CÁC-PHÁP

GIÁO PHÁP
BÀI THỨ HAI MƯƠI BẢY
 CÁC-PHÁP khó giảng-giải tận-từ hay nói năng hết đặng. Vì sao lại khó giảng nói tận hết? Vì so như:
 Có một thuở ĐỨC THẾ-TÔN, Ngài thuyết-pháp tại khu rừng Ngài đồng hỏi: TA nói Pháp với các Ông có nhiều chăng? Lúc bấy giờ Chư Đệ-Tử kính thưa: BẠCH THẾ-TÔN thật nhiều.
 Ngài gật đầu và nói. Pháp TA nói, nếu đem suy với tầm hiểu biết của các ông, thì nó thật có nhiều. Nhưng đối với NHƯ-LAI chẳng thấm vào đâu cả. Vì sao vậy? Vì nó chẳng khác mấy CÂY-LÁ trong rừng nầy. Nếu đem kiểm-điểm từng Cây-Lá thì thật khó kể hết, khó đếm đặng, các Pháp của NHƯ-LAI cũng thế.
 Lời TA đang thuyết, hay đã từng thuyết, với các ông chẳng khác nào số lá TA đang nắm nơi tay đây. Chớ không thể nói tận-từ hay hết đặng. Đó chính là lời chân thật. Vậy các ông cần phải TU-CẦU, để mong lãnh các Pháp của NHƯ-LAI mới tận hết. Trước tiên cầu Pháp thì các ông phải: TÍN-HẠNH-NGUYỆN. Bằng không Tín-Hạnh-Nguyện hay thiếu-sót khó thành-tựu. Vì sao? Vì Tín để nghe trọn lãnh Pháp. Vì HẠNH được Ngộ mà nhận Pháp. Còn NGUYỆN thâm-nhập các Pháp mà vào BIỂN-PHÁP, các ông nhớ lấy đặng thọ-lãnh Pháp của NHƯ-LAI.
 PHẬT nói trên, thì đủ chứng tỏ các Pháp nó vô-biên khó mà nói hết. Còn Bậc cầu Pháp để lãnh-hội cũng không dể gì, duy chỉ TÍN-TÂM Thề Nguyện Học, gọi là PHẬT-PHÁP VÔ-BIÊN THỀ-NGUYỆN HỌC, nếu không TÍN khó mà nghe để thâm-nhập các Pháp.
 CHẲNG KHÁC NÀO: Kẻ TÍN vị LƯƠNG-Y, vị ấy hái cây-lá trước mặt làm thành món thuốc cho bệnh-nhân uống. Kẻ bệnh TÍN mà uống không ngăn-ngại nghi-ngờ, bệnh liền khỏi.
 Bằng không Tín thời chẳng uống, làm sao được khỏi bệnh? Bậc cầu nghe Pháp cũng vậy. Mà các Pháp nó vẫn ở ngay trước mặt, không-Tin khó nghe, khó lãnh.
 Nếu Bậc Tu mà nghe cho đặng Pháp là một sự khó. Còn nhận lãnh hay thâm-nhập lại càng khó hơn. Bậc như vậy phải là Bậc TÍN-TÂM bằng chẳng Tín-Tâm thời khó mà nghe đồng khó lãnh.
 Do đó nên Thời HIỀN-KIẾP các Bậc tu chuyên-chính mới rộng phát BA-TÂM NĂM-NGUYỆN đặng có TỰ-LỰC để tu-tập VẠN-HẠNH làm cho say mến Đạo-Tràng và Thân-Tâm thuần-túy, để TÍN-TÂM BẤT-THỐI mà kiên cố nhận nghe lời chỉ giáo của THIỆN-TRI-THỨC lãnh lấy một Pháp, liền Sở-Đắc các Pháp. Đó chính là TẤM-GƯƠNG không ngoài Tín-Hạnh-Nguyện.
 Đến ngày nay vẫn có nhiều Bậc y Tôn-Chỉ ấy lần đến nơi NHỨT-NGUYỆN TÍN-TÂM để tiêu dẹp NHIỆP-ĐẢO tu-tập, chẳng còn nghi-ngờ được trọn lãnh Pháp TRI-KIẾN.
 Các Pháp nó có nhiều trạng thái lạ-lùng, đối với những kẻ mê lầm. Nó lại rõ-rệt đối với Bậc ĐÃ-BIẾT nó, Bởi khác lạ vì mơ-màng chưa chu-đáo, nên dễ bị thường ngăn mà chấp, trở thành căn-bản GIỚI-HẠN. Nếu tu-hành không dùng đến TÍN-TÂM thì làm thế nào Phá nổi các bờ ngăn chấp ấy? Vì vậy Tín-Tâm chính là một lợi khí lần tỏ-thông các Pháp. Còn không Tín-Tâm chẳng nghe được Pháp? Nên gọi là CHẤP-PHÁP. Vì lầm nơi BỜ-NGĂN CỦNG-CỐ nên chẳng thoát Trần-Lao, mà phải trở thành TAM-GIỚI SƠN-HÀ ĐẠI-ĐỊA
 Đứng tầm Quan-Sát các BỜ-NGĂN nơi PHÁP-GIỚI từng lớp Người trong THẾ-GIAN và các Bậc tu-hành. Nếu cầu TÍN đặng thì nó trợ giúp cho Bậc tu-hành hay Thế-Gian tiến bộ lần biết. Bằng Củng-Cố thời bị trong vòng PHÁP-GIỚI mà an trụ.
 Từ THẾ-GIAN-GIỚI: Nếu có NGƯỜI ẤN-TƯỢNG hay QUAN-NIỆM trong SÁT-ĐẠO-DÂM cùng HỶ-NỘ ÁI-Ố và DANH-GIẢ hay THƯỜNG-LẠC và NGÃ-TỊNH đều các thú vui Hạnh-Phúc của mỗi NGƯỜI. Theo nguyện-vọng của họ mà Thọ-Chấp thì làm thế nào?
 BẰNG TỪNG BẬC TU: Nếu nói Pháp. XUẤT-LY THẾ-GIAN hay các Pháp đều HUYỂN-HOÁ. Thì sẵn có nhiều Bậc chấp nhận Xuất-Ly Thế-Gian, các Pháp đều Huyển-Hóa?
 Bằng nói các Pháp nó: KHÔNG DỪNG TRỤ. VÔ LAI-KHỨ hay VIÊN-TỊCH. Thì sẵn có nhiều bậc chấp nhận như thế thì làm sao?
 Nếu nói Pháp không thể chỉ, chẳng thể bàn, Bình-Đẳng Bất-Nhị, không-hai hay sai khác mà LẶNG-THINH cũng không HÌNH chẳng TƯỚNG mà LY hẵn gọi là rốt-ráo thì thế nào?
 Các Pháp rất Tinh-Nhuệ chỉ vì CHƯA-BIẾT vội chấp nhận nó. Nên mới có từng BỜ-NGĂN GIỚI-HẠN sự hiểu biết khác nhau, thành nơi TU-CHỨNG cao thấp.
 Khi chưa tu, hãy còn ở nơi THẾ-GIAN-GIỚI thì mỗi Người họ vẫn có mỗi cách Tự-Hào, là Khôn ngoan chánh-đáng hiền-lành. Lúc đặng tu thì đã có sẵn tánh cho mình là CHƠN-CHÁNH hiểu biết. Đó chính là BỜ-NGĂN GIỚI-HẠN để thường chấp-pháp.
 Bằng nương theo TÍN-HẠNH-NGUYỆN thuần-túy, có một ĐỨC-TIN vững-vàng nơi TAM-THẾ hay Bậc THIỆN-TRÍ-THỨC để lãnh-hội lời chỉ giáo tu-hành, thì các Nghiệp TỰ-NHẬN bờ-ngăn trên tan dẹp đặng LÝ-SỰ KHÔNG-CHƯỚNG để tu, lần đến TỎ-PHÁP ĐẮC-PHÁP viên-dung toàn giác. Chừng ấy mới CHƠN-BIẾT các Pháp nó sẵn có mạch lạc thứ-tự, liền khỏi chỗ NGHI lại tránh được nơi nói năng bừa bãi.
 CHẲNG KHÁC NÀO: Buổi ban đầu, mới vào Trường-Học, thời học chữ A. chữ B. chữ C phải học cho thuộc 24 chữ . Xong tập ráp vần, đến biết đọc và biết viết. Khi đã học giỏi thật biết sắp xếp đúng sai trong 24 chữ. Không còn nghi ngờ có thể làm THƠ hay viết VĂN trôi chảy. Các Pháp nó cũng là BÀI-VĂN chung gồm 24 CHỮ thay qua đổi lại mà thôi. Nó cũng là một BÀI TOÁN chưa giải đặng trong 10 con số. Khi đã làm được THI-THƠ hay viết qua CỐT TRUYỆN, thời khỏi lầm nhận sống trong tưởng-tượng mê-mờ. Lúc đã giải xong một BÀI-TOÁN VŨ-TRỤ, thời Sở-Đắc Chân-Lý hiện tiền.
 ĐẾN CHƠN-BIẾT CÁC PHÁP THÌ NÓ:
 Từng giai-đoạn nào gọi là: HUYỂN. Lúc nào KHÔNG-HUYỂN. Quán thế nào? KHÔNG DỪNG TRỤ. Không Quán thế nào? NÓ DỪNG TRỤ. Sao gọi KHÔNG TRỤ MÀ TRỤ. Thời nào VÔ KHỨ-LAI. Lúc nào CÓ LAI-KHỨ, Lối nào KHÔNG THỂ CHỈ, Việc gì CÓ NƠI CHỈ, Khúc nào nó KHÔNG-HAI, tận chi là KHÔNG-PHÁP, Lúc nào là lúc LẶNG THINH, Khi nào là khi PHẢI NÓI, Thời nào là thời VIÊN-TỊCH. Các Pháp nó không bỏ, cũng chẳng lấy TOÀN-GIÁC mà ĐẮC.
 Các pháp tu-học không ngoài ra CHỮ-TÍN để lãnh pháp. HẠNH-NGUYỆN ĐỘ-SINH đi trong VẠN-PHÁP không ngoài TRÒN-DUYÊN TRÒN-NGUYỆN. Nếu không thi hành Tròn-Duyên và Tròn-Nguyện để Tỏ-Pháp thời thua kẻ Phàm-Nhơn họ biết làm TRÒN BỔN-PHẬN?
 Sự TÍN-HẠNH-NGUYỆN Tròn-Duyên và TRÒN-NGUYỆN, chính là con đường của CHƯ-TỔ cùng BỒ-TÁT, PHẬT dùng để độ-sinh lại tỏ-rõ tuần-tự và các đường tu ngăn chấp của các Bậc TU-CHỨNG.
 Khi đã biết tác dụng các Pháp, vì TRI-ĐẠO mà THUYẾT-ĐẠO. Nếu gặp phải từng bậc tu chướng: mình không chướng, lại có thể dùng đủ phương-tiện giúp họ được TRI-KIẾN, miễn là Bậc đó KHỞI-TÍN. Nếu chẳng KHỞI-TÍN gọi là: VÔ-DUYÊN thì không nói năng bàn cãi. Vì sao? VÌ PHẬT BẤT HÓA-ĐỘ VÔ-DUYÊN, nên bậc TRI-ĐẠO chẳng Thuyết-Đạo.
 Những lời ƯU-TÚ TRÒN-DUYÊN không ngoài TÍN-HẠNH-NGUYỆN đặng tu đến TRỌN-BIẾT từng lớp của các Pháp. Khi ĐẮC các Pháp thời không còn NGHI-SỢ pháp, dùng đúng lúc, nói đúng chiều, KHÔNG-BỎ CHẲNG-LẤY. Nhưng hoàn toàn sử dụng.
 CHẲNG KHÁC NÀO: Rừng kia có nhiều CÂY-LÁ, cây-lá ấy đều là vị-thuốc. BIỂN-PHÁP cũng thế. Mỗi cây và lá đều sẵn có một TÁNH-DƯỢC, nên có thể hái hết đem về làm thuốc. Các Pháp cũng thế, mỗi Pháp có một ĐẶC-TÁNH cứu mê lầm đặng TRI-KIẾN.
 NÊN VĂN-THÙ NGÀI NÓI: Các hương-vị ngọt bùi, nơi rừng cây biển pháp, của NHƯ-LAI mà tất cả CHÚNG-SANH chẳng chịu dùng. Lại đi tìm xa xuôi ảo-vọng cao-siêu huyền-bí thật là lạ.
 Các Pháp hiện-hữu đoạt đến khỏi lầm gọi là: CHÂN-LÝ chớ chẳng chi là Chân-Lý. Đối với Bậc ĐÃ-BIẾT tỏ-rõ Biển-Pháp gọi là Đại-LƯƠNG-Y. Biết chữa các ngăn-chấp gọi là ĐIỀU-NGỰ. HẠNH-NGUYỆN TRỌN gọi là THIÊN-NHƠN-SƯ, làm cho tất-cả tăng-trưởng trí-tuệ phá mê-lầm, đó chính là điểm các Bậc Tu-chứng TÔN-SÙNG. Bằng Bậc chưa tỏ-biết hay lưng chừng biết, nếu chẳng cẩn thận dùng phải mà thọ-chấp, thời nó chính là ĐỘC-DƯỢC.
 Đối với ĐỨC THẾ-TÔN. Ngài thật-biết chỗ nguy hại của các hàng tu-chứng, khi chưa hết các NGHIỆP ĐẢO-ĐIÊN vội chấp Pháp, hay sợ không-chấp, để mà chấp của hàng: PHI PHI TƯỞNG hoặc ở hàng TAM-THỪA, TẬN-DIỆT để đến NHỊ-THỪA thọ-chấp TU-CHỨNG.
 NÊN NGÀI NÓI: Thà chưa tử, khi có lỗi lầm ở nơi ĐỊA-NGỤC còn có ngày gặp PHẬT. Bằng tu mà ĐOẠN-DỊ-DIỆT để lầm chấp sa nơi PHI-PHI-TƯỞNG thật nguy hại vô kể.
 Theo lời dặn ấy. Đến thời sau có nhiều Bậc tu y PHÁP-MÔN TIỆM-GIÁO CẤP-THỦ. Có nghĩa là: Tự sửa Tánh để tìm hiểu các Pháp trên căn-bản lìa THAM-SÂN-SI đặng tỏ biết đến mức nào thì tu theo với trình-độ nấy. Mục tiêu tạo ĐỨC-HẠNH mà thôi. Tuy nhiên có một đôi phần chậm tiến, nhưng được đa số vào hàng HIỀN-NHÂN hoặc THÁNH-TĂNG.
 Giữa thời ấy vẫn còn trong Tôn-Chỉ nương theo CẤP-THỦ để mà TIẾN, dùng sự THỦ-TIẾN làm mực thước, lấy TRÍ-TUỆ xét soi cẩn-thận, nên đường tu-hành ít bừa bãi. Lại tự nêu ĐẠO-TRÀNG là mục-đích GƯƠNG-MẪU lấy nền GIÁO-HÓA hòa-hợp để độ-sanh lập DI-TRUYỀN CỔ-ĐIỂN làm ĐẠO-HẠNH, nhờ vậy mà THÂN-TÂM thuần-túy tham-muốn ít vọng-khởi hưởng được nơi tu-tập Bất-thối, thọ-lãnh các Pháp rõ-ràng TỎ-TÁNH ĐẮC-PHÁP vững chãi. Nên ngày nay vẫn còn TÔN-CHỈ chép ghi.
 SAU NỮA: PHÁP-MÔN TIỆM-GIÁO CẤP-TIẾN và CẤP-THỦ không thiếu. Nhưng lạc hướng trở thành KHÔNG-THỦ ĐỂ MÀ THỦ. Có nghĩa là: CŨNG-CỐ Y KINH ĐỂ TU. Nhưng: Trong đoạn kinh nào của bậc tu thích-hợp thời theo đó mà tu, gọi là: TU THEO CÁI-MUỐN. HAI NỮA: Nếu nhìn bên ngoài thì TÔN-CHỈNH ĐẠO-TRÀNG Y CỔ-CỰU. Hạnh-Kiểm tốt. Nhưng thâm-tâm vọng-khởi mong mõi mau thành. Vì sao? Vì muốn THẦN-THÔNG TÀI-PHÉP, vì chỉ lấy đó làm mục tiêu mức tiến. Chớ chẳng kiểm-điểm tan dẹp NGHIỆP-CĂN cầu TỎ-TÁNH đặng rốt-ráo các Pháp.
 Lắm Bậc chăm chỉ Khảo-Cứu KINH để tu, hay cốt PHÁ-CHẤP gọi là KHÔNG-CHẤP, dùng chuyên Luận-Giải thì được phần TRÍ-TUỆ khá. Nhưng thiếu về mọi mặt GIỚI-HẠNH ĐẠO-TRÀNG để dung hoà các pháp xuôi-dòng đến Toàn-Giác. Do lẻ thiếu khuyết mà dễ sa vào BA ĐƯỜNG-ÁC thành thử có hiểu-biết nhưng vẫn mơ-màng nơi CHÂN-LÝ.
 Một trong hai điểm sai lạc lầm tưởng chẳng rõ biết nơi: KHÔNG-CHẤP, để mà CHẤP-LẤY PHI-ĐẠO. Chớ chưa hẳn: TRỌN-BIẾT PHI-ĐẠO LÀ SUỐT-ĐẠO. Vì sao ? Vì CẤP-TIẾN Phá-Chấp thì duy chỉ BIẾT có mỗi một phần Mình, nên thường vào các Pháp BẤT-TỊNH nói năng Bất-Tín, liền bị chướng-đối ngỡ-ngàn mà chẳng Trọn-Biết Suốt-Đạo, phải đi Ba Đường-Ác. Bằng Cố-Thủ để tu chăng, thì chỉ biết một Pháp-Môn mà thôi.
 Nếu y Tôn-Chỉ TÍN-HẠNH-NGUYỆN để lần tiến lãnh-hội các Pháp rành rẽ. ĐẠO-HẠNH thâm nhập chung tròn TỎ-BIẾT Toàn-Mỹ Pháp-Giới đoạt đến CHÁNH-GIÁC.
 Chừng ấy mới BIẾT đặng nơi RỪNG-CÂY BIỂN-PHÁP chính là NHƯ-LAI PHÁP-TẠNG chân-thiện PHÁP-THÂN. Thì thử hỏi: Nó có DƯ-THIẾU TĂNG-GIẢM được không? Lúc tu chẳng tu cho trọn thì sự lãnh pháp cũng thế, nào vẹn đâu? Do lẻ ấy nên ĐỨC THẾ-TÔN Ngài mới chỉ bày TÍN-TÂM HẠNH-NGUYỆN đặng nương theo các Pháp THỀ-NGUYỆN-HỌC .
 Đối với ĐẠO-TRÀNG GIÁO-PHÁP, thời trước của THẾ-TÔN và hiện nay không khác mấy. Vì sao? Vì ở nơi Mực Thước TÍN-TÂM. Cầu lãnh các pháp.
 ĐỨC THÍCH-CA đương thời, Ngài chỉ giáo 1.200 vị đệ tử, tuy rằng có một ĐỨC THẾ-TÔN CHƠN-SƯ. Nhưng các hàng đệ-tử nào có mấy vị được TÍN đầy-đủ. Bậc thì tin Ngài TÀI-PHÉP, Bậc thì tin 32 tướng-tốt. Bậc TIN Giáo-Pháp hay, trong muôn ngàn vạn ức lối Tin sai-biệt. Trở thành: Muôn ngàn vạn ức CHƠN-SƯ.
 Do đó mỗi lần Ngài thuyết-Pháp, có then chốt Quyết-Định thì Ngài nói: CÁC ÔNG HÃY TIN TA. LỜI TA NÓI RẤT CHÂN THẬT. Đến nay cũng thế. Nếu Bậc nào TÍN-TÂM sẽ đặng TỎ-PHÁP, chớ nên vọng-đảo. Thời xưa và hiện nay mà uổng phí đường tu, trong cơ-hội có Chí-Nguyện TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT, khi mà gặp đặng Bậc THIỆN-TRI-THỨC trọn dùng các Pháp mà diễm nói được TRÍ TUỆ-TĂNG-TRƯỞNG không mắc vào một Pháp. Đó chính là: PHÁP-MÔN TỐI-THƯỢNG không bỏ chẳng lấy vậy.
 Đoạn trên nói về TÍN-HẠNH-NGUYỆN cầu lãnh pháp. Đoạn dưới đây nói về GIÁO-PHÁP: Không ngoài làm cho kẻ nghe pháp KHỞI-TÍN.
 Bước đường GIÁO-PHÁP chỉ dạy, nói năng Thuyết-Giải làm cho kẻ nghe Pháp hào-hứng TIN-VÂNG mà tránh nổi sai lạc thật là KHÓ. Do khó nên mới vừa tu lại vừa HẠNH-NGUYỆN ĐỘ-SINH để cho Chúng-Sinh BỜ-NGĂN PHÁP-CHẤP của mình và của kẻ khác được giải-tỏa. Từ lúc Bậc GIÁO-PHÁP đã TRI-ĐẠO đến TỎ-RÕcác Pháp khỏi lầm-lẫn theo nó thì phải HẠNH-NGUYỆN tỷ-mỷ đặng thâm-nhập PHÁP-GIỚI mới thông-đạt thứ lớp tuần-tự mà THUYẾT- ĐẠO.
 Trong GIÁO-PHÁP chia ra nhiều Bậc. Bậc vừa tu gọi là Bậc HẠNH-NGUYỆN ĐỘ-MÌNH và GIÚP-NGƯỜI, bậc ấy chưa có một quyết-định nương vào VÔ-NGÃ để Giáo-Pháp, cho mình hiểu và kẻ được nghe hiểu. Đó chính là GIÁO-PHÁP để Tự-Lợi Lợi-Tha vậy. Bậc nầy khi Giáo-Pháp chưa thể nhận định rành rẽ chỗ Đúng-Sai. Nhưng nhắm đích là mong kẻ nghe được tu-hành như mình. Nên HẠNH-NGUYỆN rất thù-thắng hơn cả.
 Nhờ thế mà ưa Thuyết-Pháp, thích giúp-đỡ cho kẻ tu, chỉ vì Say-Đạo, mến- đạo để Biết-Đạo gọi là : NƯƠNG VÀO HẠNH-NGUYỆN CÔNG-ĐỨC, CẦU PHÁP NHƯ-LAI Tỏ-Tánh. Do đó nên đối với Bậc nầy. Trên thì đặng CHỮ-TÍN dưới thì đặng HẠNH-NGUYỆN ĐỘ-SINH. Thành thử khi Giáo-Pháp chính Bậc nói ra các Pháp cốt cho kẻ nghe, nhưng mình lại được nghe trước thật nó có lợi vô kể đối với Bậc Tín-Hạnh-Nguyện trọn.
 Nhưng cũng có cái hại, vì trường-hợp lầm tưởng mình Sở-Đắc. Vì sao? Vì đôi lúc Bộc-Thuyết thật hay chưa bao giờ có y như lời PHẬT rồi ngỡ mình là PHẬT mà tự-sanh Bản-Ngã Tăng-Thượng thật nguy hại, điểm ấy nên chú ý.
 Nếu Bậc tu-hành mà tạo đặng ĐỨC-HẠNH cho vững, thì qua những giai-đoạn trên, lại được sự học-hỏi tiến bộ mà lần đến nơi TRI-ĐẠO TRỌN-BIẾT mà THUYẾT-ĐẠO.
 BẬC TRI ĐẠO GIÁO PHÁP:
 Có nghĩa là: Biết các Pháp, hay Pháp-Môn tu-tập chốn ĐẠO-TRÀNG thảy đều là phương-tiện cứu-cánh đến GIẢI-THOÁT, do đó đối với sự tu-hành không mắc-miếu. Nên chẳng sợ-sệt nơi ĐÚNG-SAI. Nhưng phải HẠNH-NGUYỆN. Tròn-Nguyện mà hoàn-toàn Giải-Thoát, thâm-nhập rành-mạch THUYẾT-ĐẠO.
 CŨNG NHƯ: Bậc biết rằng: Sắm THUYỀN để qua BỜ-GIÁC, khi đặng đến bờ-giác thì bỏ thuyền lại. Đến Thật-Biết như thế cũng là khó chớ chẳng dễ gì.
 Tuy lắm Bậc biết thế, nhưng nào ai có rành-rẻ mối giềng chỗ Sở-Đắc các Pháp mà TRI-ĐẠO? Thành thử nơi TRI-ĐẠO GIÁO-PHÁP có nhiều Bậc, ở chổ mới Tri-Đạo, hay đã Tri-Đạo hoặc Trọn TRI-ĐẠO GIÁO-PHÁP.
 BẬC TRI-ĐẠO GIÁO-PHÁP có tự-lượng theo kẻ nghe Pháp mà thuyết. Bậc ấy có một căn-bản diễn nói chỉ giáo cho kẻ nghe Pháp được cỗi-giải các Nghiệp bằng phương-tiện TÌM CHƠN-TÁNH để tu. Sau mới lần lượt đưa các Pháp đặng hiểu biết để phá mê-lầm ngăn-chấp, từ Tín-Hạnh-Nguyện đến Lục-Ba-La và Tứ-Nhiếp-Pháp thảy đều chỉ bày tu-tập đúng lúc chẳng thiếu sót, vì biết mối nguy hại là: CHỈ THẲNG SAU BỊ QUANH. THÀ TU QUANH SAU ĐẶNG ĐẾN THẲNG. Nên mới Giáo-Pháp căn-bản chẳng sợ lớn-nhỏ đúng-sai của chấp-pháp, vì chu-đáo tỏ-biết các Pháp mà TRI-ĐẠO GIÁO-PHÁP. Đó chính là Bậc Giáo-Pháp khá.
 CÒN BẬC: TRI-ĐẠO GIÁO-PHÁP vẫn biết các Pháp và các môn tu-tập đều là phương-tiện cứu-cánh đến Giải-Thoát. Nhưng lại có một Quyết-Định GIÁO-PHÁP TỎ-TÁNH quá sớm. Nên Bậc ấy thuyết-giải chuyên ròng PHÁ-CHẤP. Làm cho kẻ nghe lãnh-hội thiếu căn-bản ĐẠO-TRÀNG ĐỨC-HẠNH. Khi tu-tập Phá-Chấp đến Tri-Đạo thường lâm vào NGHỊCH-HÀNH-PHÁP khó chỉnh cho vẹn để thọ lãnh Chân-Lý mà tỏ-biết rốt-ráo, phải hồ-nghi bất-tín. Đó gọi là chỉ thẳng mà bị quanh. Còn Bậc trên chỉ quanh nhưng sau đến thẳng.
 BẬC TRI ĐẠO THUYẾT ĐẠO:
 Bậc nầy không vội nói chỗ Đúng-Sai hay Mau-Chậm. Chỉ làm cho kẻ nghe được chỗ: KHỞI-TÍN. Nếu kẻ nghe chưa đến lúc Khởi-Tín thời vẫn vui-vẻ để yên. Do lẽ ấy nên Bậc Tri-Đạo khéo Thuyết mới nương chìu đủ cách đối với tất-cả mọi người. Khi HÀNH lúc DỤNG cốt làm cho họ được thân cận kính mến. Gọi là: DIỆU-DỤNG. Bậc như thế đủ phương giúp: Trong TÌNH-THẦY, lúc TÌNH-BẠN, hoặc giả tình BÀ-CON XÓM-LÀNG. Nếu đa số được KHỞI-TÍN. Bậc Thuyết-Đạo mới GIÁO-PHÁP chỉ dạy. Nói đến sự Giáo-Pháp của Bậc ấy khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì tùy-thuận mỗi kẻ mà nói. tùy theo sự điều động dắt-dẫn. Làm cho tất-cả kẻ nghe Pháp đặng hào-hứng tranh nhau để tu, ngó nhau cùng tiến-bộ, nhìn nhau mà phát Đại-Nguyện. Lại có một THỂ-CÁCH chung hưởng Tình Duy-Nhứt Đạo-Tràng, để Tỏ-Biết Pháp-Môn KHÔNG-HAI mà Tu-Chứng.
 CÁC PHÁP DUY CHỈ CÓ:
 ĐỨC VĂN-THÙ SƯ-LỢI PHÁP-VƯƠNG-TỬ mới nói tận .
 ĐỨC ĐẠI-LỰC DI-LẶC TÔN-PHẬT mới chịu tận.
 Còn kỳ dư khó mà nói tận-từ hay giảng-giải hết đặng.
 DUY Chỉ: TÍN-HẠNH-NGUYỆN mà lãnh các Pháp.
 DUY Chỉ: Làm cho tất-cả được: KHỞI-TÍN, mà Thuyết-Pháp.
NAM-MÔ PHÁP-TẠNG HỘI-THƯỢNG-PHẬT BỒ-TÁT MA-HA-TÁT
error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam