GIÁO PHÁP
BÀI THỨ MƯỜI MỘT
BÀI THỨ MƯỜI MỘT
TRONG Tứ-Đại Giả-Hợp chính là trong con đường Phật-Đạo một phương-pháp tìm hiểu để đạt đến Tỏ-Biết Chân-Lý. Nó chung gồm tất-cả Triết-Lý Triết-Học Khoa-Học và Y-Khoa mà soạn-giải được sạch lý, tức là Chân-Lý giải-quyết đặng Bản-Thân SANH-TỬ. .
Tứ Đại Giả-Hợp tức Bốn Đại mượn nhau hợp thành Hình Tướng như: Vũ-Trụ và Thân Người cùng Cây-Cảnh và Vạn-Vật muôn loài, gọi là Vũ-Trụ Nhân-Sanh vậy. .
Nơi Vũ-Trụ và Nhân-Sinh ấy chia ra hai Tác-Dụng: Một bên về HỮU-TRI còn một bên là VÔ-TRI nhưng thảy đều có Bốn-Đại hợp thành. Bốn Đại hay Bốn-Chất là: ĐỊA-ĐẠI (chất đất ) THỦY-ĐẠI (chất Nước) PHONG-ĐẠI (chất Gió) HỎA-ĐẠI (chất Lửa). Tứ-Đại ấy nó liên-tục cấu-kết nhau thành Hình-Tướng, khi đã có Tướng của nó chớ chưa nói về vấn-đề NGHE-THẤY-BIẾT gọi là VÔ-TRI. Nếu có đặng NGHE-THẤY-BIẾT thời gọi nó là HỮU-TRI. .
Vì có chỗ KHÔNG-BIẾT và BIẾT nên Vũ-Trụ và Nhân-Sinh là HAI. Một VÔ-TRI, Hai HỮU-TRI. Bậc Hữu-Tri có thêm hai Đại nữa là: HƯ-KHÔNG và TẠNG-THỨC, nên có tất cả là: LỤC-ĐẠI, hơn Vô-Tri hai Đại. Đó cũng chính là phần quan sát hiện-tại của Nhân-Sinh cũng có lối quan-sát ấy một phần vậy. .
PHẬT-ĐẠO NÓI: Tất-cả Vũ-Trụ Nhân-Sinh do GIẢ-TƯỞNG Tâm biến hiện nên có SƠN-HÀ ĐẠI-ĐỊA, bởi vọng tưởng mà thành chớ vốn nó không thực, nó cũng ví như giấc Chiêm-Bao vậy. .
Nếu theo Triết-Lý, theo lời của Phật-Đạo để bàn giải thì nói: Khi đã Giả-Tưởng hợp thành mà có nơi chiêm-bao, thì tất-cả đều SẴN CÓ Lục-Đại, cũng như Hữu hay Vô đồng có. Nhưng tại sao có cái Biết còn có cái lại KHÔNG BIẾT? Triết Lý đến đây cũng phải chịu. PHẬT lại cho Triết-Lý tận-cùng là Biện-Tài, nơi biệt-tài vô-ngại ấy nó chẳng phải là Chân-Lý, vì Chân-Lý bao-gồm, thì triết-lý nó vẫn lãnh một phần nào của Chân-Lý thôi. .
Về phần Triết-Học và Khoa-Học, thời họ có ý-chí cao cả và rộng-rãi hơn, nào là tìm những cái gì tồn-tại nơi vũ trụ để cung-đốn cho nhân-sinhi, nên họ dọ-dẫm từng Sát-Na khẻ động của Vũ-Trụ so lại nhịp-nhàng đều-đặn ăn khớp với con tim của loài người. Họ khảo-cứu thực-tại, nên gọi họ là phái Duy-Vật của Triết-Học và Khoa-Học. Họ lại thực-hiện khám-phá các Hành-Tinh tìm ra đặng tính-chất của Nguyên-Tử, nào là chất Hợp, chất Phá, cùng các chất như: Đặc,-Lỏng, Thăng-Trầm để họ biết nó gìn-giữ vũ-trụ và Nhân-Sinh ra sao. Họ lại cần hiểu khi mà vũ-trụ tan-rã thì họ lại đưa Nhân-Sinh lên các Hành-Tinh đã tìm đặng để bảo-tồn nhân-loại. Đó là những điều của họ đang làm hay sẽ làm vậy. Nhưng ngược lại, chính ngay Thân-Mạng họ đến lúc diệt-vong không còn cứu-vãng họ đặng thì sao? Họ đành chịu, họ lại triết-lý rằng kẻ sau họ tiếp-tục làm, có thế thôi. .
Cũng có phần vẫn đi trong Triết-Học và Khoa-Học, gọi là DUY-TÂM. Trước hết là họ phải sống để bảo-vệ thân-mạng của họ sau mới đến Nhân-Sinh. Họ bèn quan-sát và Tu Luyện theo lối của Nhật-Bản gọi là: TRIẾT-HỌC-ZEN, còn ta gọi là THIỀN-TÔNG. .
Những bậc ấy họ đang hiểu hay đã hiểu: Vũ-Trụ với Nhân-Sinh in nhau không khác. Trong Thân con người trái tim khẻ đập các mạch-máu chạy đều, thì ở bên ngoài Vũ-Trụ chuyển mình làm việc in như nhau. Trong thân con người từ hơi thở hay nóng-lạnh bao nhiêu thì ngoài Vũ-Trụ: GIÓ-MƯA,-NẮNG-TUYẾT bấy nhiêu. Do như vậy nên Vũ-Trụ bên ngoài chuyển mình giao-động, con người không đủ sức điều-hòa theo vũ trụ liền sanh đau ốm chết chóc là vậy. Bậc ấy lại công-nhận Vũ-Trụ là ĐẠI-THIÊN-ĐỊA, còn con người là TIỂU-THIÊN-ĐỊA. Nhưng họ lại quyết-định con người là: CHỦ của Vũ-Trụ, vì họ cho con người lấy TẠNG-THỨC làm Bản-Năng, con người có sự HIỂU-BIẾT, con người có KHÔN-NGOAN TINH-XÃO tuyệt-mỹ, có thể làm cho các Ngoại-Cảnh biến-đổi như: Núi-Sông Rừng-Rú biến thành Bình-Địa, nơi xa-xăm hẻo-lánh cồn cư trở nên Đô-Thị, do những điểm Tạng-Thức hiểu-biết mà làm chủ Vũ-Trụ, còn Vũ-Trụ thì lấy ĐẤT làm BẢN-NĂNG chỉ có to lớn hơn Nhân-Sinh mà KHÔNG-BIẾT. .
LẠI NỮA: Bậc ấy lấy căn bản bí-quyết làm sao cho con người và Vũ-Trụ sự nhịp-nhàng điều-hòa không sai chạy, thì con người và Vũ-Trụ đồng sống như nhau, thành-thử họ tu-luyện bảo-vệ THÂN hơn. Trước tiên họ không dâm-dục vì vũ trụ không dâm-dục, sau họ dùng phương-thức luyện theo với vũ-trụ mà Tọa-Thiền dùng Thiên-Điện thu nhiếp tinh-chất thanh khiết của vũ trụ thở ra họ bèn thâu-nhận để tập-trung năng-lực bồi-dưỡng Thân, trong một thời gian tu-luyện Thân họ đặng điều-hòa và tráng kiện, cái mức sống của họ lâu hơn kẻ tầm-thường. Nhưng đến một thời nào nó cũng tùy theo công tu-luyện bù-đắp bảo tồn Thân-Mạng, đến giai-đoạn sau vẫn phải chịu với luật Sống-Chết. .
Tất cả phần Triết-Học Khoa-Học Duy-Vật và Duy-Tâm trên, theo lời của Phật Đạo giải và nói: .
TÂM-PHÁP BẤT-NHỊ tức là: Tâm và Cảnh không Hai, Tâm biến-diễn in tuồng có thực. Chúng-Sanh bị tưởng lầm sanh mê-lầm, nương theo để sống ngỡ là thật, vốn nó Ảo-Tưởng thành-hình thôi. Nên chi Nó muốn thế nào đặng thế ấy không sai, vì nó Thọ-Chấp mà thành. .
TÂM PHÁP: Chẳng khác nào: Kẻ kia viết một quyển truyện thật hay, khi viết kẻ ấy đặt hết Tâm vào ngòi bút mà viết, Tâm thuyên-diễn thế nào thì quyển truyện ra thế ấy. Tâm của kẻ viết truyện và quyển truyện đều là Một, nên Tâm-Pháp không Hai là vậy. .
Còn người xem truyện, xem chẳng nhàm chán, họ cũng đặt cả Tâm vào truyện họ tưởng in-tuồng như thực, một phút ước mong bao nhiêu tư-tưởng đi trong quyển truyện mà đầy sinh-sống nó cũng vậy. .
PHẬT-ĐẠO LẠI NÓI: Kẻ nằm chiêm-bao TÂM-BIẾN ra SƠN-HÀ ĐẠI-ĐỊA, nào là Núi-Sông Lâu Đài, kẻ qua người lại, họ tấp-nập dưng-hương lễ bái. Kẻ mơ ấy lại đi đứng nằm ngồi trong giấc mơ, nào có hay biết mình ở trong mơ. Tâm của mình biến hiện-mình lại ở trong Tâm mình. Khi mơ đó nó có những đặc-tánh là: Mình vừa Khởi-Muốn nó liền hiện theo như ý, mình lại tưởng mình làm mà đặng, mình tìm nó đặng. Đó là những then-chốt lầm nhận trăm phần trăm đều thế cả. Khoa-Học và Triết-Học cũng vậy, nơi câu: nên chi nó muốn thế nào đặng thế ấy không sai, vì nó Thọ-Chấp mà thành. .
Khi hãy còn thắc-mắc vào Vũ-Trụ và nhân-sinh thời tư-tưởng có thể đào-tạo nên triệu sự Muốn để mà làm thảy đều thành-tựu được cả, duy chỉ có trước và sau thôi, Nhưng gìn-giữ cho nó tồn-tại không đặng. .
Có Bậc cũng đã Hiểu-Biết những lời nói trong bài nầy và đã biết thật rõ mình đang nằm trong Chiêm-Bao, nhưng không thể nào ra khỏi đặng. Vì sao? Vì chính mình không Tin-Mình, hãy còn Nghi-Mình (gọi là còn Nghi-Chấp) nên mắc vào Tâm-mình, đó gọi là Bị TÂM-SANH. Vì bị Tâm-Sanh như vậy nên mới có:Làm Ác bị sanh vào Địa-Ngục. Làm Thiện đặng sanh Cõi-Trời. Lập Nhân-Nghĩa Lễ-Trí Tín sanh được Thế-Gian. Đó là Tự-Tạo lấy Cõi mà tự lãnh lấy Cõi vậy. .
Trong Vũ-Trụ và Nhân-Sinh cũng thảy đều trong vòng Tâm-Sanh chừng nào KHỞI-SANH-TÂM TU TỎ-TÁNH mới thoát khỏi Tâm-Sanh. Bậc mà chẳng bị Tâm-Sanh thì gọi là VÔ-SANH. Khi Tỏ Tâm Chánh-Giác gọi là GIÁC-NGỘ vậy. .
Theo Phật-Đạo thì phần Triết-học cùng Khoa-Học đang đi nơi thuyên-diễn của Tâm-Sanh, tuy đoạt đến làm chủ của Vũ-Trụ chớ chưa phải làm chủ TÂM-MÌNH. Khi Tâm của mình thuyên-diễn qua tuồng khác thời chính mình phải trôi-dạt theo nó, thành ra giải-quyết vấn đề Vũ-Trụ và Nhân-Sinh không đặng. .
PHẬT-ĐẠO NÓI: Trước tiên phải thu-nhiếp Điều-Ngự Tâm vì TA bị Tâm Ta điều khiển nên mới Sanh-Tử Luân-Hồi. Nếu Ta tỏ-Tâm gọi là GIÁC thời chẳng lầm TÂM, nào bị Tâm-Sanh điều-Khiển? Đó là một quyết-định giải-quyết Nhân-Sinh được thì Vũ-Trụ xong. .
Các Bậc tu-hành hay tìm hiểu nơi Khởi-Sanh-Tâm thì nên coi BÀI THỨ SÁU, đó cũng là bài giải-đáp chung và riêng các Bậc vậy. .
Sau nầy về phần của Y-KHOA họ vẫn khảo-cứu và truy-tầm các chất trong Vũ Trụ không ngoài Lục-Đại như: Cây-Cỏ Đất-Đá mỗi một thứ cây họ đều tìm đặng nguyên-liệu tánh-chất của nó để mà chửa bệnh hay bồi-dưỡng Thân, tùy theo sức-khỏe một khi Thân cần đến, họ tìm tòi từng hơi thở, từng lời nói đặng rõ biết chứng bệnh do nguyên nhân nào phát-sanh mà trợ giúp cho Thân đặng lành-mạnh như sau: .
– Kẻ thiếu Máu, triệu-chứng xây-xẩm, họ liền cho chất máu của loài khác sang hay cho uống những chất trong cây-cỏ mà thích hợp hóa sanh đặng máu hoặc dùng chất bổ nơi sự ăn uống làm cho kẻ thiếu máu đặng tăng vừa, thân liền trở nên điều hòa khoẻ-mạnh. Bằng người dư máu lại cho uống chất để giảm, mục-đích vẫn làm cho điều-hòa là căn-bản thôi. Đó cũng gọi là NƯỚC trong Tứ-Đại. .
– Kẻ thiếu Gió hơi thở mệt yếu, họ bèn bồi-dưỡng về Phổi hay tùy theo chứng căn về gió. .
– Kẻ thiếu Lửa khi nóng lúc lạnh, họ bèn làm cho điều-hòa các mạch-máu chạy đều mà tạo thành lửa. .
– Kẻ thiếu chất Đất, liền cho uống chất vôi để bồi dưỡng lấy xương. .
Nói tóm lại khi Thân sút-kém, Tứ-Đại thâu-nhận chênh-lệch chẳng điều-hòa tức nhiên có Bệnh. Hoặc trong Lục-Đại có ĐẠI nào DƯ cùng THIẾU vẫn bị đau ốm hay suy-giảm đều có chất chữa bệnh hay bồi-dưỡng trong Thân cả. Đó là lẽ thông thường của các Y-KHOA đã làm và đã Biết. Nhưng đến lúc giải-quyết về CÁI-CHẾT vẫn đành chịu. Có bậc nói tu luyện thuốc Trường sanh hoặc Linh-Đơn chẳng hạn, nhưng khi mà đã đến lúc Tan-Rã phải đành thôi. .
Tất cả theo phần Y-Khoa, Phật-Đạo giảng-giải và nói: Tất cả bệnh hoạn do Chúng-Sanh Sân-Hận Tranh-Dành Tâm Ý mắc-miếu buồn khổ mà có bệnh, nó cũng gọi là Nghiệp đòi hỏi suy-nghĩ mà thành lao. Nghiệp nóng giận, được mừng mất phiền mà sanh Não (đau đầu). Nghiệp nhát sợ hay bị đau xương ủ-rủ. Nghiệp hốt-hoảng chẳng định nên bị nước da vàng. Nuôi tức giận là Nghiệp sau sẽ đau gan hoặc đau xốc hông. Quá vui-mừng chính là nuôi cho Tâm-Ý điên-Cuồng vọng-loạn mà phát-sanh Tăng-Thượng. .
Nói đến các bệnh thời nó không cùng đặng, vì chính nó là: Nghiệp tạo thành có bệnh. Cứ mỗi trạng-thái TĂNG hay GIẢM đều là NGHIỆP và BỆNH song liền với nhau. Càng văn-minh bao nhiêu lại càng có bệnh bấy nhiêu. Càng bao-quảng vũ-trụ và Nhân-Sinh lại càng tăng-trưởng bệnh-hoạn bấy nhiêu. Cứ tìm đặng một liều thuốc hay là có một bệnh nặng, bệnh do Nghiệp tạo thành mà có, vì thuyết-giải của Phật-Đạo như thế nên chi làm cho Nghiệp tiêu-giảm là hết bệnh, Tâm-Ý rỗng-rang là hết bệnh, không hoảng-hốt sợ-sệt chẳng hơn thua đặng bình-dị là hết bệnh. Tìm tỏ đặng Tánh-Pháp bản-tánh vọng-đảo của mọi người mà Tâm chẳng gút-mắc là hết bệnh. Thung-Dung Tự-Tại giúp người hơn lợi-kỷ cho mình là giải bệnh. Khi bậc tu-hành đã Tự-Lợi và đến nơi Tha-Lợi thời chẳng có bệnh, khi không có bệnh tức nhiên Lão (già) cũng không vậy. .
Trên Căn-Bản của nền Phật-Đạo Tu-Chứng có thể giải quyết đặng vấn đề vũ-trụ và nhân-sinh thực tại. Vấn đề Nhân-Sinh duy chỉ có: SANH-TỬ-BỆNH-LÃO-KHỔ, đó là một khuôn-khổ hệ thống kèm giữ nhân-loại trong vòng BỊ-SANH, lúc đã Bị-Sanh liền Bị-Tử, BỊ BỆNH phải có LÃO liền theo với KHỔ. .
NGƯỢC LẠI: Ai sanh Ta: TÂM-SANH Ta, Ta liền BỊ-SANH. Hiện tại Ta phải làm thế nào? Ta SANH-TÂM luôn luôn xem-xét Tâm, không cho Tâm lung-lạc, gọi là: Nghi-Chấp để Phá-Chấp, lúc chẳng còn bị Tâm-Sanh, Ta điều-khiển đặng Tâm, thời chẳng Bị-Sanh nào đâu có TỬ, đã Không Tử, Chẳng Sanh, gọi là VÔ-SANH vậy. .
CÒN BỆNH: Do đâu có bệnh? Bởi có NGHIỆP liền có BỆNH. Hiện-tại ta phải làm thế nào Ta phải đối-đải mọi hoàn-cảnh chẳng mắc-miếu nặng-nhẹ riêng-rẻ một mình ta, nếu ta làm như thế đặng thì Tâm rỗng-rang, Từ-Bi Hỷ-Xã tâm đặng Tự-Tại, Tình chân-thật đối đải với kẻ lân-cận họ hàng thời Tâm Vô-Ngại. Biết vào cửa ĐẠI-BI thì hết NGHIỆP-BỆNH. Lúc đã không Bệnh thời nào có LÃO-KHỔ. Đó chính là giải-quyết vấn-đề SANH-TỬ BỆNH-LÃO-KHỔ, nó cũng chính nằm nơi TỨ-ĐẠI GIẢ-TẠO HỢP THÀNH vậy.
NAM-MÔ CỨU-KHỔ CỨU-NẠN QUÁN-THẾ-ÂM-BỒ-TÁT
