tạng tu Thiền-Tọa họ chỉ đóng khố, bên Nhật-Bản cũng thế. Miễn sao khỏi trói-buộc vướng-mắc là được. Lúc chỉnh-trang xong đâu đó, Hành-Giả Tọa-Thiền Tĩnh-Tâm êm-lặng 5 phút.
 Bắt đầu Thiền-Tọa bằng lối SỔ-TỨC-QUÁN, Sổ-Tức đếm bằng Tâm-Niệm, tai vừa nhận nghe, không nên đếm lớn tiếng. Đêm đầu đếm từ 1 đến 200 hoặc 230, đếm xong DỨT-KHOÁT TƯ-TƯỞNG. Ngồi Dứt-Khoát Tư-Tưởng đó là tập Tu-Thiền. Ngồi như thế mỗi thời là 20 phút đến 40 phút. Ngồi càng lâu càng tốt, tùy theo căn-cơ, tùy theo sự cố-gắng Tin-Cẩn của Hành-Giả.
 Đến đêm thứ Hai, vẫn Niệm-Phật, Sổ-Tức-Quán, đếm từ 1 đến 320 hay 490. Đếm Sổ-Tức phải đếm từ-từ chớ nên nôn đếm mau. Đếm Sổ-Tức cốt cho Tâm Tịnh để NHẬP-THIỀN, đếm xong liền Dứt-Khoát Tư-Tưởng như trên. Tọa-Thiền mỗi đêm Công-Phu như vậy từ 20 phút đến 45 phút hay 60 phút. Nên nhớ: Đếm Sổ-Tức-Quán trong 7 đêm sau nầy vẫn Niệm-Phật, khỏi đếm Sổ-Tức-Quán nữa. Cứ như thế cố-gắng Tọa-Thiền.
 THẾ NÀO LÀ NHẬP-THIỀN?
 NHẬP-THIỀN không phải cái HỒN của Hành-Giả Nhập hết vào nơi THIỀN mới gọi là NHẬP? Cũng không phải Tọa-Thiền vắng bặt không còn nghe gì ở bên ngoài mới gọi là NHẬP-THIỀN. NHẬP-THIỀN không phải ngồi xong Nhập nơi Thiền như là Xác Chết mới gọi là Nhập-Thiền đâu. Những quan-niệm như trên đều là Sai hết thảy, nên bãi-bỏ ý-định mong-cầu trên.
 NHẬP-THIỀN Hành-Giả tựa như say, như ngật-ngật, thân mình lâng-lâng, bồng-bồng, nhè-nhẹ tựa như ngồi trước mây gió hay giữa hư-không, phần bên ngoài vẫn nghe tiếng động, nhưng bên trong gìn-giữ Tịch-Tịnh. Khi Hành-Giả gặp Diễn-Cảnh nơi Thiền, cảnh ấy lâu mau, rõ hay chưa rõ lắm đó là công-phu Tịch-Tịnh chưa vững lắm còn thiếu-khuyết mập-mờ. Có Hành-Giả không thấy chi cả thì lấy mức Tịch-Tịnh, lâng-lâng, bồng-bồng say Thiền, các vị nầy nên cố-gắng chớ nên thoái-chí, rồi đến thời Công-Năng đầy-đủ vẫn đạt đến Chí-Nguyện. Tọa-Thiền phải lấy KIÊN-DŨNG làm Đích, không khác nào kẻ đi đường xa, cứ đi mãi nó sẽ đến.
 TẠI SAO TỌA-THIỀN KHI THĂNG, LÚC TRẦM, KHI THOẢI-MÁI, LÚC UỂ-OẢI?
 Tại THÂN chưa Điều-Hòa, TÂM chưa Điều-Hòa, KHẨU chưa Điều-Hòa, nên chi có đêm Công-Phu thoải-mái, khi thời THĂNG, lúc lại TRẦM đen tối. Vì nó như vậy nên các Hành-Giả chán lười phát sinh uể-oải. Bậc tu Thiền phải là Bậc Kiên-Dũng quyết-tâm, bền chí. Bậc tu Thiền phải là Bậc Đại-Trượng-Phu, xem thói Đời chẳng thích-ứng, không khác với kẻ chèo thuyền nhổ neo quyết lòng qua bờ Bến-Giác. Vì Tâm-Chí của Bậc Tu Thiền như vậy nên chi đêm nào chán chính là đêm cố-gắng để đánh đuổi CON MA LƯỜI TRỄ.
 PHƯƠNG-THỨC KHÍ-HẬU:
 Khí-Hậu và nơi Tọa-Thiền nó rất cần hòa hợp làm phần Trợ-Duyên cho các Hành-Giả. Hành Giả nên xem xét tùy theo thời-tiết nóng lạnh, hoặc chỗ Tọa-Thiền bị nóng, bị lạnh. Khi nóng Hành-Giả tìm phương thích-nghi hoặc cởi áo, lúc lạnh thời mặc áo rộng mỏng. Bên Tây-Tạng Nhật-Bản Tọa-Thiền thời đóng Khố. Vì phương-thức Khí-Hậu giúp-đỡ cho các Bậc Tọa-Thiền cho nên các Bậc Thiền-Sư mới cất Cốc nơi Hòa-hợp Khí-Hậu là vậy.
 PHƯƠNG-THỨC THỜI CÁC CHƯ TỔ LẬP THIỀN-TÔNG.
 Theo Sử chép thứ lớp của các Tổ về THIỀN-TÔNG có 28 Vị Tổ, còn ngoài ra các Bậc Giác-Ngộ khác chưa kể được. Thiền-Tông vào thời-đại Triều-Thần Vua Chúa chỉ có ĐINH, LÊ, LÝ, TRẦN rất thịnh-hành.
 Đến nay vẫn còn như Nhật-Bản, Tây-Tạng cùng Việt-Nam và các nước lẻ-tẻ, tuy không thịnh-hành gì cho lắm nhưng vẫn gìn-giữ TÔNG THIỀN.
 Đứng về tinh-thần của Thiền-Tông, các Hành-Giả phải lập TÍN-HẠNH-NGUYỆN đồng với GIỚI-ĐỊNH-TUỆ là nồng-cốt của Thiền-Tông. Nếu chưa có Hai Bổn-Nguyện đó xem như Bất-thành THIỀN-GIẢ.
 Còn về nơi Thiền-Môn, các TỔ tìm nơi thanh-tịnh, khi đã có nơi thanh-tịnh khí-hậu điều-hòa các Tổ mới cho cất từng các Cốc cách nhau 5 thước hoặc 10 thước một cái Cốc. Mỗi Cốc có một Vị ở để Tu Tọa-Thiền. Mới ban đầu Hành-Giả vừa Nhập-Môn thì phải Tu Niệm-Phật trong thời-gian 3 tháng, sau Tổ nhận xét Tín-Hạnh-Nguyện nhất-định, lúc bấy giờ mới cho làm Lễ Nhập-Lưu, tùy khả-năng Tọa-Thiền nhiều ít, mỗi ngày đêm từ một thời Công-Phu đến bốn thời Công-Phu Thiền-Tọa. Có Bậc phải Tọa-Thiền TÝ-NGỌ-MẸO-DẬU, cũng có vị nguyện Tọa-Thiền ở luôn trong Cốc đến khi GIÁC-THIỀN mới đứng dậy.
 Sau Ngài HƯ-VÂN HÒA-THƯỢNG mới tùy theo thời cải-cách CỐC NHỎ, xây cất một ngôi THIỀN chia ra từng phòng nho nhỏ để mỗi vị Hành-Giả một ngăn gọi là THIỀN-ĐƯỜNG. Đứng về tinh-thần Thiền-Tông không khác mấy với Chư TỔ, nhưng trên hình-thức có phần khác hơn ở nơi Thuyết-Giải nhiều, lại tại trung tâm Thiền Đường có vị Trụ-Trì Thiền-Sư chăm sóc, vì thời này cũng là thời các Tín-Tâm Hành-Giả đã bắt đầu công-Phu bê-trễ, nhưng sự cố-gắng của Ngài HƯ-VÂN cũng kết-quả đáng kể.
 Đến thời HẠ-LAI LẠC-PHÁP năm 1956, NGÀI TỊNH-VƯƠNG chú trọng về môn THIỀN-TÔNG, không biết làm thế nào truyền-trao Môn THIỀN kế tiếp cho Tín-Chúng thời Lạc-Pháp, NGÀI có ý-định nhưng gặp lúc đương thời không cho phép vì NGÀI là một CƯ-NHÂN sinh sống về nghề buôn bán thường tình. Đến năm 1959 NGÀI mới viết xong tập DUY-NHẤT PHÁP-MÔN NHƯ-LAI-THIỀN, viết xong năm 1961 với ý-định Phát-Hành hoặc cho đăng trên mặt báo, nào ngờ Phật-Giáo Thống-Nhứt phát-động đấu-tranh giữa thời Ngô-Đình-Diệm. NGÀI lưu lại đồng sửa đổi nhiều mục, khi hoàn-tất năm 1964, cho đánh máy làm 06 bản cùng với 04 bản làm thành tập.
 Tuy-nhiên tập Duy-Nhất Pháp-Môn Như-Lai Thiền chưa ra đời đặng, nhưng với tình Đạo-Tràng vẫn giúp-đỡ chỉ dạy cho một số tu-tập từ năm 1956. Đến Năm 1965 theo sự đòi hỏi quyết-định NGÀI thành-lập PHÁP-TẠNG THIỀN-TÔN. Khi quyết-định Chứng-Minh xong thì sáng hôm sau đó có một ông Lão 72 tuổi đem theo một chú nhỏ 17 tuổi, Thỉnh-Cầu NGÀI cho Nhập-Đạo. NGÀI trực nhớ Tiền-Thân Khai-Đạo, NGÀI gật đầu chấp-nhận cho ông Lão cùng chú nhỏ làm Lễ Nhập-Đạo đầu tiên.
 Trong thời PHÁP-TẠNG THIỀN-TÔN, vẫn Chỉ-dạy chớ chưa có chương-trình Tổ-chức. Đến sau này mới Hợp-Thức-Hóa lấy Danh-Hiệu : PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM năm 1971. Thật ra số Tín-Đồ Đạo-Chúng rất đông, sự Tu-Hành đơn giản rất kết-quả, nhưng cơ-sở xây-cất THIỀN-ĐƯỜNG cùng CHÙA chưa có, phải mượn tạm các nhà của Chân-Phật-Tử để làm nơi Chỉ-Đạo từ Trung-Ương đến các Tỉnh trong miền NAM.
 LỐI CHỈ-ĐẠO:
 Lối Chỉ-Đạo chung gồm HIỂN-GIÁO, THIỀN-GIÁO, TỊNH-GIÁO, dụng phương-tiện PHẬT-PHÁP BẤT LY THẾ-GIAN GIÁC, khi Hành-Lễ mới mặc Y-áo, ngày thường vẫn sinh sống làm-ăn. Mỗi Chân-Phật-Tử ngụ Tại-Gia vì chưa có thành-lập cơ-sở Chùa. NGÀI thường nói: ĐẠO ĐỜI HỢP-NHẤT TRƯỜNG-TỒN PHẬT-TÔN. NGÀI cho thành-lập TỨ-CHÚNG như sau:
 – TÍN-ĐỒ ĐẠO-CHÚNG.
 – TRƯỞNG-GIẢ CHÚNG.
 – HỘ-PHÁP CHÚNG.
 – THỊ-GIẢ CHÚNG.
 Mỗi Chúng có hàng trăm vị tu theo Chúng-Hạnh cùng với Công-Đức-Hạnh của Chúng mình cho phù-hợp với Hạnh-Nguyện. Như Hộ-Pháp-Chúng thì chuyên-ròng Thuyết-Pháp, Trưởng-Giả-Chúng thì chăm sóc cơ-sở, hương đăng cúng-Dường, Thị-Giả-Chúng thì Hầu-cận bên TĂNG-CHỦ, còn Tín-Đồ Đạo-Chúng là những vị mới vào Nhập-Đạo. Lúc được xem-xét Hạnh-Nguyện phù-hợp với Chúng nào thì sát-nhập vào Chúng đó. Với Mục-đích lối Chỉ-Đạo làm thế nào cho Tín-Chúng có căn-bản ĐẠO-HẠNH TRÍ-TUỆ Song Tu.
 PHƯƠNG-THỨC THIỀN-TỌA.
 Về Phương-Thức NGÀI chỉ dạy đương thời thì không khác trong tập NHƯ-LAI-THIỀN nầy. Nhưng Hành-Giả nào Tín-Tâm Nhập-Đạo, ban đầu truyền Pháp-Môn NIỆM-PHẬT, sau được xem xét kỹ-càng, sắp cho phép Tu-Thiền thì Hành-Giả đó phải Trường-Trai 7 ngày (Bảy ngày.)
 Tập Tọa-Thiền, Hành-Giả Niệm-Phật xong, bắt đầu Tĩnh-Tâm Ba phút. Sau khi Tĩnh-Tâm Niệm Danh-Hiệu: “NAM-MÔ TỊNH-VƯƠNG PHẬT” bảy lần, trong Bảy lần Niệm như thế phải Niệm bằng Tư-Tưởng Niệm độ 10 phút hay 7 phút, Xong XẢ TƯ-TƯỞNG NHẬP-THIỀN.
 Đối với Pháp-Môn NHƯ-LAI-THIỀN có cả THIỀN-TÔN đồng với MẬT-TÔN song ứng, song hiện tùy Căn-Cơ của Hành-Giả mà Ứng Hiện nơi TỌA-THIỀN. Có vị Tọa-Thiền NHẬP-THIỀN 8 phần thì MẬT 2 phần, có vị MẬT 7 phần thì THIỀN 3 phần. Nó cứ mãi thuyên-diễn đến lúc Tịch-Tịnh Viên-Minh mới kết-quả hoàn-mỹ.
 VỀ MẬT-TÔN.
 Theo như trên đã nói, MẬT-TÔN hoặc THIỀN-TÔN tùy Căn-Cơ Ứng Hiện, không thể nào bắt chước hay mong muốn mà đặng. Bậc đã có sẵn Căn-Cơ Mật-Tôn thì Bậc nầy mới vừa tập Tu Thiền, khi tập Thiền thân mình chuyển-động tựa như dòng điện mạnh chạy toàn thân, đầu cổ rung chuyển, thân mình quay cuồng, tùy theo nhiều ít mà chuyển-động.
 Hành-Giả bình-tĩnh, đó là MẬT-PHÁP giải tỏa các NGHIỆP, các Đố-tật. Lúc bấy giờ Hành-Giả cần nên SỬA-TÁNH, xét xem trong các đố-tật ngăn-ngại nên CỔI-GIẢI TÂM chớ nên Thọ-Chấp, hãy xem nơi TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG của NHƯ-LAI-THIỀN không Trụ-Chấp thì Mật-Tôn lần lượt thay đổi từng giai-đoạn. Khi thì Bắt ẤN, lúc đi quyền-thảo. Nên cẩn-thận chớ để bên ngoài hay biết đương sinh phê-phán khó Tu. Nên gìn giữ như sau :
 THÂN KÍN-NHIỆM . KHẨU KÍN-NHIỆM . Ý KÍN-NHIỆM.
 VỀ THIỀN-TÔN
 TỌA-THIỀN, Hành-Giả phải cố-gắng Công-Phu đều-đặn, đêm được, đêm mất không đáng kể, mà đáng kể là Bậc Tu-Thiền mong đợi Thấy Cảnh-Thiền. Lại đáng kể thứ Hai là Bậc Tu-Thiền Hối-Tiếc: Một là Hối-tiếc chưa kết-quả, hai là Hối nửa đặng, nửa mất trong buổi Công-Phu.
 Tu-Thiền rất cần đến GIÁO-LÝ GIẢI MÊ-CHẤP. Cũng rất cần đến Thực-hành NHIẾP-ĐỘ bên ngoài những người thân-cận Cầu-Đạo, đồng thời cũng cần đến bên trong thoải-mái. Nói chung lại, Tọa-Thiền cốt có TRÍ-TUỆ để GIẢI MÊ-LẦM. THIỀN là một Pháp-Môn trợ-giúp trên con đường TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT. Khi Bậc biết Tu, biết nghe Giáo-Lý, cũng không phải bỏ Tu-Thiền, bằng Tu-Thiền cũng không thể xa lìa Giáo-Lý mà CHÁNH-GIÁC đặng.
 Do đó nên chi đương thời NGÀI Chỉ-Đạo xướng Danh-Hiệu là TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN, căn-bản GIÁO-LÝ THIỀN-TỌA Tương-song, ĐỨC-TRÍ duy nhất, đồng với TÔN-CHỈ, MỤC-ĐÍCH PHÁP-TẠNG là : ĐẠO-ĐỨC-GIÁO-LÝ-THIỀN-TỌA, Ba mục-tiêu đó Tu-Hành chánh-đáng đặng kết-quả TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại.
 Đến năm 1976, vào mùa Hạ Trung-tuần tháng Tư, đương thời Đảng Lao-Động nắm chính-quyền, Tứ-Chúng đi tham-gia công-tác lao-động, còn lại số Tín-Chúng già-yếu ở gần NGÀI. Trong thời-giờ rảnh-rỗi, NGÀI mới đem tập NHƯ-LAI-THIỀN xem-xét kỹ-càng, đồng-thời NGÀI Nhập CHÁNH ĐỊNH luôn nửa tháng, NGÀI biên chép lại Tập DUY-NHẤT PHÁP-MÔN NHƯ-LAI-THIỀN bằng NHƯ-LAI-THIỀN, còn tập Duy-Nhất Pháp-Môn Như-Lai-Thiền coi như hủy-bỏ hoàn-toàn không còn giá-trị nữa? NGÀI nói: Tập Duy-nhất Pháp-Môn Như-Lai-Thiền trước kia bị sai lạc vì có một số Tôn-Giáo đã Lợi-dụng Danh-Nghĩa đem ra phổ-truyền sửa đổi, do đó mà TÔI phải biên-tập rõ ràng, đường-lối Minh-xác, để đời nầy hoặc đời sau khỏi mất CHƠN-TÔN BẢO-PHÁP. NGÀI vừa nói dứt lời, chúng tôi (Tứ-Chúng) đồng Đảnh-Lễ thưa-thỉnh mong-cầu NGÀI Giải-bày trong tập NHƯ-LAI-THIỀN cốt sáng-tỏ thời Chí-Đạo PHÁP-TẠNG, sau Công-bố Giải-bỏ Duy-Nhất Pháp-Môn Như-Lai-Thiền tập cũ, NGÀI chấp-thuận nên chi có viết ở đoạn trên.
 TẠI SAO TÁNH THAY ĐỔI ?
 CHƯA BIẾT SỬ-DỤNG BỊ CHỐNG-ĐỐI.
 Phần nhiều các Bậc biết TÌM CHƠN-TÁNH ĐỂ TU, những Bậc nầy thường Kiểm-Điểm SỬA-TÁNH Giải-Hóa VÔ-MINH, thành thử mới nhận thấy TÁNH Mình thay đổi. Đối với Bậc Tu Thiền-Tọa, Trí-Tuệ luôn-luôn Sửa Bỏ các Đố-Tật, các chứng bệnh nóng-nảy, ngang-chướng làm cho Thân TÂM Tịch-Tịnh, cốt Tọa-Thiền thoải-mái, do lẽ ấy mà Tánh-Tình thay đổi.
 Bậc Tọa-Thiền biết Sửa Đổi TÁNH nơi mình, biết Tự Soi TÁNH kẻ khác, tự mình chữa bệnh, lại giúp cho kẻ khác chữa bệnh. Tu như thế thật là Quý vô kể. Càng khó hơn hết là: Biết chỉ-trích Đố-Tật Người mà chính Đố-Tật nơi mình, mình chưa Soi được. Cho nên Bồ-Tát nhận lấy nơi Thân mình làm Chính. Khi nhìn thấy kẻ khác, chưa vội Chỉ-Trích mà vội Tự Soi lấy mình để Sửa-chữa. Đó mới thật là Quý vô kể.
 Vậy các Hành-Giả một khi đã Tu-Tập Pháp-Môn NHƯ-LAI-THIỀN thời đã đi vào con đường Tu BỒ-TÁT-HẠNH, nên noi gương Bồ-Tát Tự Soi lấy mình để Sửa-chữa để Huân-Tập Nhiếp-Thu Đồng-Hóa giúp-đỡ cho tất-cả những kẻ quanh mình. Mình và những kẻ ấy được Phù-hợp khỏi sinh ngăn-ngại chướng-đối, khỏi sinh Dị-Biệt Phân-chia từng giai-đoạn PHÁP-GIỚI, đó cũng gọi là HÀNH-THÂM PHÁP-GIỚI. Nhờ Tu-Tập như thế, nhờ Đồng-Hóa như vậy làm cho Thân-Tâm không Quái-ngại mà Tọa-Thiền. Cảnh Thiền thuyên-diễn, Tâm không Mắc-miếu và Phân-biệt, nhờ Tâm không mắc-miếu phân-biệt như thế nên thi-hành Thiền-Tọa NHƯ-LAI nơi TÔNG-CHỈ-THỂ-DỤNG đúng-đắn được TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.
 Nói đến TÁNH Thay Đổi, chính là một hay-ho lợi-ích vô kể đối với Bậc biết Sử-dụng sáng-soi TỰ-TÁNH TỎ-TÁNH. Bằng chưa biết Sử-dụng sinh ra sợ-hãi cho đó là NGHIỆP, đâm ra TẬN-DIỆT bước vào con đường CHỒI KHÔ MỘNG LÉP của Nhị-Thừa Tu-Chứng.
 Phần nhiều các Hành-Giả chán-chê thói Đời, chỉ vì tranh-dành xâu-xé đen trắng không chừng, mong tìm con đường Tu-Tập có lẽ-sống thanh-thoát hơn nên mới Tu Pháp-Môn Thiền-Tọa. Đương-nhiên Tánh-Tình Hướng-Thượng Tâm Ý Thánh Phàm, do đó nên nặng về THÁNH xa lìa PHÀM Tu trong một thời-gian, nhìn thấy các Nghiệp-Chủng Phàm-phu sa-ngã vào Dục-vọng tham-lam đủ cách đâm ra khinh-bỉ biệt phân giữa MÊ và NGỘ, Dị-Biệt thái quá trở nên CHƯỚNG-ĐỐI. Chớ nào ngờ TÁNH nơi chính mình vốn thường thay đổi, TÁNH Nhân-sinh vẫn đang thay đổi từng sát-na. Mình Tu Tọa-Thiền biết SỬA-TÁNH, biết SOI TÁNH, biết sự di-chuyển của Tánh-tình nhịp-nhàng nơi LỤC-ĐẠO mà Tỏ-Thông VẠN-TÁNH? Còn những kẻ chưa Tu, đang thủ sống nơi TÁNH, cố-thủ Lý-Tưởng do đó mới sống nơi Dục-vọng tham-lam. Bậc Tu và kẻ chưa Tu hơn nhau nơi đó.
 Nếu biết Tu vào con đường BỒ-TÁT-HẠNH, vào Pháp-Môn NHẤT-TÔN thì ít phân-biệt MÊ-NGỘ, THÁNH hay PHÀM, chung-quy tìm nơi THỂ-TÁNH của kẻ chưa Tu có TÁNH nào đặc-điểm Tốt liền Nhiếp-Thu về cho mình, còn phần mình có nơi nào hay hoàn-cảnh nào, hoặc Tâm-Chí gì vướng-đọng liền HẢ XẢ cốt để Liền-Lạc, đồng-thời mình gần-gũi giúp-đỡ cho họ được an-vui ích-lợi. Như thế gọi là: GẦN PHÀM-PHU KHÔNG MẤT THÁNH-THỂ.
 Nếu các Hành-Giả không thực-hành như trên; lo nuôi dưỡng Mộng Thánh-Tăng, khi bị các Chướng-Đối sinh ra ngăn-ngại làm cho Tâm-Chí của các Hành-Giả mơ-màng, tìm không ra mạch sống nơi Chân-Lý thời nó sẽ đem các Hành-Giả đến nơi CÔ-LẺ TỊNH-BIỆT. Một là sa vào TIÊN ĐẠO, Hai là Tu nơi NHỊ-THỪA chưa rốt-ráo vậy.
 Hàng Tu BỒ-TÁT-HẠNH rất cần đến CÔNG-NĂNG SỬA-TÁNH, CÔNG-ĐỨC làm cho Phù-hợp với Chúng-Sanh. Vì vậy nên chi BỒ-TÁT Rốt-Ráo THỂ-TÁNH đồng Nhiếp-Độ Tu-Chứng VÔ-SANH PHÁP-NHẪN, Hạnh Bồ-Tát rất Tỏ-Rõ vì sao tạo thành VÔ-MINH, vì Chướng-Đối các CÁ-TÁNH chưa Phù-hợp nên mới có VÔ-MINH. Nếu Phù-Hợp thời đương-nhiên TỎ-TÁNH MINH-TÂM không Quái-ngại ngăn-cách chi cả. Khi Hành-Giả Tọa-Thiền, Thân Tâm Nhiếp-Độ TÁNH THAY-ĐỔI cùng với TÁNH Mình Hợp-Nhất, đến chừng ấy mới vào CHÁNH-ĐỊNH, bằng chưa HỢP chưa thể nào NHẬP vào CHÁNH-ĐỊNH. Đó chính là lời nói Chân-thật nơi tập NHƯ-LAI-THIỀN nầy.
 Trong thời Hiện-Kiếp Trung-Thời, các Bậc Tu Tọa-Thiền nhận-lãnh Mục-tiêu Hóa-Giải Chướng-Đối làm cơ-bản bước Tiến, nên chi mới Tu Pháp-Môn LỤC-HỌA-TĂNG làm nơi đo-lường mức độ. Thời ấy các Chư TỔ vẫn thường nói : “LẦM-MÊ BỞI VẠN-PHÁP, NÊN BƯỚC VÀO VẠN-PHÁP ĐỂ TU. CỐT TỎ VẠN-PHÁP KHỎI LẦM PHÁP LIỀN GIÁC-NGỘ”. Cũng như : Đạp Gai nên lấy Gai để Nhổ Gai.
 Cho nên về THIỀN-TÔNG đứng nơi cương-vị tinh-thần các Bậc Tu phải thi-hành TỰ-LỢI THA-LỢI chính nơi mình Tu được Lợi. Vì như thế nên chi phải PHÁT BỒ-ĐỀ-TÂM-NGUYỆN. Nơi Nguyện ấy không ngoài TÍN-HẠNH-NGUYỆN song-đồng với GIỚI-ĐỊNH-TUỆ. Vì sao TÍN-HẠNH-NGUYỆN Đồng-Tu với GIỚI-ĐỊNH-TUỆ? Vì TÍN-TÂM Tu mới TẬN-GIÁC, vì Tu HẠNH (Đạo-Hạnh) mới ĐỘ-SINH, bởi PHÁT-NGUYỆN mới TRÒN-GIÁC. Ba mục-tiêu chánh-đáng, tất-cả các Bậc Tu-Hành đều phải Thực-Hành mới Thực-Tu đồng Thực-Chứng.
 TÍN-HẠNH-NGUYỆN là một Pháp-Môn hữu-ích Tu-Chứng hiện-tại. Vì sao ? – Vì Hành-Giả Tín Tâm bao nhiêu thời Tỏ-Rõ đồng với sự Hiểu-Biết bấy nhiêu. Hành-Giả TU-HẠNH lập ĐẠO-HẠNH Thanh-Cao Hướng-Thượng bao nhiêu thời các Tăng Ni Tín-nhiệm Ái-Kính bấy nhiêu. Chính ra TÍN-HẠNH là BỔN-NGUYỆN của Chư BỒ-TÁT Phụng-Hành DUY-NHẤT-NGUYỆN vậy.
 Một khi các Hành-Giả Tu TÍN-HẠNH-NGUYỆN thì nơi TÍN-HẠNH-NGUYỆN đã sẵn Tu GIỚI-ĐỊNH-TUỆ, chớ chẳng phải Tu GIỚI-ĐỊNH-TUỆ mới có GIỚI-ĐỊNH-TUỆ. Vì sao ? – Vì lúc Hành-Giả gìn-giữ Tôn-Trọng sự TÍN-TÂM đã sẵn ĐỊNH-HƯỚNG NHẤT-TÂM, tức nhiên ĐỊNH-TÂM CHƠN-GIÁC. Còn Hành-Giả Thọ-Trì ĐẠO-HẠNH cao đẹp trang-nghiêm đương-nhiên nằm nơi GIỚI. GIỚI nầy có Ba GIỚI của Phạm-vi Tu-Chứng.
 THẾ NÀO LÀ BA GIỚI CỦA PHẠM VI TU-CHỨNG ?
 GIỚI thứ Nhất: Ngũ-Giới, Thập-Thiện, Căn-Lành Phước-Thiện gọi là ĐẠO-TRÀNG-GIỚI.
 GIỚI thứ Nhì: Gìn-giữ không phá Đạo, không nên cho tất-cả quanh mình Bất-Tín làm Đoạn-Duyên PHẬT, không được Phỉ-báng kẻ Tu PHẬT làm cho Họ phải Bỏ Tu. Không lừa-gạt các Bậc đang Tu, làm cho Họ hồ-nghi Bất-Tín Giáo-Đạo lời của Chư PHẬT dạy. Gọi là GIỚI TAM-THẾ.
 GIỚI thứ Ba: GIỚI NHỨT-HẠNH, Giới NHỨT-HẠNH nầy gọi là PHẬT-GIỚI, Chứng-Minh TRÒN-NGUYỆN.
 Lúc Hành-Giả đang thực-hành TÍN-HẠNH và GIỚI-ĐỊNH thời đó cũng là TUỆ-NGUYỆN TƯƠNG-SONG, nên chi trên mới nói TÍN-HẠNH-NGUYỆN và GIỚI-ĐỊNH-TUỆ Đồng-nhịp Tương-Song vậy.
 Nầy các Hành-Giả cùng các Bậc Tín-Tâm; ĐẠO-PHẬT chính là một TÔN-CHỈ MỤC-ĐÍCH TỐI-DIỆU, Linh-động, sống mãi nơi TÂM-THỨC TỎ-NGỘ từng thứ lớp, Giải-quyết SANH-TỬ-BỆNH-LÃO-KHỔ tận cùng. Lúc nào hay khi nào cũng thế, ĐẠO-PHẬT chính là một mối Đạo VĂN-MINH TỘT-ĐỈNH. Nếu là Bậc biết GIẢI-MÊ, phá Ngăn-Chấp, Tu nơi CHƠN-TÁNH có MINH-TÂM KIẾN-TÁNH thì mới nhận lời nói trên là CHÂN-THẬT.
 Nầy các Hành-Giả: Các Bậc Tín-Tâm! Khi các Bậc Phát BỒ-ĐỀ-TÂM Tu-Hành, từ nơi HIỂN-GIÁO MẬT-TÔN hay THIỀN-TÔNG TỊNH-ĐỘ không ngoài ra LÌA-NGÃ, Hóa-Giải Nghi-Chấp, nương theo VÔ-NGÃ Tu tận đến CHÁNH-NGÃ TRỌN-GIÁC. Tu như thế mới là TU, bằng Tu-Hành THỌ-NGÃ, vì một duyên chi nhỏ bé làm cho các Tín-Tâm, các Hành-Giả Quái-ngại, Ngăn-cách Chướng-đối mà Bỏ Tu thật là uổng-phí. Các Bậc Tu trong tập NHƯ-LAI-THIỀN nầy không ngoài đem đến mục đích GIÁC-NGỘ, không ngoài làm cho Hành-Giả nhận lấy CHÂN-TÁNH THIỀN-TÁNH THỂ-TÁNH chung cùng một THỂ DUY-NHẤT.
 Nầy các Tín-Tâm Hành-Giả: LÝ-SỰ MÊ-LẦM nó không ngoài chưa Nhận-Định Tỏ-Rõ về TÁNH THAY ĐỔI, CHƯA BIẾT SỬ-DỤNG, nên Hành-Giả cùng các Bậc Tín-Tâm phải chịu lấy Ngăn-Ngại Chướng-Đối nhau. Nếu biết Tường-Tận được nó thì đương-nhiên Hành-Giả cùng các Bậc Tín-Tâm sẽ SỞ-ĐẮC PHÁP-TÁNH. Khi đã TỎ-NGỘ PHÁP-TÁNH liền SỞ-ĐẮC các Pháp THẦN-THÔNG TAM-MUỘI, đồng thời Thật-Biết đến quá dư Biết A-TĂNG-KỲ KIẾP vạn-vạn PHẬT, cùng Chư Thiên, Chư Thần, Chư Thánh, đến các TỊNH-ĐỘ thảy-thảy đều Viên-Đoạt đến Tận-Tường KHÔNG HAI-TƯỚNG.
 Nầy các Hành-Giả cùng các Bậc Tín-Tâm! Chớ nên Tu Tọa-Thiền trong lúc Công-Phu, hoặc đang khi nhàn-rỗi mà Mơ-ước Vọng-Khởi hoặc-giả quan-niệm mong mỏi Tọa-Thiền Thấy được hoặc gặp được Tiên Thần cùng với Lý-Sự Mộng-ước để mà Biết, để mà Đến, để mà Đặng, thì nơi Biết, cái Đến, chỗ Đặng kia thảy đều là Hư-Dối Mộng-Mị Điên-Đảo, nó chẳng có ích-lợi chi cho các Hành-Giả Tín-Tâm, lại mang thêm Tu Thiền-Tọa Lạc lối. Mong làm thế nào các Tín-Tâm cùng Hành-Giả Chỉnh-Trang Tánh-Tình, đối-xử cao-đẹp, mỗi ngày Hóa-Giải MÊ-CHẤP làm cho TRÍ-TUỆ rộng-rãi, Phát ĐẠI-NGUYỆN Thật-Hành, Thật-Tu liền đến nơi BẤT-BIẾN THẬT-CHỨNG.
 Nầy các Tín-Tâm Hành-Giả! Tất-cả mọi người xây-cất nhà cửa bằng gạch ngói, cây hoặc giả tôn, ván. Chớ nào xây-Cất nhà cửa bằng Mộng-Tưởng, Suy-Tưởng mà thành đâu? Mộng-Tưởng Suy-Tưởng thuộc về KIẾN-THỨC, lúc cần dùng để quan-sát kiểm-điểm sao cho nó vẹn-vừa. Đối với Pháp-Môn Tu Tọa-Thiền cũng như thế. Các Hành-Giả Tín-Tâm nên lấy CÔNG-PHU tạo CÔNG-NĂNG, lấy TRÍ-TUỆ Hóa-Giải Chướng-Đối cốt TỎ-THÔNG. Đó chính là :
 ĐỨC-TRÍ TƯƠNG-SONG
 CHÂN-NGUYÊN TRỰC-GIÁC.
Viết xong ngày 26 tháng 6 năm 1976.
Tại TRUNG-ƯƠNG HỘI-THƯỢNG NHA-TRANG

TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN
Ấn-Bút.

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam