PHẦN BỐN
NẦY THIỆN-NAM-TỬ, THIỆN-NỮ-NHƠN: Thiện-Nam Thiện Nữ tu cầu đúng với tinh-thần nơi TÔN-CHỈ-ĐẠO-PHẬT đoạt đến Mục-Đích GIẢI THOÁT, cần phải THÀNH-THẬT và THIẾT-THA-TÂM cốt giải bệnh mê-lầm, liền vào CHÁNH-TÍN đến CHÁNH-GIÁC. Vì sao phải vào Chánh-Tín mới đến Chánh-Giác? – Vì bệnh lầm mê, chính là bị vương Cuồng Tín. Khi đang Cuồng-Tín nghe pháp vẫn Cuồng-Tín. ĐẠO PHẬT dạy cho Chúng-Sanh từ nơi giải Mê, bớt Cuồng Tín lần vào Chánh-Tín mới nhận rõ được lời Chánh-Giác Chân-Thật của Chư Phật mà GIÁC-NGỘ.
LÀM THẾ NÀO TU TÂM ĐỂ GIẢI CUỒNG TÍN ?
Trước tiên các bậc tu hành phải Nhất-Tâm đem tư-tưởng tu cầu thiết tha đến Chư-Phật mong quả Bồ-Đề Giải Thoát. Lúc bấy giờ mới Phát Bồ-Đề Tâm nguyện, Bèn gìn giữ Tâm-Nguyện. Tâm lướt qua các Chướng-Ngại của hoàn cảnh thử thách, trong một thời gian Tâm trở thành THÙ-THẮNG. Từ bấy giờ mới bước vào con đường tu cầu CHÁNH ĐẠO TÔN-CHỈ GIẢI-THOÁT. Bằng chưa thành tựu Tâm Thù-Thắng thì có tu chăng nữa cũng vẫn đứng trước lý tu CẦU-PHƯỚC hay tu làm LÀNH lánh DỮ thế thôi.
Bậc đã nung chí có Công-Năng tạo Thù-Thắng-Tâm thực-hành lướt qua các hoàn-cảnh ngăn trở trên con đường tu, mới nhìn thấy đó là NGHIỆP hay MA-NGHIỆP, chận đường bít lối cản trở không cho mình tu. Khi bước qua các Chướng-Ngại trái tai gai mắt nghịch pháp thường thuyên diễn làm cho bậc tu-hành phải nhiều cơn cố gắng giải tỏa, chừng đó mới nhận thấy mình Cởi Giải-Tâm. Các Chướng-Đối trái tai gai mắt của các pháp nó không thực thể, lúc bấy giờ mới nhận thấy Tâm Thù-Thắng rất có lợi là tạo thành Công-Quả. Bậc tu nương nhờ nơi Thù-Thắng mà ít vướng vào tội lỗi tu đúng với tinh-thần TÔN-CHỈ Từ-Bi-Bác-Ái không buộc tâm, đó chính là TU TÂM.
Sau khi có trình độ khá, nhờ Cởi-Giải-Tâm, Thù-Thắng-Tâm với Tự Tánh kiểm điểm soi biết sự lầm nhận từ Cá-Tánh đến Trí-Tưởng của mình cho mình là phải, khi phần PHẢI đã về mình tự nhận, đương nhiên nhìn thấy hành động của những kẻ chung quanh mình đều trái ý với mình, trở thành nghe trái tai, thấy gai mắt chướng đối. Đã chướng đối thì liền có bực tức, nào có ngờ đâu tự nơi mình tạo lầm lẫn mà trái lại cho tất cả kẻ khác lầm lẫn. Đó chính là Cuồng-Mê, thì nơi Tâm-Ý tin Phật vẫn bị vòng Cuồng-Tín.
Lúc bấy giờ Tâm bắt đầu tu nơi thực-thể soi Giác, mới biết được nơi Tướng sai khác, có kẻ cao người thấp, có kẻ đẹp người xấu, gọi là Tướng Bất Bình-Đẳng, nhưng Tánh thì bình-đẳng giống nhau. Ai ai cũng thảy đều có: Tánh nóng, tánh hiền, tánh giận, tánh hờn, tánh vui-buồn…v.v.. lần bước soi nơi Tánh mình biết được Tánh người, từ đó thi-hành Bình-Đẳng Tánh-Trí để nhiếp-độ Tu-Tâm.
Đến khi hiểu biết các Pháp Bình-Đẳng nên chi từ Tịnh Bất-Tịnh, Thuận hay Nghịch tâm không còn quái ngại ngăn cách chướng-đối. Nhờ Tâm không phân biệt nên phá Nghi-Chấp Vọng-Đảo, từ ấy tu tâm trong Lý-Sự đồng song, tâm liền suông suốt ít mắc miếu sở-đắc THANH-TỊNH-TÂM. Tu trong thời gian Hạnh-Nguyện Tự-Lợi đến Tha-Lợi chính mình được lợi là NHÃN-TỊNH NHĨ-TỊNH. Nhờ Nhãn-Nhĩ thanh tịnh nên chi trước kia cái NGHE cố thủ nó không ngoài THINH PHÁP, cái THẤY chướng-ngại nó không ngoài SẮC-PHÁP. Bởi cố-thủ nên chi khi nghe không vừa ý liền ngăn cách, lúc Thấy chưa hợp Tâm liền chướng ngại dị-phân. Vì lẽ ấy mà Tâm mắc miếu đủ cách, dù cho có cố nhiếp tâm, kìm hãm tâm không ích chi mà trái lại Tâm vẫn bị bên trong động-vọng, đó chính là bậc chưa biết tu tâm để giải Cuồng-Tín.
Bậc biết Tu-Tâm trở thành Thanh-Tịnh đến Nhãn-Tịnh, Nhĩ-Tịnh và bậc chưa biết Tu-Tâm, đè ép Tâm Tịnh, hai bậc nầy khác nhau xa biệt, vì sao? Vì bên ép Tâm để Tịnh-Tâm tức nhiên Tâm bị Tịnh, Tâm bị Tịnh ấy phải xa lìa tiếng động bên ngoài, gạt bỏ cái Nghe chướng-ngại, cái Thấy né sợ động Tâm ngăn cách khó tu đến thành tựu. Bậc nhiếp-tâm Nhãn-Tịnh, Nhĩ-Tịnh đã từng đi trong chướng-ngại, ngăn-cách để nhiếp độ ngăn-cách chướng-ngại. Từ nơi bởi Cái-Thấy, Cái-Nghe Sắc và Thinh-Pháp không còn chướng-đối cách ngăn giữa hai Tướng kết chung về một Tướng.
Thế nào là hai Tướng về một Tướng ?- Tướng-Nghe Tướng-Thấy là hai tướng đều trả về trở thành TƯỚNG TÂM. Khi Thiện-Nam, Thiện-Nữ biết được tu-tâm để giải Cuồng-Tín thì cái Nghe, Thấy không còn là Bị-Nghe hoặc Bị-Thấy, mà nhận được Nghe, nhận Biết Thấy. Đó chính là Chân-Tâm Thể-Tánh Thanh-Tịnh mới đặng như thế.
Nhờ chẳng bị nên không Ngăn ngại được Tự-Tại dung thông, có dung thông mới nhận lãnh được lời Chân Pháp để Tu-Tâm. Khi Tâm vướng mắc ngăn ngại thì tự sanh cách biệt giai cấp khinh-ghét thù-hận chê-bai đủ điều vạn cách. Lúc Tâm-Thông mới nhận được TÔN-CHỈ ĐẠO-PHẬT rất nên chính xác ở nơi câu Từ-Bi-Bác-Ái Bình Đẳng Chúng-Sanh giai-hữu PHẬT-TÁNH. Phật-Tánh mờ lu chỉ tại Tâm Cuồng Vọng, tâm hết Cuồng-Vọng Phật-Tánh quân-minh. Nếu tất cả Chúng-Sanh tâm quân minh thì chúng sanh Tâm thành Phật tất-cả. Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, trên con đường Tu Tâm lướt qua các chướng ngại ngăn cách, học hỏi Giáo-Lý, thực-hành Hạnh-Nguyện tự-lợi tha-lợi để thành tựu NHÃN-TỊNH NHĨ-TỊNH. Tâm-Thanh-Tịnh tu thật là khó khăn, nhưng chưa khó, vì sao?- Vì có sẵn mục tiêu, có sẵn Ngự-Tâm, có sẵn huân-tập Thù Thắng Tâm để mà tu trên một đường lối rõ rệt với Tâm-Giác nhận-thức được. Đến giai đoạn Chân-Phật-Tử Sở-Đắc CHÂN KHÔNG mới là giai đoạn khó khăn vô kể, vì sao? Vì CHÂN-KHÔNG, từ phát Bồ-Đề-Tâm tu qua các trở lực say-đạo, mến-đạo, hiểu-đạo, biết-đạo đặng Bất-Thối Bồ-Đề tu nơi Thể-Tánh, dùng Thể-Tánh thật tỏ rõ mà thành đạt TRI-KIẾN-PHẬT, mới sở-đắc Chân-Không Thật-Chứng không hai. Khi Thật-Chứng Chân-Không liền thật biết không hai Tướng. Do mê-lầm thường Trụ-Chấp nơi Năng-Sở Kiến-Tri phải lầm theo Vạn-Pháp, đương sanh khởi theo duyên khởi Thọ-Chấp, đương diệt khởi mơ màng bất-tín mà phải Sanh-Tử Tử-Sanh vạn-pháp. Nhờ thế mà Sở-Đắc Chân-Không Thanh-Tịnh nhìn khắp Sơn Hà Đại-Địa đều chân thật KHÔNG, quán Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới Lục-Đạo chư-Thiên đều Chân-Không duy nhất. Tâm vô ngại mừng rỡ rỗng rang chẳng còn ngăn ngại lấy một pháp nào chứa đọng. Đó mới gọi là CHÂN-KHÔNG THẬT-CHỨNG TRI-KIẾN PHẬT. Bằng đọc tụng hoặc giả liều lĩnh chấp nhận trong vòng Bị-Biết Chân-Không, nếu như thế gọi là BỊ-KHÔNG thọ-chấp.
Bậc Sở-Đắc Chân-Không đặng Tri Kiến Phật phải tu-trì Pháp-Môn PHẬT TRI-KIẾN mới trọn lãnh rốt-ráo thành Phật, bằng chưa thực-hành không bao giờ rốt ráo viên mãn thành Phật đặng. Đó chính là một yếu điểm khó khăn nhất như trên đã nói.
Pháp-Môn PHẬT-TRI-KIẾN có những môn gì?- Có hoàn toàn đầy đủ TAM-THỪA chung lại một gọi là NHẤT HẠNH PHÁP-MÔN khi thành tựu hoàn mỹ NHẤT-TÔN PHÁP-HẠNH. Nơi Nhất Hạnh Pháp-Môn gồm có Tiểu-Thừa, Đại-Thừa và Nhất-Thừa tu trì tu-chứng trên Hạnh Nguyện, Lý-Sự tương song Đạo và Phẩm nhiếp-độ (Phần ĐẠO-PHẨM sau sẽ giải). Tất cả chư Bồ-Tát sau khi Sở-Đắc Chân-Không nguyện tu-trì Hành-Thâm Pháp-Giới, Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa đồng nguyện độ-sanh trong mỗi phẩm-nguyện mà hoàn-toàn Tri-Kiến, hoàn toàn Giải-Thoát.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, các bậc Tu Tâm đứng giữa Thật Chứng Chân-Không thì thường hay kiểm điểm để thi-hành Hạnh-Nguyện nhiếp-độ mê-lầm cho rốt ráo thành Phật. Còn ngoài ra những bậc chưa Thật-Chứng hoặc giả vừa Kiến Tri chưa đem đến nơi sát thật Sở-Đắc vội chủ-thủ thường vấp phải nơi Vọng Loạn Đảo-Điên mà tự sanh Tà-Kiến. Vì vậy nên Phật mới nói: “Mình tự nhận Sở-Đắc chưa hẳn là Sở-Đắc, đến giai-đoạn Sở-Đắc thì không nhận cũng vẫn Sở-Đắc”.
Đối với bậc Sở-Đắc Chân-Không thì chẳng nói làm chi, nhưng sự tu chứng chia ra rất nhiều thứ bậc khó diễn nói cho đặng, vì sao?- Vì nó chính là một NGÃ BA chia ra rất nhiều ngộ nhận khác nhau, tùy theo Năng-Sở Đức-Trí mà thành-tựu quả-vị Chân-Không.
Nếu là bậc căn bản Đức-Trí Thật-Chứng thì bậc nầy thường suy ngẫm kiểm soát Đạo-Hạnh và Đức-Trí nơi mình, nương theo Bát-Nhã Tâm-Kinh lấy Chân-Không làm chỗ trú của Bồ-Tát. Khi thực-hành Hạnh-Nguyện gặp phải các Pháp hiện hành quá ư chướng đối thời quán Chân-Không để Điều-Ngự Tâm, trên Cung-Kính ngôi TAM BẢO, dưới Đạo-Hạnh Lục-Hòa huân-tập Đạo-Tràng làm nơi Thường-Lạc, làm các phẩm Công-Đức Hành-Thâm Pháp-Giới Tự-Lợi Tha-Lợi.
Bậc nầy thật biết pháp BẤT TỊNH, con đường Bất-Tịnh không chướng ngại, nhưng không bao giờ thi-hành dung dưỡng Dục-Vọng của Bất-Tịnh. Bậc nầy rất biết Nghịch-Hành nhưng theo Đốn-Ngộ cho kẻ khác thi-hành giúp-đỡ nhưng không mất Đạo-Hạnh uy nghi, từ ngôn-ngữ ngạo-mạn đến danh-từ Tăng Thượng thật biết dùng đúng chỗ thuyết giải chẳng khác Sư-Tử-Hống làm cho tiêu dẹp Tứ-Ma Ngoại-Giáo, không một mảy may riêng ý mà thi-hành. Vì sao?- Vì gìn giữ Bảo-Truyền ngôi TAM-BẢO như gìn giữ Thân-Mạng mình để cho kẻ khác khỏi đoạn-duyên Phật, mà chính ra đã thực-hành Đạo-Hạnh tương song vào con đường NHẤT-HẠNH. Do đó thường làm gương cho các bậc tu-hành để nhất-tâm dâng cúng Bảo-Phẩm Báo Ân Chư-Phật.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, CHÂN-KHÔNG là pháp chân thật của không. Chân-Không là nơi Tịnh Độ của Bồ-Tát. Lúc Bồ-Tát mặc áo giáp Chân Không của NHƯ-LAI để ra vào pháp giới, ra vào các pháp Tự-Tại Vô-Ngại thành tựu Đại-Bi mà thi-hành Bát-Nhã Ba-La Mật-Đa vậy.
Theo tinh thần nói trên, các bậc Tu-Tâm nên nương theo đó mà tu. Chớ vì KHÔNG vô ký mà trụ, chớ vì quan niệm tu ĐẠO-HẠNH thi-hành phẩm-hạnh độ-sanh mà vương nơi Thọ-Chấp, lầm lẫn Đạo-Tràng. Bậc biết tu hành, trước cũng như sau duy nhất gìn giữ trọn Đạo. Đó là bậc Đại-Trí Bất-Thối sẽ kết-quả hiện-tại đến bờ bên kia vậy.
Nầy Thiện-Nam-Tử, Thiện-Nữ-Nhơn, đối với bậc Sở-Đắc Chân-Không như trên đã nói, tuy nó có một ngôn ngữ, một văn-tự, nhưng nó chia ra làm NGÃ-BA, vì sao? – Vì có rất nhiều ngộ nhận khác nhau ở mỗi một NGÃ. Nó tùy theo Đức-Trí, tùy theo Năng-Sở-Kiến-Tri (theo nhận Thấy, Biết của mình) mà thứ lớp thành tựu lấy quả vị Chân-Không. Nên Ngã Ba ấy có BA LỐI như sau:
* LỐI THỨ NHẤT: Bậc nầy vẫn gìn giữ Đạo-Hạnh, thường kiểm điểm lấy Đạo-Hạnh của mình nơi sai đúng, trên cung kính ngôi TAM-BẢO dưới Lục Hòa Tín-Chúng. Thật biết các pháp chính là KHÔNG nên thường hay Tịnh dưỡng Thân-Tâm, huân-tập Thanh-Tịnh, vì như thế nên nặng về Tịnh, bảo tồn về ĐỨC nhiều hơn TRÍ, sau khi thành tựu Thật-Chứng TỊNH-ĐỘ. Còn bậc chưa Sở-Đắc Chân-Không tự tạo Đức-Độ, gìn giữ Thanh-Tịnh-Tâm, chiêm-ngưỡng Đức Phật A-DI-ĐÀ, sau được độ gọi là TỊNH ĐỘ được ĐỘ.
* LỐI THỨ HAI: Lối nầy bậc Tu-Tâm sau khi Sở-Đắc Chân-Không, nhìn nhận Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới do các pháp thọ-chấp an-trụ mà có, vốn nó không từ chứng tri nơi KHÔNG mà tâm vô ngại, nương nơi VÔ NGẠI mừng rỡ không Chấp-Trụ. Do không chấp-trụ mà dừng lại nơi sở chấp KHÔNG. Tâm kia liền phát sanh tự-tại, nơi tự-tại ấy là tự-tại của tâm phát sanh chớ chưa phải là Tự-Tại-Tâm thật-chứng.
Tâm Tự-Tại bị phát sanh buông lung phóng đạt, trở lại cho tất cả đang tu-tập Đạo-Hạnh Hành-Nguyện là đang lầm mê, cho Đạo-Tràng là nơi củng cố không Giải-Thoát, liền bước vào Bất-Tịnh Nghịch-Hành làm thú vui theo dục-vọng đảo-điên cho thỏa mãn nhu-cầu tham-vọng, cứ ngỡ mình là Sở Đắc Tối-Thượng thành-Phật, vì sao? Vì thật biết các pháp có thì liền có Phật, nên chi mới chấp nhận đơn-giản PHẬT là PHÁP, mà PHÁP là PHẬT, chớ chẳng chi là PHẬT. Nào ngờ bậc nầy vừa Tri-Kiến-Phật, phải cần tu Pháp môn Phật-Tri-Kiến cho thật Giác-Ngộ thật tỏ rõ bá-thiên vạn-pháp rốt ráo mới thành PHẬT. Như trước đã nói qua (tờ 34,35) do lầm lẫn nơi Chân-Không-Pháp mà phải lâm vào NGOẠI GIÁO, thuyết-pháp bừa bãi tăng-thượng, ngạo-mạn, tự cho mình hoàn toàn Chánh-Giác phải sa vào TÀ-KIẾN CHỦ-THỦ.
* LỐI THỨ BA: Bậc nầy cần lấy căn-bản ĐỨC-TRÍ tương song, bậc nầy tu tâm Thực-Tánh, vẫn nương theo Đạo-Hạnh Hạnh-Nguyện cùng các Pháp-Môn nhận thấy biết hoàn mỹ. Huân-Tập Đạo Tràng để tỏ rõ Lý-Sự Chứng-Ngộ của từng bậc thường trụ-chấp, thường vội chấp nơi năng-sở kiến-tri Tu-Chứng từ hàng Thinh-Văn Duyên-Giác đến A-La-Hán vì sao thọ-báo Địa-Ngục, vì sao Chánh Báo chư Thiên hay Tiên-Thần, vì sao diễn hóa trở thành Tam Thiên….. Bậc nầy cốt nhiếp thu tất cả các thứ-vị của các hàng Chứng-Tu để chính mình rốt ráo Thật-Chứng.
Bậc thứ ba nầy không bao giờ nhàm chán Hạnh-Nguyện Độ-Sanh, vì sao? Vì Hạnh-Nguyện Độ-Sanh là món ăn của BỒ-TÁT. Nhờ Hành-Thâm Pháp-Giới mới đặng thật biết vì cá-tánh cố-thủ, bản-ngã tự-thủ, sở-ngã cùng ngã đều là nơi lầm lẫn tư riêng nên trở thành mỗi giới cố định, chịu nơi Sanh-Tử Luân Hồi của Pháp-Giới, chịu làm Chúng-Sanh thọ nghiệp của mỗi giới. Bậc nầy nương nhờ Hành-Thâm Pháp-Giới mà nhiếp độ được bá thiên vạn-ức Pháp-Giới, rất tỏ rõ từng Pháp-Giới, không còn lầm lẫn nghi ngờ gì tại sao có Pháp-Giới. Tâm nọ liền Sở-Đắc ĐẠI-THANH-TỊNH. Lại nữa, khi phát Tâm Hạnh-Nguyện Độ-Sanh, nương nhờ trên con đường Hạnh-Nguyện cứu giúp cho mọi người thoát khỏi nỗi đau buồn khốn khổ mà thật biết sự MÊ LẦM chính là khổ nhứt, không có hoàn cảnh nào khổ cho bằng LẦM-MÊ.
Do được biết sự Mê-Lầm gây tạo buồn khổ đau thương có hằng hà sa số kiếp như thế mà bậc nầy mới nhứt Tâm phát Đại-Nguyện, chịu lấy cái Khổ cho tất cả Nhân-Loại để duy nhất mỗi một mình mình thay thế cho tất-cả trần lao. Nhờ Hạnh-Nguyện cởi mở hằng vạn mối lo âu của mỗi người bị lo âu thoát khỏi lo âu. Nhờ hạnh nguyện như thế mới Thật-Chứng nơi diễn hành của Sanh Tử Luân-Hồi quá ư ghê tởm. Từ Chư Thiên mà hết phước phải sa Địa-Ngục bị hình phạt gông cùm đói khát. Từ một lời nói tổn làm đoạn duyên Phật phải chịu nơi A-TỲ ĐỊA-NGỤC hằng trăm kiếp, chừng nào kẻ kia phát Bồ-Đề-Tâm Nguyện thì chừng đó lời nói tổn kia mới đặng thoát-sanh. Thật biết như thế nên thường khuyên nhiều người hãy phát tâm tu nguyện cốt giải Địa -Ngục những kẻ phạm ngôn.
Nhờ Hạnh Nguyện mà thật biết rõ ràng vấn đề Tu-Tâm đoạt đến Bản-Thể Chân-Tâm rốt ráo chẳng phải ngồi yên mà tâm nọ mới đoạt được, cũng không phải tu mới vừa đắc pháp Chân-Không mà trọn-giác Bản-Thể đặng. Phải thi hành Hạnh-Nguyện cùng với Hành-Thâm Pháp-Giới nương nhờ hai pháp-môn trên phối hợp trở thành Pháp-Môn Bát-Nhã, vì sao?- Vì Hạnh-Nguyện Hành-Thâm Pháp-Giới với mục-tiêu nhiếp-độ Thật-Giác, chớ chẳng phải Hạnh-Nguyện Hành-Thâm mà thọ-chấp an-trụ nơi Hạnh-Nguyện Hành-Thâm. Nhờ mục tiêu chánh đáng ấy nên mới thành tựu Bát-Nhã Đà-La-Ni-Tạng.
Lúc bấy giờ mới nhận biết thật tỏ rõ các pháp-môn phải tu-trì không thiếu sót ĐẠO PHẨM. Phải nhiếp độ tận tường, từ Kinh-Pháp đến Thực-Hành Hạnh-Nguyện phải đầy đủ mới đoạt đến TỔNG-TRÌ ĐÀ-LA-NI-TẠNG, mới nhận rõ ràng TÔN-CHỈ Chư-Phật Từ-Bi đã nói: “Tứ-Loài chúng-sanh giai-hữu PHẬT TÁNH, vì bởi Mê-Lầm theo VỌNG-TÂM mà chịu làm Chúng-Sanh-Giới, nó là Phật sẽ thành”.Từ nơi lời HỶ-XẢ VỊ-THA Phật đã nói lên: “Nó không bao giờ có nghịch hành hay bủn-sẻn xấu xa, nó chính là PHẬT chẳng chịu làm Phật, ưa làm Chúng-Sanh nên phải như thế.”
