DƯỚI MẮT THIỀN SƯ DO LẦM NÊN HỮU HÓA

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 30
 THIỀN-SƯ vừa Tĩnh-Tọa xong. Quang-cảnh bên ngoài an nhiên tịch-tịnh, hư-không vô-tận lặng-lờ gió-mây hòa-đồng nơi không-khí, pha lẫn vạn chất cây lá rừng reo, trở thành mùi hương-vị thuốc trường-sanh.
 Thiền-sư đưa đôi mắt chung đồng, nở nụ cười thoải-mái chào đón vũ-trụ tam-thiên, Ngài gật đầu in-tuồng vừa giải xong cơn đại-định tổng-trì. Thiền-Sư khẻ nói: DO LẦM NÊN HỮU-HÓA. Ta muốn kêu lên lời nhắc-nhở với Cố-Tri. Còn nghi phải tu cho sạch-sẽ chỗ nghi. Còn Chấp hãy bước lần cho sạch chấp. Chớ nên vì chấp mà đứng yên. Chớ vì chỗ nghi mà an-trụ, cho đó là rỗng-Không vô-ích. Đến giai-đoạn tỏ-rõ mới nhìn nhận Vạn-Pháp diễn-Hóa, vốn thể như-nhiên thành-thử vạn-pháp không sai hai-tướng, mà Ta cùng Chúng-Sanh đang lầm, bị lạc, gánh chịu hai chữ Tín-Mê đang đi theo Hữu-Hóa ngộ nhận, mới có lý-sự trắc-ẩn dị-phân mãi lầm sanh-tử.
 Bậc Đại-Giác Chí-Tôn Ngài đã tận-tường. Cái Mê không-Gốc mà trái lại CÓ-NGUỒN, vì Chúng-Sanh HỮU-NGÃ mà gây ra, nên ấn-Chỉ Chúng-Sanh lìa Ngã, nương Vô-Ngã tầm Đại-Chơn, nương theo trăm-sông lần về Biển-Cả. Thiền-Sư, Ngài nói đến đây ra chìu suy-ngẫm liền tự thán: Khó khăn thay trên con đường vào Chánh-Giác. Ta đã từng trãi qua bao nỗi khúc-co vô cùng vô-tận, nay đạt đến biển-Cả khó phân như thế nào cho tất-cả đang vật-vờ nơi cơn-mơ chưa hồi tỉnh. Sức nơi ta là sức Đại-Dương, Còn Công-Năng chúng-sanh khác nào bọt trôi theo cơn sóng-gió.
 Ngài tự-thán xong Thiền-Sư đưa chánh-niệm giao-cảm chư-Phật mười-phương rung-chuyển Tam-Thế chư-Phật đồng thọ-ký lời huyết-tâm thiền-sư cảm ứng. Đâu đó xong xuôi thiền-sư giải nói: Nầy các Bậc Cố-Tri Vĩ-Nhân Đại-Chí, tu-cầu con đường song-tu hiện-giác, những vị nầy, chưa bao giờ được gặp nay gặp với ta, bất-cứ một nơi nào đáng kể, miễn nhận chân minh-thuyết thực-hành đó chính là Cố-tri nay gặp-gỡ. Bằng gặp gỡ đương thời, sống chung một mái , bê trễ ương-hèn dù cho đọc tụng chăng vẫn chưa nhìn đặng ta một ít nào cả. Thật phí thay, thật uổng thay trong một đời chưa gây tạo.
 Thiền-Sư tiếp nói: Con đường giải-thoát phải tận-gốc mới thấu nguồn-Mê, Từ Thế-Gian đến xuất thế-gian thảy đều là nguồn giải-thoát, miễn nhận chân đặng liền lãnh lấy giải-thoát môn. Bằng vu-vơ chưa nhận khó vào biển-Cả của Đại-Dương mà giải-thoát.

THẾ NÀO LÀ BIỂN-CẢ ĐẠI-DƯƠNG.
CHÚNG TA PHẢI THÂU-NHẬN LẦM-LẪN?
 Từ một khởi-điểm sơ-khai. Nhiếp-thâu hoàn tất chẳng thiếu-sót mảy-may tận-Giác. Sự nhiếp-thâu nầy Lìa-Ngã cùng Ngã-Sở, chớ nặng-nhẹ Thánh-Phàm chớ vội vàng chấp nhận.
 Kể đến Vũ-Trụ Tam-Thiên thời quá rộng Vô-biên Kể từ hàng Tứ-Thánh, mong làm thánh thật khó đến nơi, Kể đến Chư-Phật cầu mong làm Phật, Các Bậc tu-hành hãy nương theo vết-chân hướng thượng, tạm dùng lời bảo-pháp, tận-thấu đặng Bảo-Tàng, phụng thờ lời chánh-giác.
 Thiền-Sư khải-niệm xong, Ngài hớp một hơi trà lúc bấy giờ Ngài hướng-dẫn. Nầy các ông, các bậc Cố-Tri nay ta kể, Các vị cùng ta hãy nhìn nơi, Hư-Không Vô-Tận. Nhìn đến Sơn-Hà Sông-Núi đang chung sống cùng ta. Bản-Thân ta tìm phương giác ngộ, Tự-Tánh nơi ta hóa-giải chấp-mê, diệt trừ bản-ngã trên lý-sự tu-hành. Ta cùng các ông dẫm nát, nó mãi kéo dài, có từng vạn triệu kiếp Người, kiếp thiên-tiên hay thọ-sanh vào nơi các loài Cầm-Thú, thăng-trầm làm Quỉ làm Ma không dứt. Do đó nên chi mới có Phật-Thánh thường còn, Chúng-Sanh thường diễn, đến bao giờ chấm dứt giữa Phật với Chúng-Sanh, tìm Ngộ bị Mê ở nơi mê thấy Ngộ, Lạ thay. Đứng Thánh tự-tăng, ở vào Phàm sa-đọa. Khó khăn thay. Tu-Tịnh vướng Động-Tâm. Sửa sai lầm, sanh chứng-tật.
 Lạ-lùng, khó khăn thay, lầm sai nên hữu-hóa. Thâm-Tâm đọng-vọng lệch Sơn-Hà. Ngày nay Ta đã rõ làm thế nào phân-tánh, vạch hướng cho tất-cả bị lầm sai? Thiền-Sư suy-ngẫm đến đây Ngài nói:
 Sơn-Hà Đại-Địa Quả-Đất Cỏ-Cây toàn-diện như-nhiên diễn-hóa, sự diễn-hóa nầy thuộc về Thể-Tánh nhiên-nhiên tự-hóa, do đó hòa hộp với tất-cả chúng-sanh Tứ-Loài không sai chạy. Nó chẳng khác nào: Con Trăng-Tròn chiếu-sáng. Trăm kẻ nghìn người ai cũng công nhận con-trăng gần mình hơn ai cả. Khi vui nhìn cảnh cũng vui, lúc buồn cám-cảnh sụt-sùi tái-tê. Có người Tự hỏi? Do ta hay do cảnh? Lắm bậc đã từng hiểu do tại nơi ta. Nhưng chính ta chẳng biết làm thế nào cho hơn Cảnh-Tình ấy. Bậc khéo lượng, bậc nầy sẵn có đầy-đủ Trí-Thức cùng kiến-Thức, gọi là Tâm-Đạo biết thương mình và thương mọi người, không lạm-dụng không lừa-dối mọi người hay áp-dụng Tình sanh Cảnh, có thể nói đứng vào hàng Quân-Tử.
 Thiền-Sư còn nhớ. Có một độ xa-xăm ngài trực nghĩ, Ta phải thâu nhận Lầm-Lẫn chính mình mà đào sâu vạn-pháp. Ta phải tận khắp chu du cốt tận thấu Duyên-Căn lầm-mê cùng giác-ngộ. Khi lầm sanh nơi Vũ-Trụ với con-người tỏ-rõ con-người cùng Vũ-Trụ mới là giải-thoát-môn. Bằng tận-thấu duyên-căn Đại-Ngộ, nên chi ngài nói:
 Quả-Đất hình-thành nó vẫn từ mỗi một điểm nhỏ kết-nạp hóa ra đầy-đủ không thiếu-sót mới thành hình Quả-đất. Bậc mê-lầm phải tường-tận duyên-căn chung-khắp khi mới sơ-khai, đến giai-đoạn kết-nạp, lúc đã kết-nạp đầy-đủ tiềm-năng, đầy-đủ chất-Phẩm và trọng-lượng, trái-đất kia liền như-nhiên hộp-hóa sanh ra Núi-Sông, Cây-Cảnh. Diện Núi-Sông biện-Minh ra địa-giới địa-hạt củng-cố từng nơi, do Tâm-Thức con-nguời nơi thấp chỗ-cao tầm-sâu hay nông cạn, từ nhỏ đến lớn, như-nhiên diễn-hóa, có đầy-đủ ý-nhị khó giải hết nơi tập nầy trên văn-tự, trừ ra bậc có đầu-óc rộng-rãi cân-đối mới tạm hiểu lời ta nói mà thôi.

 Khi bấy giờ. Thời Quá-Khứ không thể nói thời ấy trãi hàng bao nhiêu thế-Kỷ. Đức A-Đề-Phật là Vị-Phật đầu tiên ra đời, cùng với Quả-Đất hình thành tất-cả cây-Cỏ núi-sông, tứ-loài sanh-trưởng đầy-đủ không thiếu-sót. Thời bấy giờ, con người chỉ biết thân mạng mình là giống con người, ngoài ra chưa hề có kỳ-vọng chi cả. A-Đề Phật ở tại Khu-Rừng, Ngài Kiểm-chứng Cây-Cỏ Núi-Sông Sơn-Hà Đại-Địa mà giác-ngộ.
 Ngài nói: Tuyệt-Tác thay, Thiên-nhiên Sơn-hà, cây-Cỏ, trời-mây với Ta là: MỘT, hộp-hóa đồng-thanh tương-ứng hiện-Giác. Thế mà Con-Người ngỡ Con-Người với sơn-hà, Cây-Cỏ núi-sông là Hai, thật sai-lầm vô-hạn.
 Đức A-Đề lúc bấy giờ Ngài sẵn có thể-Tánh đồng-Đẳng với Sơn-Hà Vũ-Trụ nên chi thường nhập Chánh-Định kiểm-chứng bao-quãng cùng khắp, Ngài nói: Mắt nhìn thấy hư-không, Ta đặt thân mình vào tận hư-không, ta không còn thấy hư-không mà tận-thấu hư-không là giác-tướng. Ta ra vào vạn-pháp, ta không nhiễm trước ta chưa thấy vạn-pháp diễn-hóa ra sao, mà ta nhận thấu vạn-pháp như-nhiên diễn-hóa, đó là ta Chứng-Thị như-nhiên thể-tánh vạn-pháp.
 Vạn Pháp nó rất gần ta, mà nó thật rất xa ta có hàng vạn-triệu bá-thiên dặm khi ta chưa nhận chân lấy nó, lúc ta đang còn vướng vấp đảo-điên do lầm nên hữu-hóa, chỗ hữu-hóa nầy có thể nói là Bị-Hóa che mờ thể-tánh như-nhiên, nên chi trực-giác hơn bị-giác là như thế.
 Ngài lấy tài-liệu Minh-Thuyết chủ-đề, ấn-Chỉ quyết-ấn bằng thể-cách lấy tất-cả các chất Cây nơi rừng để hóa-giải với nhân-Sinh tứ-loài làm căn-bản trực-giác nên chi ngài nói: Các ông nên biết, giống cây lớn dòng cây nhỏ cho đến ngọn cỏ toàn cây nơi rừng nầy, thảy đều có tánh-chất hữu-dụng từng cây, mỗi cây, mỗi giống cây đều là linh-dược cứu sống mạng người. Các loài cây ấy, các giống và những dòng cây nó phải chung sống với nhau, dung dưỡng nhau nhưng không hề mất phẩm-giá nơi nó, vì sao? Vì nó là như-nhiên diễn-hóa. Khi các ông thật biết sử-dụng, thật rõ như-nhiên nơi nó, thời Thân-Tâm nơi các ông rất bình-dị, lý-sự tôi-đòi không còn nơi chốn cạnh-tranh soi-bói nhau, sống an-lành nhau vui-đẹp nhau, được gọi là Thanh-Bình hay Tịnh-Độ.
 Bằng các ông tỏ-rõ ngọn-ngành các Ông đang trực-thuộc ý-tứ riêng-tư của các Ông, lòng tham-muốn nơi các ông, chỗ tư-riêng của các Ông. Các ông chẳng lệ-thuộc, nhưng phải lệ-thuộc mong-ước, lệ-thuộc vàng-bạc, lệ-thuộc cao-thấp, cho nơi lệ-thuộc các ông là chân-Lý thực-tế cao-cống hơn ai cả, đó là những điều chưa tỏ-rõ ngọn-ngành chi cả. Vì sao? Vì nó vẫn cao-cống, nó vốn tỏ-rõ ngọn-ngành chân-lý thực-tế nơi nó, lệ-thuộc tất-cả từng giai-đoạn, chỗ tư-riêng vẫn nơi nó lòng tham-muốn do nơi nó, riêng-tư ý-tứ của nó, cao-thấp, thấp-cao diễn-hóa như-nhiên nơi nó. Ta không nhiễm-trước sáng-soi trơn liền, đó mới thật rõ-thấu tận-thấu nó. Ngài vừa diễn-giải xong tất-cả thảy đều Thị-Chứng Trực-Ngộ an bài lành-mạnh đồng đảnh-lễ chiêm-ngưỡng tán-thán. Tuyệt-tác thay, Vạn-Pháp diễn-Hóa, nương nơi vạn-pháp tỏ-ngộ như-nhiên, không lầm nơi hữu-hóa, đồng-đẳng nhịp-nhàng vũ-trụ tứ-loài chung cùng Một Thể-Tánh diễn-hóa. Thời Đức A-Đề-Cổ-Phật là một thời Vũ-Trụ với con-người rất nhẹ-cảm, chỉ mỗi một kẻ-động ấn-chỉ liền trực-ngộ, thành thử công-dụng ấn-quyết hơn là dùng phương-tiện, trải qua thời Trung-Kiếp chẳng biết bao thế-kỷ đã qua. Từ thời Thượng-Kiếp A-Đề-Phật với thời Trung-Kiếp A-Di-Đà một bước dài vô-tận thế-Kỷ. Khi Đức A-Di-Đà hiện-Thể đầy đủ 32-tướng tốt Quang-Minh vì Kim-Thân Hữu-Tướng Đại-Diện Sơn-Hà tất-cả Tứ-Loài Nhân-Sanh cao đẹp. Phật ra đời tùy theo Chúng-Sanh cao-thế hay thấp-thế mà Thị-Hiện. Lại tùy theo trình-độ nghi-chấp mà giải mê, tùy căn-cơ mỗi người mà ấn-Chứng.
 Đức A-Di-Đà ngài Minh-Thuyết thực-tiễn cứu-Cánh Vãng-Sanh, do đó nên chi Chư-Phật đồng-thanh tán-thán: TỰ-TÁNH DI-ĐÀ. Muôn Phương Tịnh-Độ, Ngài nói: Các ông nên biết. Tướng hảo-Quang-Minh thân kim sắc nơi ta do đâu mà Thị-Hiện? Do nơi Quang-Minh cao-đẹp toàn-thân chung khắp. Mắt nơi ta nhìn đến các ông Bình-Đẳng quân-minh không có nơi chốn xấu-xa, chưa bao giờ có bợn-nhơ nơi đôi mắt, thành-thử cao-đẹp vô-cùng suốt-suốt hơn tất cả ngọc-bảo-châu. Tự-Tánh nơi ta Viên-Minh sẵn-sáng không pha lẫn, chẳng ô-Nhiễm Sắc-Trần nên Viên-Minh tận-tận, mà tỏ-rõ thể-tánh bổn-lai từng lớp-lớp, những lớp ấy và những thứ ấy thảy đều là Hạnh-Nguyện nơi các ông trở về Chánh-Giác, đồng-đẳng mười phương chẳng có chi xa lạ cả.
 Từ thời Trung-Kiếp đến thời Hiền-Kiếp vẫn trải qua có hàng bao nhiêu thế-Kỷ. Khi bấy giờ Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni-Phật ra đời ngài Minh-Thuyết đầy-đủ Tam-Tạng kinh-điển nơi Tam-Tạng Kinh-Điển thảy đều Phật-Thừa tối-Thượng, ấn-quyết lời Kim-Thân mà ra. Tất-cả chưa nhận-chân đặng trở thành Tam-Thừa Tu-Chứng. Ngài chỉ vì nơi mê-chấp hóa-giải lần-lượt khai-hoang, từ rạch-ngòi trăm-sông đưa về biển-Cả. Từ ở nơi lầm-lạc Thọ-Trì đến nơi Chứng-Tri Phật-Đạo. Từ nơi phân-Chia, phân-cách cho đến hộp-nhất dung-thông. Từ chỗ Đoạn Dị sai-lầm Diệt-Sanh Thọ-Ngã. Ngài dụng con đường Bát-Nhã, tỏa khắp muôn-phương, Trí-Hóa không-lường để soi vạn-pháp.
 Tuyệt-tác thay. Đức Vô-Thượng Chí-Tôn, ngài mở đủ lối, ngài dọn đủ đường, khai đủ ngõ, không có nơi nào mà ngài chưa giải. Ngài thực-hiện Mười Danh-Hiệu để xướng-danh chư-Phật đã từng thực-hành Mười môn-pháp nơi Công-Đức Vô-Lượng thành-đạt Quả-Vị Chứng-Tri, bằng thiếu Công-Xuất, công-Năng sa-sút, chưa thu-ngọn chưa sung-mãn trong Mười-danh-hiệu chưa phải là Phật, nơi Diệu-Pháp Liên-Hoa kinh đã ấn-chỉ.
 Đối với Đức Bổn-Sư, ngài Biệt-tài siêu-Đẳng chưa có Vị-Phật nào trải khắp chu-du, Kinh-Điển diễn đặng như thế. Tất-cả những Vị nào, từ đời nầy đến đời sau nương theo kinh-pháp ngài đặng giác-ngộ, bằng hình-thức. Không y-Kinh mà Chẳng Ly-kinh thảy đều tu-đạt Chứng-Thị.
 Thiền-Sư vừa giải đến đây, Ngài đứng lên đi qua, đi lại bảy lần tri-ân bổn-sư chí-tôn vô-thượng ngài nói: Giờ đây con mới thấu. KHÔNG SAI. KHÔNG ĐÚNG. Đều ĐÚNG MƯỜI-PHƯƠNG. TẬN-TẬN TƯỜNG-TƯỜNG, Chẳng vương, không vấp.
 Hay thay, vi-diệu thay, Con đường Bồ-Tát Hạnh-Nguyện, cao-quí thay Đại-Nguyện phát-Tâm rộng-rãi cao-đẹp Tận-Độ Chúng-Sanh giai-thành phật-đạo mà Đức Chí-Tôn ban-bố chư bồ-tát phụng-hành phải trải qua nhiều trở-lực mới tận-thấu Chân-Như, Có đi vào cơn mê thực-tiễn mới thâm-nhập cái mê mà giác-ngộ, có kiểm-chứng thực-hành mới nhận chân được Do lầm nên vương nơi Hữu-Hóa. Bằng dùng Sắc tự-quán kiểm-chứng, hay Thinh-Hương Vị-Thứ kiểm-chứng thảy đều sai-biệt với Chánh-Giác. Nếu đứng trước khuông-mẫu của mỗi một Con-Người có Tướng-Tốt, hoặc giả Tướng-Xấu chưa hẳn đã tốt hay xấu. Hãy nhìn tinh-hoa vận-chuyển có Thủ hay có Xã. Bằng Thủ nhiều liền Dục-Sắc, Dục-Thinh danh-giả, dục Hương khoe tài, khoe đức, dục vị ưa củng-cố Vị-Thứ thảy đều là con-người giả-danh nơi danh-giả mà thủ. Bằng xã nhiều là kẻ trôi-sông tiêu-cực mang lấy hư-vô chẳng làm chi hữu-ích, hai hạng Con-Người nầy chưa hề hay biết sử-dụng, Họ thảy đều quan-niệm thân-Tâm lìa Ngã cùng Ngã-sở, mà trái-lại Thủ vẫn-Ngã Xã đều là Ngã. Chẳng khác nào CẤU chưa đặng mà Tịnh vẫn không xong.
 Thiền-Sư trầm-ngâm in-tuồng Kiểm-Chứng, không khác mấy vị Đại-Lương-Y xem-xét Mạch-Lạc đặt viên-thuốc cứu-chữa bệnh mê-lầm, làm cho con bệnh nhận chân may ra thấu nhận. Ngài nói: Những vị Tốt nhất là bậc. Thủ để kiểm-Tra, Xã liền tha-thứ, Thủ đặng sáng-soi, xã đặng trơn liền, nơi tinh-hoa vận-chuyển của những Vị nầy đã từng thưc-hiện, từ Thâm-Tâm cho đến ngoại-giới liền-lạc trơn-tru nên chi hay nói: TA THA-THỨ, LỖI-LẦM CHO TẤT-CẢ. TA KHÔNG BAO GIỞ LẨM-LỖI. Bằng Ta chưa tha-thứ LẦM-LỖI, Ta phải gánh chịu LỖI-LẦM.
 Làm như thế, tu như vậy mới nhận thấu nơi Chúng-Sanh-Tánh bị lầm nên vạn-pháp hữu-hóa. Càng hữu-hóa bao nhiêu lại càng sanh-diệt bấy nhiêu. Bậc càng hữu-hóa càng đi nơi sanh-diệt của hữu-hóa mà thân-tâm sáng-soi nhịp-nhàng của hữu-hóa vận-chuyển tỏ-ngộ vận-chuyển lưu-hành nơi thể-tánh nó, những bậc nầy đối với con đường Chánh-Giác rất gần. Vì sao? Vì nương mãi hữu-hóa tận-thấu hữu-hóa liền sở-đắc Niết-Bàn không Hữu Chẳng Vô mà Chánh-Giác.
 Thiền-Sư ngài nở một nụ cười. Ngài nhìn mặt đất trơn liền đã từng nuôi dưỡng trăm nghìn cây lá. Ngài nói: Lời ta nói không bao giờ họ tin nơi ta Chánh-Giác. Tâm ta trơn liền ai đã hiểu đặng lòng Ta. Ta thường nói: Ta không bao giờ tiếc Thân-Mạng thì Tài-Sản vật-dụng ta nào có sá chi. Thân-Mạng Ta Tài-Sản vật-Dụng ta bảo-toàn, chính ra ta bảo-toàn Quả-Vị, không dư-thiếu trơn liền, thì vận-chuyển lưu-hành nào kém-khuyết, toàn-thiện toàn-chơn viên-dung chung khắp. Đây lời ta nói tất-cả những vị như ta thảy đều như thế cả.
 Ta là một Mẫu-Người rất thực-tế toàn-chơn, có thực-tế toàn-chơn như thế mới tận-thấu nơi chốn thực-tế toàn-chơn của tất-cả con-người từng lớp-lớp, thảy đều thực-tế trong khi gặp Cảnh sanh tình, phát-huy lý-trí cùng quan-niệm trong lúc đó. Đứng vào phương-diện con-người nó có từng lúc từng hồi, từng phương-án Cảnh-Ngộ mà nẩy sanh quan-niệm. Còn về thời-gian thế-kỷ thế-cuộc nó vẫn là quan-niệm, tạm gọi là trào-lưu quan-điểm như:
 Đương thời, cuối thế-kỷ 19 đầu thế-kỷ thứ 20 thời bấy giờ nó có trào-lưu phong-phú ổn-Định, lý-sự diễn-cảnh hiếm-hoi đa-số nhà Phú-Hộ ưa-chuộng Cầm-Kỳ Thi-Họa, có bậc sùng-ái Đạo-Phật, xa-lìa thế-gian có quan-niệm: XÃ-PHÚ, CẦU-BẦN. XÃ-THÂN CẦU-ĐẠO, kể từ thời nầy các bậc tu-hành tự-xướng là BẦN-TĂNG. Nếu có bậc theo quan-điểm mà thực-hành vẫn được toàn-dân yểm-trợ tôn-sùng ái-kính Phú-Nhân. Vì sao? Vì đương thời đồng quan-điểm tinh-thần đúng với lòng người quan-niệm.
 Đến thời gần cuối thế-kỷ thứ 20 nó không còn hộp hóa với quan-điểm trên, do Tình-Cảnh rối-răm, con-người phải tự con-người tranh đấu bản-thân sự-nghiệp, thân-tâm đương thời gần-cuối, vấp phải lý-trí hữu-hóa lòng người, kỳ-vọng trào-lưu vận-chuyển nơi vận-chuyển nầy một là tiến-bộ loài người, hai là sa-đọa theo kỳ-vọng hữu-hóa, gọi nó là hạ-lai mạt-pháp, nó vẫn là công-cuộc trở mình cho Chánh-Pháp đương-lai để mở con-người sống cơ -bản phù-hộp với thế-kỷ thứ: 21 thế-Kỷ 21 là thế-kỷ con người ưa-chuộng thực-tiễn, vì sao? Vì từ nơi kỳ-vọng ảo-vọng tranh-đấu đến thực-tiễn đó là một lẽ dĩ-nhiên nơi nó sắp xếp mà trở thành.
 Cuối thế-Kỷ 20 có thể-chất như thế nào? Đàm-phá kỳ-vọng lý-trí mang đến con-người biện-minh thực-tế. Cũng Như: SẴN NƯỚC DÙNG, hãy múc nước mà dùng. Chớ nên đem nước hủy bỏ. Mà đào-giếng lấy nước mới cho đó là nước dùng, Nơi PHÚ-QUÝ. Có Phú mà đừng nên Quí, dùng giàu chớ ham giàu, đừng hủy giàu sang-nghèo, nên nương nơi sẵn có làm con đường kiến-tạo trợ-duyên, trợ-đạo mà tu-hành, thì thân-mạng kia nó đã sẵn, được sự trợ-giúp ấm-no, tinh-thần thoải-mái mà giác-ngộ. Cũng như Ta, Thân-Mạng nên bảo-toàn, từng bước một đặng bảo-vệ cho đến thời viên-mãn, mới tường-tận tài-sản là hiện-tướng niết-Bàn. Đối với ta thật tỏ-rõ. Lý-Trí và Sự-Việc nó tùy thời mà thay đổi, nên mới có Chỗ-Đúng chốn-Sai. Còn Chân-Lý Thực-Tiễn bao-quảng chung khắp, từ nhỏ, đến lớn không sai chạy.
 Khi Con-Người mong đem đến con-người nơi Thực-tế thường-Còn phải làm như thế nào? Dù cho con-người trong thế-kỷ thứ 21 thực-tiễn biết-sống đồng biết lẽ-sống trong con-người cùng xã-hội vẫn chưa kết-quả đặng. Vì sao? Vì Chân Lý của thực-tiễn, phải tận-biết tận gốc thực-tiễn mới mang lại thường còn bất-biến thực-tiễn nơi chốn biết-sống đồng lẽ-sống, bằng chưa biết nó chưa bao giờ thực-hiện đặng nó, lại bị chính nó mang con người chạy mãi vòng quanh theo trái-đất, rốt cuộc không hơn chẳng kém nó, cũng gọi là con đường toán-học vòng-quanh chẳng hơn, không kém vậy.
Thiền-Sư vừa nói đến đây, Ngài có vẻ-mặt đăm-chiêu, đương chìu suy-nghĩ thầm nói: Nếu ta nói Tất-cả con-người đang lầm nên bị Hữu-Hóa. Khi đảm-phá hoặc hóa-giải cho con-người, thì gốc của con-người toàn-diện đang theo hữu-hóa làm như thế nào tận-gốc hữu-hóa, khi bấy giờ mới tận đặng nơi chốn thực-tiễn thường-còn biết-sống và lẽ-sống an-nhiên không còn đúng sai hai chữ chạy vòng thay chu-kỳ trái-đất, Chính nó là một con đường thẳng, không nhiễm hữu-hóa, sáng-soi tất-cả sự-việc lý-trí của hữu-hóa mà đạt thành căn-bản chân-lý thực-tiễn. Tài-liệu nầy không ngoài tài-liệu Tam-Tạng kinh-điển mà Đức Bổn-Sư đã từng hướng-dẫn, nay được gọi là Lời-Vàng Bảo-Pháp cho con-người và thế-giới đang chiêm-ngưỡng nghiên-cứu chưa tận-thấu tu-đạt. Vạn-Pháp Như-Nhiên. Chúng-Sanh Hữu-Hóa lầm-lạc. Hai Thái-Cực nầy nó mãi-diễn, Chư-Phật cùng chư bồ-tát đã dày công hóa-độ. Khi CHỈ-THẲNG Chúng-Sanh-Tánh lãnh-hội vòng-quanh, lúc diễn-giải vòng-quanh lại có Bậc Trực-Ngộ, cho nên lý-sự mê-ngộ nó chẳng có chừng nói nơi văn-tự, Chính-Điểm nơi nó chỉ có Công-Năng đầy-đủ không kém sót là hơn tất-cả.
 Đức-Phật ngài thật thấu sự lầm nhận với không lầm nhận chỗ Trắng, chốn Đen vượt tầm không thể nào dùng lời hướng-dẫn mà tận-thấu mê-ngộ. Từ một biển Cả rộng-rãi với một hạt nước biển bé-nhỏ vẫn đầy-đủ Phẩm-Chất như nhau nên khó phơi-bày ra được. Ngài phải dùng đầy-đủ phương-tiện, nào là Sóng-Biển, bọt-biển cùng các vận chuyển lai-vãng, vãng-lai gọi nó là Vạn-Pháp như huyễn lay-chuyển không ngừng qua từng cơn-sóng gió, cốt biện-minh mảng-lực nơi cơn-sóng tạo thành tiếng vọng dư-âm, có rất đầy đủ phương-pháp cứu-chữa căn- bệnh lầm nhận, thế mà căn bệnh nầy ngược lại đi trong hơi-thở tiếng nói của Phật mà gỡ khó ra nổi. Các bậc tu-hành nếu đặt mình tựa như biển-Cả, vạn-pháp chuyển-lay, từng cơn Sóng-Gió do vận-chuyển nên có bọt-sóng là sự dĩ-nhiên. Vì sao? Vì Sóng vẫn là Nước đồng-Thể nó không-Hai. Chúng-Sanh Vạn-Pháp là Một, Do lầm nên Hữu-Hóa, Chúng-Sanh Tự-Hóa Bọt và Sóng, nhận lấy Bọt làm thân-Mạng, nhận lấy Sóng làm hoàn-cảnh, nên mới bị Sóng kia đưa đẫy, đẫy đưa bọt kia chẳng bao giờ hết bọt. Bậc tu-hành đang ở nơi cơ-sở của bọt-nước. Bọt Nước lại có bá-thiên vạn-ức-triệu bọt. Lầm nhận đứng cương-vị bọt gọi là chứng-tri thảy đều là HUYỄN-HÓA, hộp-tác dung-hòa nhau để tận tỏ-thấu. Bọt Nước đồng-đẳng nhau không hơn kém gọi là Đồng-Hóa, rõ đặng Sóng-Gió như-nhiên, bọt với sóng mà một, gọi nó là Hóa-Độ, đến giai-đoạn công-nhận thật rõ Sóng với biển đều như thế là tận-độ chúng-sanh-tánh trưởng thành Phật-Đạo. Hay thay Pháp Môn tối-diệu của Chí-Tôn Vô-Thượng, khéo giải, khéo hóa-độ chúng-sanh trưởng thành Phật-Đạo.
 Thiền-Sư nghĩ về Thiền-Tôn. Ngài nói: Thiền về một MÔN. Chân-Lý Thực-Tiễn chung gồm Hiển-Giáo và Mật-Môn phát-sanh Trí-Tuệ, trí-tuệ nầy có chỗ học mới biết, hay những điều chưa học như-nhiên năng-khiếu đặng biết. Những bậc tu-thiền sai-lệch chưa có trí-tuệ, chưa hẳn đã là bậc nhập-lưu tu-thiền. Nói đến Chứng-Tri mà tu-đạt tận cùng của Thiền-Trí khó giải nơi văn-tự. Vì sao? Vì Môn Thiền là một môn hỗ trợ công-Năng Đức-Tánh nên chi Tâm-Truyền-Tâm liễu-Ngộ Thiền-Sư. Từ nơi nhìn nhận của hiển-giáo và nhà thiền-tông không khác mà thật khác thành-thử môn thiền là môn chứng-đạo.
 Tu-Thiền có Bốn cấp-bậc tu-đạt. Từ Sơ-Thiền qua Nhị-Thiền Tam-Thiền đến Tứ-Không-Thiền, bốn cấp nầy kinh-pháp đức Chí-Tôn đã dạy nơi cơ-chỉ Tọa-Thiền. Còn về Thiền-Trí vốn có Tứ-Cấp nhận-thức cùng khai-hoang nơi Chân-Lý Thực-Tiễn đến toàn-diện sở-đắc như sau:
 SƠ-THIỀN. Những bậc Sơ-Thiền-Cấp nương nơi Công-Năng Đức-Độ hóa-giải hay dùng lý-trí mà nhận chân nơi: Phật-Pháp Bất Ly Thế-Gian-Giác Thấy-Rõ, Biết-Rõ, Nghe-Rõ, những điều mà nhân-sanh chưa nhận-chân đặng Thế-Gian, bậc Sơ-Thiền nhìn nhận chu-đáo hơn. Như: Ta bị Nghiệp kéo lôi biếng trễ. Ta vướng vào hoàn-cảnh trói-buộc mong thoát-sanh. Ta mong thoát nó ra nó mãi đeo đuổi. Ta bị Vạn-Pháp hữu-hóa trăm phương nghìn cách. Ta phải vươn mình để khỏi bị-sanh tu qua các trở-lực Điều-Ngự vạn-pháp mà chứng-tri Phật-đạo. Ngược lại lúc công-năng đức-độ sơ-thiền tiến-hóa hơn liền nhìn nhận chu-đáo hơn như: Chính Thân-Tâm mình Hữu-Hóa vạn-pháp, tất-cả các nghiệp chính mình tự-tạo còn phiền-trách ai, mình trói-buộc mình lại kêu nài thoát-sanh. Những bậc biết nhìn nhận như thế mới, tiến qua cấp-Bậc Nhị-Thiền khỏi sai lạc Thiền-Tông.
 NHỊ-THIỀN. Mục Điều-Ngự là một Giới-Thiền quan-trọng, điều-ngự cho thân-kín-nhiệm, Khẩu-kín-nhiệm cùng Ý-kín-nhiệm. Thân-Khẩu-Ý nầy có kín-nhiệm thời thiền mới có thể điều-ngự vạn-pháp di-chuyển. Vì sao? Vì Thân đang Tọa-Thiền, di-chuyển biến-hóa, khi thân nhỏ, lúc thân to. Mắt nhìn thấy cây-Cảnh núi-sông tai nghe tiếng nhạc-trời, ý chẳng mừng-rỡ, khẩu không nói ra khi mình tọa-thiền diễn-biến mà vướng nơi Năng-Sở chấp.
 Những bậc Nhị-Thiền đều nhìn-nhận: Đa-số bị lầm nhau, do nơi Cảnh sanh tình, bất-đồng nên gây ra hoàn-cảnh, mỗi con người bảo thủ nhận lấy Cái-Phải nơi mình mà tự-sanh lắm nỗi bất-hòa nhau, dù muốn hay không muốn chăng, nông-nỗi bất-hòa luôn luôn xảy đến, Hàng Nhị-Thiền thật tỏ-rõ đó chính là tai-nạn HỮU-HÓA mà ra. Nơi hữu-hóa nầy tự nơi Tâm-Ý của mỗi người ấy. Hai nữa: Trình-Độ Giai-Cấp Thứ-Vị ấy mà hữu-hóa, có từng phần ảnh- hưởng nghề-nghiệp từng lớp con người hữu-hóa. Hữu-Hóa nó có hai cơ sở: Một là Thuận hữu- hóa mến thương, hai là: Nghịch hữu-hóa bất-hòa thù-ghét, chỉ vì hữu-hóa từng con-người cho đến lớp người mới phát-sanh cạnh tranh hơn thiệt nhau, thành ra mới có:
 Đời muôn mặt. Đất trăm phương.
 Phật-Vương, chư-Phật một nguồn giác-nguyên
 Diễn-Hành hữu-hóa chân-thường.
 Lòng không chìm-đắm, đâu vương mạch-sầu ?
 Bậc Nhị-Thiền Tọa-Đạt Thiền-Tánh, do Tâm-Ý mong-cầu mà Thiền-Pháp ứng-hiện, Tâm-ý mong thần, cầu thánh, thiền-pháp đồng hiện Thần-Thánh, Có khi không mong cầu vẫn gặp nơi ứng-hiện. Hành-Giả nào hay biết hữu-hóa lầm nhận ngưỡng-vọng. Đối với bậc Nhị-Thiền cho đó là Thiền-Tánh ứng-hiện, không lầm-lạc, vì sao? Vì Thiền là môn Chân-Lý Thực-Tiễn tu-đạt Thiền-Trí, ngoài thiền-Trí thảy đều Danh-Ngã Giả-Tưởng do đó không lầm.
 Từ hàng nghìn xưa cho đến nay, Đương-Lai nơi thời nầy. Lạc-Pháp chỉ vì: Nó muốn như thế nào nó tu theo nó muốn, không còn cơ-bản ấn-quyết hướng dẫn, Vì sao? Vì theo ấn-quyết bị giáo-điều, theo cái-muốn lạc-hướng thành-thử Thiền-Môn, hiếm bậc thực-hiện đúng theo Thời Thiền-Tọa để tu-đạt đến hàng Tứ-Không-Thiền đặng. Dù có bậc tu đạt đến Tứ-Không-Thiền vẫn trực-thuộc về Tiên-Đạo-Thiền, chớ chưa hoàn-mỹ mức Như-Lai-Thiền đặng.
 Hôm nay Ta Minh-Thuyết, con đường trọng-yếu về Thiền-Môn, là một Long- Mạch CHÂN-LÝ THỰC-TIỄN THIỀN-TRÍ. Còn phương-diện Thiền-Tọa là kiến-tạo Công-Năng Đức-Độ, bồi-dưỡng thiền-trí phát-huy. Không hẳn dùng Sắc-Thiền mà giác, chẳng phải dụng âm-Thanh nơi các cõi-trời mà Ngộ, duy-nhất có Thiền-Trí, Giác-Trí về như-trí, nơi Nhất-Thiết-Trí, tỏ-rõ từng chủng-trí hoàn-chân Chánh-Giác.
 Sự việc nơi thời Hạ-Lai đối với Thiền-Tông thảy đều là con số không căn-bản liễu-Ngộ, toàn-diện hay đa số Hành-Giả tu-thiền thảy đều công-dụng Thiền Quán Sắc-Thinh ứng- hiện cho đó là mục-tiêu chính trở thành sai-lệch với Chính-Tông nên chi mới có, phát-huy Thiền THẦN-GIAO CÁCH-CẢM. Thiền Xuất-Hồn. Thiền Chữa-Bệnh. Thiền nghiên-Cứu tu-đạt Thánh-Thần. Những điều nầy đối với Hàng Nhị-Thiền thảy đều tỏ-rõ, vì sao? Vì Thiền-Tánh di-chuyển hữu-hóa tùy-thuận theo Vọng-Tâm, Ý-Muốn tu-cầu, rất hiếm bậc chủ-đích về Trí-Tuệ, thâm-nhập trưởng-thành Thiền-Trí.
 Bậc Nhị-Thiền nhờ Điều-Ngự Thân-Khẩu-Ý, từ nơi ý-thức kiểm-chứng nhỏ-nhen trở thành, chốn hỷ-xả viên-đạt rộng-rãi. Từ nơi khẩu kín-nhiệm lúc nào cần diễn-đạt mới diễn-đạt, khi nào chưa phải lúc phải hồi diễn nói liền lặng-thinh sáng-soi thật-tế đúng lúc, đúng hồi mới diễn nói. Thân-Tâm trưởng-thành bình-dị mà tận-thấu tu-đạt thiền-tánh, được như thế, đỉnh-đạt như vậy mới, vẹn-tuyền pháp-giới mà thâm-nhập từng pháp-giới, được gọi là ĐIỀU-NGỰ TRƯỢNG-PHU, tiến qua bậc cấp TAM-THIỀN khỏi sai lạc.

 TAM-THIỀN. Mục-Đề Thiên-Nhân-Sư. Hàng Tam-Thiền không nhiễm-Trước. Trí-Tuệ đã từng qua giai-đoạn cứu-cánh, nên chi không ngưỡng-vọng, Quá-Khứ không hoài-vọng Vị-Lai, duy-nhất hiện-tại làm mức tiến, do như thế nên chi tỏ-rõ Thiền-Tánh, thấy rõ tất-cả Chúng-Sanh, sanh sanh hóa-hóa, từng lúc từng khi, họ chỉ sống đồng sống, từ nội-tâm đến ngoại-cảnh, nhìn nhau nói nhau, thân nhau rồi xa nhau, Thân-Hình sắc mặt thay-đổi, đổi thay, trong cơn vui-buồn sướng khổ, sự thay-đổi nầy do lầm nên Hữu-Hóa.
 Bậc Tam-Thiền nói: TÂM-TÁNH NÓ NHƯ THẾ NÀO NÓ HAY HÓA NHƯ THẾ ẤY. Tất-cả Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới mỗi nơi, mỗi Cảnh-giới từng hàng Chư-Thiên đến Rồng-Người, cho đến Ma-Vương. Quái-Tặc loài chim loài-chóc Thượng-Cầm hạ-Thú, mỗi một cho đến bá-thiên vạn-triệu vô-số, vô-biên, không thể nói không thể nào kể hết, Thảy đều có Tâm-Tánh duy-nhất nơi nó, Một là nó hành-động đi-đứng, nằm-ngồi cử-chỉ của mỗi một giống-nòi, thảy đều đến cử-chỉ giống-nòi nó mà hành-sự nói-năng, hay gầm-hét, hoặc giả Ầm-Ừ dùng làm hiểu biết nhau, thân-cận nhau cảm-mến nhau sống với nhau thỏa-thích ưa- chuộng, không khác nào Thế-Giới Loài người sống chung trong đô-thị, vui-vẻ nhảy-múa ca hát cùng nhau hưởng-thụ, cùng nhau xô-xát, cùng nhau tranh-cãi, khi hòa cho là phải, lúc bất-hòa cho là quấy. Sự Nghe-Thấy của Từng các cõi, các cảnh-giới đồng với bất-đồng, đối bậc Thiền-Trí thảy đều trái-ngược nhau, do nơi hàng Tam-Thiền dùng Giác mà thấy-Tướng, Còn tất-cả dùng Tướng thấy tướng nên chi khó nhận đặng giác tướng vậy.
 Hàng Tam-Thiền, thật chứng cùng kiểm-chứng Thân-Mạng nơi cơ-sở bồi-dưỡng Thiền-Trí, trao dồi sáng-soi Tâm-Tánh lầm-lạc nơi chốn Hữu-Hóa mới nói: Hay thay, Đức-Độ lầm- mê thật tuyệt-tác thay, giờ đây Ta mới thấu, Nếu đem thân-mạng ta, đứng trước con-người, đứng nơi quần-chúng, Họ thảy đều tán-thán ta gọi ta là vị-tu, Nhưng nào tận-thấu Tâm-Tánh ta, đang lúc ấy, đang khi ấy toàn-thân tâm ta đang hóa ra hung thần, đang diễn tuồng Quỉ-Tặc Ma-Vương, hay Càng-Cát nào ai đặng thấy, Mấy ai đã hay để mà tường tận?
 Bậc Tam-Thiền tiếp nói: Ta nói thật hữu-hóa đã đã tường-tận, Khi Ta làm Phật-Hóa ta không mừng, giai-đoạn làm Quỉ-Ma-Hóa ta nào có sợ, ta thường hóa hay hóa Tâm-Tánh nơi ta thuần-túy, cho nơi hóa là một món ăn đầy-đủ phương-thức, thành-thử Tâm không quái-ngại ý chẳng vương mang Thức đặng Tự-Tại mà tận-thấu tất cả, vì chính ta đã từng hóa tất-cả.
 Ta chưa bao giờ ưa-thích Xuất-Định. Nhưng ta thường hóa thành-thử xuất-định. Ta không thừa nhận nơi chốn Nhập-Định, nhưng ta sáng soi thường-tịch-quang trở thành nhập-định. Ta chưa hề cho nơi chốn nào là Chánh hay Tà, vì đã từng ra vào các cõi, nơi nầy Có thì nơi nọ không, chốn nầy đồng thời chốn kia thiếu, thành ra chỗ nầy một môn chốn kia mỗi một khóa. Do đó mà tất-cả ta chưa hề nghĩ đến Tu-Cầu, ta chỉ sợ tu vấp-chấp. Bậc Tam-Thiền chính bậc đã gần như hoàn-tất Bát-Nhã-Trí qua tầm-Số siêu-đẳng Thiền-Trí, nương nhờ cung- kính như-lai thề-nguyện-sự mà trọn lành như thế, nên được gọi là THIÊN-NHÂN-SƯ.
 TỨ-KHÔNG-THIỀN. Thứ Bậc Tứ-Không-Thiền nầy, đương thời Đức Bổn-Sư còn tại-thế, tất-cả những vị Tu Thiền-Tọa hiếm bậc đã tu-đạt. Chỉ trừ ra Đức Thế-Tôn tu-đạt mà thôi, do đó nên chi có một số tu sai-lệch phải qua nơi Phi-Phi-Tưởng, chỉ lầm nơi Chốn Không mà tai-hại. Chốn KHÔNG nầy là chốn Viên-Minh Thường-Tịch, sạch-sẽ từ Sơ-Thiền đến Tứ-Không Viên-Minh Chánh-Giác, được gọi là TỨ-KHÔNG.

 Thiền-Sư vừa nói đến đây, đôi mắt in-tuồng thưa gởi, tất-cả chào đón Bậc khai-môn, ngài gật đầu, đứng lên thở một hơi dài, miệng đọc:

  Người CƯ-SĨ, nào cầu danh-giả.
 Lòng nhủ lòng, đồng-hóa Nhân-Sinh.
 Dụng Đời để chỉ viên-Minh.
 Biết chăng, chăng biết. Lộ-Trình thế thôi.
 Người CƯ-SĨ khúc-nôi tường-tận.
 Đâu nào đâu vướng bận non sông?
 Chung vui vui với nhịp đồng.
 ĐẠO-Tràng dung khắp, nói không bến-bờ.

Kỷ-Niệm ngày 14 tháng 02 Âm-Lịch
VÔ-THƯỢNG-TÔN ẤN-CHỨNG

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam