LẠ THAY! TRÊN CON ĐƯỜNG GIẢI-THOÁT

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 17
 MỘT buổi sáng tinh-sương, bên dòng-suối gần cạn, của đầu mùa hạ, Thiền-Sư lần bước trên đường mòn chỗm-đá, đến vũng nước, cạnh bờ suối đọng, cách ba đêm trước nhờ cơn mưa tiếp-viện.
 Đưa hai tay khoát lấy nước, rửa bộ mặt đã thức-ngủ tọa-thiền từ đầu canh ba, đến cuối canh tư mới tỉnh, thiền-sư nhìn về phía cây-rừng lá cành phe-phẩy gió-sương đưa, miệng lẩm-bẩm: CÓ TU MỚI CÓ CHỨNG . KHÔNG CHỨNG CŨNG KHÔNG TU.
 Phải chăng Ta cho Vũ-Trụ gió-mây là KHÁCH-QUAN, vũ-trụ gió-mây có đủ quyền cho ta là: QUAN-KHÁCH. Bằng Ta rõ Vũ-Trụ thì vũ-trụ tỏ-rõ ta. Ta cùng vũ-trụ đồng nhịp-nhàng giao-cảm, đó chính lẽ thường.
 Bộ-Óc nơi ta, Thân-Mạng của ta, nó là giống gì ? Ta chưa bao giờ biết rõ nó. Nó đâu cần ta biết nó, nó chẳng cần biết ta, nên ta ngỡ nó là ta, cho nó ăn hương-vị đầy-đủ, cho nó mặc sung-túc chẳng thiếu chi, cầu nó gìn-giữ trẻ-trung sợ nó già-nua sút-kém. Nhưng chính nó nào đâu phải vậy. Nó là bộ máy ráp-vần Ghi-Nhận Như-Nhiên. Ta có bổn-phận phát-ngôn thấy biết. Nó cùng ta thảy đều như-nhiên, phần nó đã giải-thoát từ lâu, nơi ta lại sống theo quan-niệm, thiền-sư nói xong cười xòa lãi-rãi.
 Thiền-Sư đứng lên, quay về lều-lá, tay nâng Ôm-Trà đã nung bằng rừng-lá làm nước uống, lấy bình-bát trong bình-bát có tách nhỏ, hớp một hớp nước dài chép miệng nói: Đúng như vậy, Có tu mới có chứng, Có thực-hiện mới hiện-sinh. Bằng không thực-hiện nào có hiện-sinh, làm sao tận-thấu. Khi hiện-sinh phát-sanh tường-tận, mới công-nhận chốn Lầm-sai, thì đâu còn hai nơi Tu-Chứng?
 Dại thay, Khó-khăn thay con đường giải-thoát. Ta là Con-Người nơi một con-người. Chưa bao giờ biết đặng nơi con-người, thì làm sao hơn con-người mà giải-thoát ? Khi Ta biết, đã thật biết đặng con-người thì lạ thay, ta đã giải-thoát, dù cho có cho ta giải-thoát khỏi con-người, nhưng ta đã hoàn-toàn giải-thoát toàn-bộ.
 Khó thay lành thay! Bản-Năng bản-chất, diện-mục Bổn-Lai con-người chưa bao giờ làm ác làm sai, hại lấy một ai, thời có đâu tranh-dành chém-giết? Con-người rất dung-thông, dung-hòa cao-đẹp, có thẩm-quyền làm đặng Phật-Thánh-Tiên. Nếu con-người nơi hiện-tại tự biết soi lấy nó, mới tỏ-rõ nơi loạn-trí trong thân-mạng con-người.
 Từ thủa từ xưa, Ta ngỡ ta là con-người làm vị Thiền-Sư, đến sau lắc đầu ta đang sống theo cái-sống lập-dị, khác sai liền tự-hối. Nhìn nhận lý-sự đảo-điên hư-dối cho đó là thật chân, khai-thác lần lần mới truy-tầm chân-thật, nên ta phải tu.

Tu qua đường lầm lạc. Tu nơi chỗ đúng sai.
Tu gấp bảy, gấp hai. Để quay về với một.
Tự rõ mình bị-cột. Đột-Ngột hiện-sinh.
Rành rành mới mẻ.
 Tuyệt-tác thay con đường giải-thoát, Phật-Đạo ấn-chỉ làm hai lối, cốt để con-người tìm chân-nguyên diện-mục, bằng phương-thức Pháp-Môn Tỏ-Tánh, cho nên mới có Ma-Nghiệp với con- người, lộng-hình khuôn-khổ Ma-tánh và Phật-tánh, lại chỉ giải Chướng-Nghiệp và Thọ-Nghiệp, cốt con-người không còn quan-niệm đối-tượng nhau giải-thoát khỏi nơi Đối-Chướng, lục-hòa, cùng nhau trở lại diện-mục bổn-lai con-người chung hưởng, khỏi nơi Ma-Quái Quỉ-Tặc, vương nơi tranh-dành chướng-đối Thọ-Nghiệp vô cùng tác-hại bản-thân con-người điên-đảo.
 Từ chỗ Giải-nghiệp rồi Tạo-nghiệp nó mãi diễn nơi tâm-ý con-người sáng-soi, khi bấy giờ mới hay trong thân-thể con-người nó vô cùng vô-tận nghiệp, nó vô cùng đảo-điên, điên-đảo sống trong ma-quái dẫn-đường. Lúc đã biết như thế, hay đã từng thực-hành đặng tỏ như vậy thì những con-người đó đã từng Bố-Thí, Trì-Giới, Nhẫn-Nhục, có ít nhiều mới đặng tỏ nhiều hay ít mà hiện-sinh trí-tuệ sáng-soi nơi tâm-ý mình, vì sao? Vì lòng Bố-Thí vị-tha là Bổn-Năng nơi con-người, con-người nó có sẵn đức-tánh thương mến, giúp-đỡ cùng cứu-giúp nhau những cơn hoạn-nạn ngặt-nghèo khi đói-khổ, con-người nó có sẵn bổn-năng hay động lòng thương-mến nhau, nó rất lành-lẽ thẳng ngay trợ-lực cùng nhau không bao giờ ghét bỏ. Do đó mà thời THƯỢNG-KIẾP, khi con-người đã nẩy-sinh tánh-tình chưa đặng tốt, thời mới nêu-cao câu từ-ngữ rằng: Những thứ gì không phải của ta, ta chớ nên lấy. Trước ngàn Thế-Kỷ của thời nầy Bổn-Lai con-người không bao giờ lấy cắp của chi chưa phải là của mình, con-người thời ấy tuổi thọ sống đến 8.000 tuổi, qua thời nêu-cao từ-ngữ thì con-người tuổi thọ được hưởng chỉ có 6.000 tuổi mà thôi, đó chính con-người nó như thế không riêng chi Đạo-Phật mới Bố-Thí mà bố-thí nầy là nguồn-gốc nơi con-người vậy. Còn Trì-Giới là nên biết phạm-vi nơi mình lại tự biết trình-độ lành-lẽ, đức-tánh tốt-xấu mình để bảo-vệ quả-vị, để giải-giới rộng thêm chớ chẳng nên phá-giới, đã không phá-giới thì không phát-hiện lời nói Thô-Bỉ, lời bắt-buộc người khác phải tuân-lệnh của mình, hoặc bắt-buộc con mình phải tu-học, phá-giới là một điều nguy-hại, phá-giới đi đến Thượng-Tăng tự-ngã, phá-giới tự mua chuộc sân-hận, tự gìn-giữ si-mê, Vì sao? Vì đồng-tình sanh vui-vẻ, bất-đồng chướng-đối si-mê thời làm sao bước qua Nhẫn-Nại để thu-nhiếp vạn-pháp tỏ-tường. Nên chi Trì-giới kèm theo Nhẫn-Nhục mới đạt thành.
 Bằng Trì-giới chưa thực-hành Nhẫn-nhục thì chưa phải là bậc trì-giới chính chuyên.
 Thiền-Sư vừa suy-nghĩ đến đây, yên-lặng nhìn bầy chim đang rối-rít nhảy-nhót trước sân, thiền-sư đứng lên vương đôi vai mỉm cười nghĩ tiếp: Phải rồi, phải rồi Đức Di-Lạc đã từng nói nơi bài thi về Trì-Giới, Nhẫn-Nhục như sau:

Nếu người tri-kỷ nên yên-phận
Dẫu kẻ oan-gia vẫn cộng-hòa
Miễn Tấm-Lòng nầy không quái-ngại
Mười phương chứng đặng Lục-Ba-La.

 Chính Ngài vẫn khâm-mạng trì-giới và nhẫn-nhục. Bậc nào con người nào rõ biết trì-giới nhẫn-nhục thảy đều là tri-kỷ con đường, vết chân của Ngài đồng-hành thực-tiễn, đến trùm-khắp chứng-tri. Trì-giới nó có trọng-lượng cùng giải-giới đến nơi phi trọng-lượng mà sở-đắc. Nó tùy theo mức-độ, tùy theo vết chân lần tiến của những bậc giác-chân gìn-giữ quả-vị, nhân-cách tư-cách con người cùng Phật-Thánh-Tiên hàng hàng lớp lớp vậy.
 Đó là một con đường Trì-Giới Nhất-Tôn cốt tu đạt đến Trí-Tuệ Thiền Định. Trí-Tuệ thiền-định nó như-nhiên xuất-phát, như-nhiên sáng-soi, đến như-nhiên trực-giác, nó rất tường-tận về Thọ-Nghiệp, chủng-nghiệp lợi-hại từng cảnh-giới, nơi thế-gian cùng xuất thế-gian rồng-người, các loài Ma-Quái, Tiên-Thần thánh hóa, đó chính là từ nơi Trì-Giới mới hiện-sinh tường-tận viên-đạt Diện-Mục Bổn-Lai từng giới khắp trong Vũ-Trụ thế-giới Tứ-Loài. Bằng chưa Trì-Giới làm sao tỏ-giới mà viên-đạt ?
 Thiền-Sư nghĩ đến đây thì ánh mặt trời tia-sáng ngọn nắng vàng trải dài soi khắp núi đồi cây cỏ thấp cao bình-minh sáng rõ. Thiền-Sư đang ngồi trên chiếc ghế-tre xinh nhỏ, yêm-bặt tựa như đang thọ-pháp Tổng-Trì. Bỗng-nhiên vỗ-tay khen-tặng, hay thay, hay thay! BI-CHÍ-DŨNG GIỚI-ĐỊNH-TUỆ là bao-quản bảo-trì pháp-môn Trì-Giới Nhất-Tôn giải-thoát. Chính ra BI là mỗi một giới hay mỗi một bước đi, hoặc lời hứa phải gìn-giữ cho tròn sự-việc, muốn gìn-giữ thực-hiện cho tròn phải là những bậc có Chí-Dũng, bằng chưa Chí-Dũng tu-đạt khó thành. Khi Bi-Chí-Dũng thực hiện đặng mới tu-đắc Giới-Định-Tuệ mà tròn-duyên Trì-Giới. Thiền-Sư nhìn nơi hư-không vô-tận buộc miệng ứng-nhân rằng: Lạ thay ngón tay chỉ quá ư tuyệt-tác, ta đã từng quen thuộc Bi-Chí-Dũng, Giới-Định-Tuệ hằng ngày mà chưa hề thấu-đáo, thì con đường giải-thoát dù có học thuộc nó chẳng có nghĩa-lý gì thâm-nhập. Khi thâm-nhập tận-tường Tổng-Trì-Đà-La-Ni-Tạng, mới tán-thán lời chỉ-giáo của Đức Thế-Tôn. Ngài đã xây-dựng từ lớp-lang cốt con người trở về Thể-Chân diện-mục, vì Bổn-Năng con người đang lầm-nhận Tạp-Nhập mà điên-đảo.
 Thiền-Sư nói tiếp: Mỗi một con người điên-đảo, thì bá triệu thế-giới con người lần đến lý-sự Đảo-Điên, cho nên thế-giới của con người mà con người đâu làm chủ được con người, toàn hỗn-hộp Ma-Quái tạp-nhập điều-động con người phải chấp-hành theo vọng-loạn đảo-điên, chính nó điều-hành con người lạc-lõng tha-phương do nó dắt-dẫn quá nhiều điều vô-lối, chưa bao giờ bổn-lai con người ưa-chuộng mà phải tuân-hành, do đó con người có Thân-Mạng, có Thế-Giới của con người mà cái-sống nơi con người chưa bao giờ thoải mái là như thế.
 Phật-Đạo không chấp-nhận hỗn-hộp tạp-nhập mà con người lầm-mê gánh chịu, mang lấy làm chính mình mới nói lên cần thức-tỉnh rằng: Vạn-Pháp Như-Huyễn, tạp-nhập là chúng-sanh Như-Huyễn, lại hình-dung tạp-nhập như bóng cây dưới nước, như tia-sáng trong rừng không thực-thể, chớ nên chấp-nhận, vì chấp nhận bị mù quáng.
 Con người với con người, khôn-khéo đến đâu khó nói lên thế nào con đường giải thoát, chỉ có bậc giải-thoát mới bày rõ chơn-tôn, biện-bày giải-thoát. Dù cho nhất-tâm tu-đạt, tin chỗ giải-thoát chăng, vẫn tin nơi quan-niệm giải-thoát, bằng thể-thức Tuyệt-Dục, ly-thân, cắt-ái xa lánh con người trần-lao cấu-nhiễm là giải-thoát. Chính Thân-Mạng nơi ta cũng đã từng lầm-lẫn quan-niệm như thế. Nhưng may thay! Nương nhờ Thiền-Tọa tự-tánh sáng-soi, tỏ-thông vạn-pháp như-huyễn, nó vãng cùng lai nó sai hay đúng, nó đúng bóng hình, lộ-trình mãi diễn. Nhìn nơi Tập-Nhiễm, kiểm-điểm vô-biên, đến lúc tọa-thiền, mới hay tạp-nhập, cho đến giờ phút nầy, giai đoạn hiện nay ta mới hay TÍN-HẠNH-NGUYỆN một sức mạnh Tự-Tín vô cùng, nếu tu-cầu giải-thoát chưa Tín-Hạnh-Nguyện vẫn chưa xong, Vì sao? Vì chưa Tự-Tín Bổn-Năng nơi công-năng thọ-lãnh để thực-hành Hạnh-Nguyện thì chưa bao giờ giải-thoát bởi công-năng khỏi vòng-đai sanh-tử, nó thay đổi của tạp-nhập cản ngăn, làm thành lăn-tăn sóng gió, thật khó-khăn thành-tựu.
 Mâu thuẫn thay! Trí người với giải-thoát. Khi đang còn mê-lầm tạp-nhập, định-hướng chỗ mơ-màng, vọng kỳ xao-xuyến, quan-niệm đúng-sai, sống theo cái-sống Cảnh sanh tình, chưa rõ đặng Tình đổi Cảnh. Tuy những con người ấy miệng đòi giải-thoát, hoài-vọng mong tu-hành đến chí-nguyện giải-thoát. Nhưng lạ thay chỗ giải-thoát nơi họ ưa-thích không tu mà giải-thoát, chẳng chịu khắc-phục bản-thân mà mỏi mong nơi đến hình-thành. Nếu gặp ta, Ta bảo họ phải đứng yên xét lại bản-thân, hoặc hóa-giải thọ-sanh chướng-đối, chẳng khác qua núi đồi mới đến nơi giải-thoát, nào họ có nghe đâu đặng, dù nghe hiểu vẫn mơ-màng, chưa nhận-chân chi cả, nên chi họ:
 TRƠ trơ như tượng-gỗ. ĐỖ đỗ oán gật-gù.
 Chỉ thích phá sương-mù. Chịu tu nơi kỳ-vọng.
 Thật ra con người, chưa hẳn nó muốn như thế. Chỉ vì nơi con người yếu-kém, lại mang phải tạp-nhập quan-niệm nặng-nề, nơi chỗ Mê-Tín, Tự-Tín chưa phân nên mới phát-sanh ngơ-ngẩn. Thà nó như thế, được như vậy để nó tu, còn có thời-gian vào Chánh-Tín, hãy còn lại bổn-chất con người nhiều hay ít về môn đạo-đức hiền lành. Tuy những bậc nầy dại nơi con đường giải-thoát, chính khôn chỗ Hiền-Lành, Ngoan-ngoãn như BỤT. Thiền-Sư cười xòa, lấy tay nhịp nơi đùi thoải-mái.
 Thiền-Sư nghĩ tiếp, kẻ tự-tín phải lâm vào mê-tín mà chẳng hay, Thường-Nhân tự-mãn trong cơn khôn-dại, chỉ vì chưa thực-hiện chí nghĩ lành mạnh của mình. Còn phần Tự-Tín của Phật-Tử Chí-Tôn vẫn chưa thực-hành Hạnh-Nguyện, khai-thác trình-độ tu-học nơi mình, thì làm sao Thọ-Trì bảo-pháp mà Tự-Tín ? Dù cho họ lầm nơi Tự-Tín đi nữa chăng, vẫn tự-tín trong vòng học vấn, thuyết-giả chẳng minh-chân nơi Tam-Tạng kinh mà thuyết-giả, trở nên đảo-thuyết, thực ra chưa bước nơi chân-tâm thực-thuyết, thời làm thế nào bước vào con đường giải-thoát vẹn-toàn? họ làm như thế, tu như vậy, gọi đó chính là Năng-Thuyết Bất-Năng-Hành. Khi nhận đặng Tự-Tín, bảo-pháp giải tâm nguy, Chân-Tâm hồi-sinh lực, Tỏ-Rõ giải Phước-Điền, Hạnh-nguyền nguyên tự-tín. Bằng chưa an-lành trong Tự-Tín thì tu-sống trong thế-hệ vu-vơ mờ-sáng, nương theo tạp-nhập trở thành NHẬP-THUYẾT. Phật-Đạo mới phương-tiện là: Nương vào Công-Đức Như-Lai thuyết-pháp. Tuy nhiên đang tu nhập nói, chính các hàng tu học phải học lại thời pháp mình đã nói mà tiến thân, chớ nên lầm cho mình đã từng thuyết-pháp, nên chi Tự-Tín rất cần Hạnh-Nguyện, thời tự-tín kia mới là con đường tự-tín tu-đạt Chánh-Tín.
 Thiền Sư sửa lại y-áo bước đến bát-hương đã đặt trên vách lá, bái ba bái chiêm-ngưỡng xong đâu đấy vẻ mặt trang-nghiêm, đầy lòng kính-ái, Thiền-Sư chắp tay nói: Bạch Thế-Tôn, chính con đã đưa tất-cả chúng-sanh tri-kiến giải-thoát. Sự lầm-lạc nơi con giờ phút nầy không nói được. Con vướng bệnh mê-lầm chính con phải chữa căn bệnh, khi bệnh hết mới đặng giải-thoát. Con tu-cầu đã từng Thệ-Nguyện độ hết chúng-sanh mới nhập niết-bàn, bằng còn mỗi một chúng-sanh chưa tận-độ con thề chưa nhập niết-bàn.
 Thế mà, con ngỡ chúng-sanh nó buộc con chưa giải-thoát. Con phải dằng-co với chúng, con tu cầu nơi đúng chân-nguyên, con phải lang-thang kiếp-sống hảo-huyền qua từng khúc, từng hồi từng cơn khắc-phục. Nó mãi diễn tấm-tuồng, con cứ lầm nơi nó với con, cứ như thế mãi, cho đến từ hàng ma-quái hay loài quỉ-quái sinh-tâm, nhất nhất tư-tưởng lầm, nung cầu giải-thoát, lại bồi vào hàng Tiên-Thánh, siêu-thoát độ nhân-sinh. Con ngỡ con Bồ-Tát thành, ứng-thân muôn triệu cách. Hôm nay con quét sạch, mới thưa bạch Đức Thế-Tôn.
 Thiền-Sư đưa đôi mắt thỉnh-cầu bửu-sám. Khi bấy giờ nương nhờ nơi bửu-sám Chí-Tôn của thiền-sư ứng-hiện chân-thành, hòa-đồng Tam-Thiên vũ-trụ, liền ánh Thái-Dương, chợt có vừng mây che bớt ngọn nắng nực-nồng, trở thành trời êm gió mát. Nơi Lều-Lá có ánh hiện huỳnh-quang, có tia-vàng hương tỏa, Thiền-Sư Hiện-Thân lên tòa thuyết-pháp. Bỗng nhiên từ Tây-Phương, Đông-Phương, Nam Phương cho đến Bắc-Phương trong Mười-phương, từ hàng Trưởng-Giả, Tôn-Giả, Chư-Thiên, càng-cát qủi-vương, từ một phương đến mười-phương đầy-đủ tựu-tề, đầy đủ lớp-lang trong hàng Bồ-Tát không thiếu sót.
 Thiền-Sư nói: Nầy các Ông, Đây các Ông, Đến các Ông, hãy nghe ta dạy, hãy lãnh lời ta hòa-đồng chỉ-giáo. Khi bấy giờ hàng hàng lớp lớp ngồi yên. Tiếng Sư-Tử-Hống của thiền-sư phát-hiện nói: Ta đã dạy các Ông, từ hàng lớp sơ-khởi, cho đến bậc phát Bồ-Đề-Tâm, Ta nhắc-nhở từng phân, từng hồi để các ông thọ-pháp, các ông sinh lòng biếng-nhác, ta phải giải nói siêng-năng. Các ông chẳng nói không rằng, dạy nên thuyết-pháp, các ông lý-suông khoác-lác, buộc phải thụ-giới chân-như, các ông tâm nhỏ chưa trừ, dạy nương theo chí-nguyện, các ông sanh lòng tăng-thượng, dạy các Ông Ngã giải lìa ngôn lánh nơi Thọ-giả. Trong khi ấy các hàng chư-thiên, chư-tiên chiêm ngưỡng chờ giải đến phần mình, thời bỗng nhiên thiền-sư nhìn nói:
 Nầy hàng chư-thiên, các Ông rộng-hẹp chưa dung đồng bình-đẳng, chỉ vì Độc-Tôn bỉnh-trị, do nơi ưa-chuộng say-đắm chốn uy-quyền, Ta phải dạy Sắc-Hương, chớ vương trong pháp-giới, buông thả tỏa muôn-phương, cúng-dường Tam-Thế chứng. Còn hàng thanh-thoát của chư-tiên, do căn-tánh hiếu-kỳ, do lòng hữu-hóa, nên bị sống hóa-sanh, trưởng-thành tài-phép, chìm đắm diệt-sanh, Ta phải dạy Tâm Hành, kim-cang đại-trí. Đến hàng Bồ-Tát hiện tu-đạt Phẩm-Phổ-Môn, cung kính Phẩm-Cúng-Dường, rộng đường Bát-Nhã-Vị. Thiền-Sư vừa tuyên đọc xong: Tất cả Rồng-Người-Tiên-Thần Thánh-Hóa cùng Bồ-Tát trùm khắp Tam-Thiên đại-thiên thế-giới tán-thán. Chư-Phật Mười-Phương Chứng-Minh đương thời hạ-lai, Pháp-Thân thị-hiện giảng-giải.
 Các hàng hàng lớp lớp, tất-cả ứng-thân thị-hiện đứng lên Lễ-bái, đứng lên thưa gởi, đứng lên tỏ-bày, Thiền-Sư gật đầu, tất cả đều ứng nói:
 Kính Thượng-Sư, chúng con đều rõ như vậy, biết như thế, Công-Đức Thượng-Sư vô-lượng, công-năng vô-biên tận tận khó nghĩ bàn, chỉ vì lòng chúng con. Mỗi hàng, mỗi vị đều có sẵn của mỗi nơi, lớp-lang đâu cũng vậy, Tình-Tứ mỗi vị sẵn tánh ưa-thích dành nhau, bởi lòng thương cảm-mến thiền-sư về với phần của chúng con nên chi xảy ra sự việc.
 Chúng con dành-dựt, chực sẵn mỗi bên, chờ lúc hở cơ, mang Thiền-Sư về an-trú. Chúng con lại mỗi giới, có giới yêu-đời, có nơi dõng-dạc, có chốn nói khoát, có chỗ an-bang, có từng đoàn phỉnh-gạt. Lại thêm nơi thanh-thoát, lắm cõi hiên-ngang, xây-dựng giang-san, lập thành Vua-Chúa, không ngoài phân-bủa, dành cướp Thượng-Sư.
 Nghe xong thiền-sư cười xòa hỏi Tại sao? Tại sao? Kính thưa Thượng-Sư, tại mỗi nơi có sẵn mỗi CHỦNG-TỘC nó như thế. Thiền sư vỗ-tay, tất-cả thảy đều vỗ-tay xưng tán.

Lạ thay! Trên con đường giải thoát.

TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN
KỶ-NIỆM MÙA KIẾT-HẠ.

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam