CẨM NANG GIẢI QUYẾT: VẠN PHÁP VỚI CHÚNG SANH

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 28
 Con đường Tu-Phật là con đường Duy-Nhất, Bậc Tín-Tâm thiết-tha cầu Đạo để giải-quyết sanh-tử. Bằng các Bậc tu-hành dù cho thiết-tha, thành-thật đến đâu chăng, chưa chủ-yếu giải-quyết, vẫn chưa giải-thoát.
 Đường tu các mối tu phải hiểu thấu Thể-Tánh vạn-pháp, cốt Tỏ-Pháp, mới giải-quyết tử-sanh. Nếu tu Thông-Đạt lối tu, thông-đạt vạn-pháp, chưa tận-thấu đường đi lối về, vẫn còn tập-khí Sanh-Tử, chẳng bao giờ giải-thoát. 

THẾ NÀO LÀ THỂ-TÁNH VẠN-PHÁP?
 Vạn-Pháp thể-tánh DIỆT rồi mới SANH hay HOẠI xong mới SANH, nơi Hoại rồi mới Sanh là nơi NHƯ-NHIÊN Hiện-Sanh Thường-Chân Bất-Biến. Chỉ vì Chúng-Sanh lầm-lạc Thường-Sanh Bị-Diệt, mong Diệt bị Sanh, tu sai với thể-tánh, thành thử khó giải-quyết sanh-tử, khó tu đạt Chánh-Giác, làm thế nào Giác-Ngộ?

  Vạn-Pháp với Chúng-Sanh đồng-đẳng không hai, chúng sanh chẳng lầm-mê thảy đều là Phật. Vì sự-lý mê-lầm bất tương-đồng, chúng-sanh thọ-nghiệp, thọ-chủng, thọ-giới, làm Chúng-Sanh-Giới. Khi là Chúng-Sanh-Giới:

 Một là nương theo Pháp-Giới tỏ-rõ thâm-nhập Pháp-Giới để giải-giới.

 Hai là nương khởi-sanh, khởi-diệt, cốt THỊ CHỨNG VÔ-SANH, giải quyết sanh-tử.

 Ba là lầm vạn-pháp tu-hành tỏ-pháp đắc-đạo.
 Chư-Phật nhận thấy chúng-sanh Thọ-Giới, Thọ-Chủng cùng Thọ-Nghiệp, say đắm nơi SẮC-THINH-HƯƠNG-VỊ, theo Ngũ Dục, Thọ-Ái, Kiến Dục, nên chi Phật mới nói nơi Sanh-Diệt, Diệt-Sanh đều là Pháp Vô-Thường di-chuyển thay-đổi không ngừng, cốt cho Chúng-Sanh chẳng nhiễm-trước, để lìa ái-dục, kiến-dục, khỏi mắc miếu nơi Sắc-Thinh-Hương-Vị mà thọ-ngã thọ-nghiệp, Tâm không nhiễm trước mới tương-đồng với Thể-Tánh Vạn-Pháp mà Giác-Ngộ. Còn phần chúng-sanh phải sống trong chập-chờn Đói-No, Sướng-Khổ cùng sống-Chết, mỗi một con người cho đến hàng triệu con người, chẳng có con người nào có lẽ sống vĩnh-viễn cả, do đó kiếp con người giàu-sang danh-giả thảy đều cuộc sống tạm-bợ, đời sống vô-ý-nghĩa đối với họ.

 Lúc con người phát-Tâm tu-hành, tìm lẽ sống bất-diệt, thoát khỏi Vô-Thường về với Thường-Còn Bất-Biến. Những con người nầy rất hiếm, đa phần tu để tu cho ổn định, nó có một lẽ-sống nương nơi đường tu-hành mà sống an-lành. Khi đã mang lại sự kết-quả nơi họ, nhiều-ít tùy nơi Thành-Thật và Thiết-Tha mà đáp-số kết-quả, đương-nhiên những bậc ấy hăng say nhiễm-Đạo, mới nhận cảm Bản-Thân mình quá ư nhiều nghiệp. Nghiệp kéo lôi bê-trễ, nghiệp ngăn-cản đường tu do Tâm-Thức chấp-nghi, nghi-chấp, nghiệp nó chướng-đối từng phần, va chạm từng cơn, từng khúc. Mắt sanh chướng-ngại kẻ bạo tàn. Tai nghe rủa-nguyền, nguyền-rủa độc-ác, thô-bỉ, cho đã cơn tức-tối của mọi người phát-hiện. Bậc tu-hành lành-lẽ bèn Niệm-Phật để giải trừ về KHẨU, Niệm-Pháp (xem Kinh-Pháp) cốt TỎ-TÂM. Cung kính cúng-dường Chư-Tăng cốt lãnh-hội đường hướng tu học.
 Từ hàng nghìn xưa cho đến hiện nay, Đạo-Phật đã có TÔN-CHỈ cùng MỤC-ĐÍCH nơi Chư-Tăng hướng-dẫn, ĐẠO-LÝ làm con đường Xây-Dựng Bản-Thân. GIÁO-LÝ con đường thâm-nhập tỏ-rõ lời chỉ dạy Kinh-Điển. THỰC-HÀNH mới Chứng-Tri Bảo-Pháp, kết-quả công-cuộc tu-hành.
 Nhưng lạ thay! Lý thì nó có Bá Thiên vạn Lý, nói như thế nào nghe ra cũng phải. Còn Trí lại có trình-độ khác nhau nơi cao chốn thấp. Từ Thánh đến Phàm, từ Tiên-Thần đến bậc Giác-Ngộ, thảy đều mỗi bậc nghe rõ mỗi lời, mỗi nơi nghe thông mỗi chỗ, mỗi cấp, mỗi tầm-số thảy đều thực-hiện theo nơi tầm-số mình, nào mấy ai nghe suốt bá-thiên vạn Lý-Trí đồng nhất đâu, mà thực-hành đúng với lời vàng Kinh-Pháp? Khi bấy giờ bậc Chánh-Giác bậc đã suốt-thông thấu-đáo Lý-Trí chung khắp Thế-Gian và Xuất Thế-Gian Tam-Thiên Vũ-Trụ nó có từng GIỚI, từng phần, từng dòng, từng họ, giới nào, dòng nào tai nghe quen thuộc, mắt nhìn thường an, miệng nói thường-lệ, nên chi không còn Chướng-Ngại khó nghe, khó hiểu, đồng trong một giới thảy đều thông cảm nhau. Bằng khác Giới, phải THỌ-GIỚI, thâm-nhập giới mà nghe-thấy-biết thật sự, không còn chướng-ngại, nên chi mới nói: Các bậc tu-hành phải tu nơi GIỚI-ĐỊNH-TUỆ. Khi VÔ-THƯỢNG-TÔN tỏ-rõ ngọn-ngành nên đã nói:
 Nếu biết sớm-chiều chưa thoải-mái,
 Hương-nguyền nên giữ tấm-tình trong.
 Con đường Tu-Phật đã có một Giới nơi Đạo-Tràng, hãy Thọ- Giới Đạo-Tràng, trì-giới theo Tôn-Chỉ, có một tinh-thần Quyết-Định, gọi là ĐỊNH. Khi Giới đồng với Định xong, liền Lãnh-Hội bảo-pháp gọi là TUỆ. Lúc đã có sẵn Trí-Tuệ, phải thực-hiện BA-LA-MẬT-ĐA về với CHÂN-TÔN TRỰC-GIÁC.
 Cao-quí thay lời vàng chăm-chỉ cứu-chữa các con bệnh mê-lầm thật chu-đáo tỉ-mỉ thay, mấy ai đã tỏ-rõ thâm-tình của Chí-Tôn Vô-Thượng? Từ ngôn-ngữ Ấn-Quyết các chư-Tăng lãnh-hội tu-hành, ban-bố GIỚI-ĐỊNH-TUỆ củng-cố nghiêm-túc quá đà, nên chi Giới-Định-Tuệ kia trở thành vô-ích, lầm-mê. Giới gìn-giữ Giới, Định Tọa-Thiền Xuất-Định, hay Ổn-Định hoặc Cố-Định, tùy theo chư-Tăng chỉ-đạo, liền phát sanh Trí-Tuệ. Làm như thế, giải như thế, tất-cả thảy đều có mỗi một Định-Hướng Tận-Diệt Nghiệp, tận-diệt hiểm-sâu độc-ác, xa lìa nghịch-pháp, huân-tập thiện-chân, dùng Tịnh-Diệt tu-cầu đại-thanh-tịnh sa vào Tiên-Đạo, trái với Thể-Tánh Vạn-Pháp. Nên chi khác xa với con đường giải-quyết vạn pháp với chúng-sanh, bao giờ tu đạt đến Chánh-Giác ?
 Các bậc tu-hành, lầm đường lạc lối, thành thử tu hàng vạn-triệu kiếp chưa hình thành, chưa đoạt đến hoàn-lai Chân-Thiện-Mỹ. Vì sao? Vì tu chỉ biết mình tu, nhận-lãnh chốn tu-hành củng-cố theo khẳng-định, làm thế nào Trí-Tuệ thoát-sanh truy-tầm duyên-căn tận-gốc, để mà Tri-Kiến Giải-Thoát Môn ?
 Dù cho hàng Xuất-Gia hay Tại-Gia cũng đều là Giới Xuất-Gia cùng Giới Tại-Gia, mỗi GIỚI đều giữ trọn. Bằng làm Con-Người phải giữ trọn tiếp-đãi hoặc đối-xử với con người cho trọn. Nếu là con người tự mang lấy Manh-Tâm Dã-Thú, thì thử hỏi có phải con-người chăng?
 Tinh-thần nơi Đạo-Phật cũng như thế. Khi bậc Xuất-Gia, nên chủ-quán Thế-Gian-Giả cốt xuất ly Thế Gian, lìa hẳn Cấu-Tịnh dị-biệt giữa giới Xuất-Gia cùng Tu Tại-Gia, khỏi bị vướng vào sanh-Tâm phân-dị-biệt. Còn bậc Tại-Gia phải nâng cao tinh-thần hướng-thượng, nhìn tất cả lý-sự khổ đau của quần-chúng, mới sanh-tâm Đại-Nguyện lướt qua từng bối-cảnh mà tu-hành. Đây chính là một bước đầu con đường Tri-Kiến, vì sao? Vì Xuất-Gia là pháp-Môn Vô-Vi Xuất-Thế, Công-Đức không màng, Công-Phu chẳng bỏ, lợi-ích không cầu, danh nghĩa chẳng tham. Đó mới thật xuất-gia Tri-Kiến Giải-Thoát. Còn bậc Tại-Gia gần phàm-phu không làm mất hướng-thượng nơi Thánh Ý.
 Bậc tu-hành rất cần hiểu sâu thâm-nhập, mới rõ thấu Thể-Tánh Vạn-Pháp để mà Tu. Bậc chưa bao giờ hiểu thấu thể-tánh Vạn-Pháp, cuộc di-chuyển vạn-pháp, linh-động nơi vạn-pháp, thời dù cho tu bá-thiên vạn-kiếp chưa bao giờ giải quyết đặng Tử-Sanh, vẫn trong vòng Tập-Khí Sanh-Tử mà Sanh-Tử trôi-dạt luân-hồi. Đây là một đề mục căn bản, vạch lối để các bậc tu-hành tìm chân tu trên con đường giải-thoát. Khó khăn thay! Con đường Tu-Phật, bậc tu-hành dù cho viễn-đạt đến đâu chăng, còn Tập-Khí vẫn còn Sanh-Tử, còn trong vòng Phật-Pháp, Pháp-Phật vẫn còn Tử-Sanh, dù bậc đắc-đạo tri-đạo khéo thuyết-đạo đều là bậc tỏ rõ đường đi lối về Đạo-Phật, làm sao thoát-ly Đạo-Phật mà giải-thoát. Dù Phật đã dạy: Đạo-Tràng cứu-cánh giải-thoát chăng, chưa giải-quyết sanh-tử, vẫn chưa giải thoát khỏi tử-sanh.
 Đương thời quá-khứ có một vị Đại-Sư chỉ-đạo, một hôm có Vị Trưởng-Giả đến thưa hỏi: Bạch Đại-Sư, Tri-Kiến Giải-Thoát, còn Sanh-Tử hay chăng? Đại-Sư đáp: Tri-Kiến Giải-Thoát không còn sanh-tử. Thế mà Đại-Sư vẫn đi trong Sanh-Tử, hiện-thân kẻ đưa đò, cốt tìm cho đặng vị Minh-Sư thưa hỏi, mãi đến 18 Kiếp mới gặp Minh-Sư. Vị Đại-Sư thưa hỏi như trên, Minh-Sư đáp: Còn Tập-Khí chưa viên-đạt, con đường Sanh-Tử vẫn Tử-Sanh. Đại-Sư mừng rỡ bái-tạ mới nhập Bát-Đại Niết-Bàn. So những điểm trên đủ tỏ-rõ, con đường Sanh-Tử là một con đường ấn-quyết Sanh-Tử, con đường quan-trọng nhất cho bậc tu-cầu Chánh-Giác hoàn-toàn giải-thoát, không còn tập-khí Sanh-Tử là như thế.
 Con đường nầy các Bậc, các Chư-Tổ đã từng qua giải-quyết sanh-tử, gọi là MINH-TÂM KIẾN-TÁNH. Bậc tu trước tiên phải Minh-Tâm tận soi Kiến-Tánh. Tánh nó có Bốn chỗ DỤNG khác nhau, bốn chỗ dụng nầy phải tận-thấu mới thoát-sanh, thoát-diệt, tường-tận chu-đáo mà giải-thoát.

THẾ NÀO LÀ BỐN CHỖ DỤNG
 Một là: THỂ-TÁNH vạn-pháp Diệt xong mới Sanh. Hai là: Khi Chúng-Sanh Thọ-Chủng, chủng-sanh Thọ-Nghiệp thì Thể-Tánh thuộc về Chúng-Sanh gọi là CHỦNG-TÁNH. Nơi Chủng-Tánh nầy gồm có Chủng-Tánh Bồ-Tát cùng chủng-tánh chúng-sanh-tánh.
 Chẳng khác nào Vị Trưởng-Giả giàu có Tài-Sản to-lớn, vật-dụng đầy-đủ không thiếu sót. Trưởng-Giả mang ra chia cho các con. Mỗi đứa con một món, không còn nguyên-vẹn, không còn là Tài-Sản. Thể-Tánh và Chủng-Tánh cũng như thế, do đó nên chi, mỗi mỗi chúng-sanh mang lấy mỗi CHỦNG-TÁNH. Chúng-Sanh-Tánh, thành thử TÁNH và TRÍ của mỗi chúng-sanh đồng-đẳng, gọi là Bình-Đẳng Tánh-Trí của mỗi con người chia ra Lý cùng Trí chung gồm bao nhiêu chúng-sanh có bao nhiêu Lý-Trí. Lý-Trí nầy thường xẩy ra chuyện đồng và bất-đồng trong hàng Chúng-Sanh-Giới, do đó nên chi có NGHIỆP, nặng-nhẹ trở thành Chánh-Báo và Thọ-Báo Sanh-Tử Luân-Hồi.
 Ba là: PHÁP-TÁNH. Pháp-Tánh trực-thuộc về mỗi mỗi Chủng-Tánh ưa-chuộng mà đài-thọ Cảnh-Giới, đài-thọ tùy theo Sở-Nguyện cung-cấp như-ý nguyện. Chung gồm tất-cả Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, cho đến Ngạ-Quỉ, Súc-Sanh, cùng Địa-Ngục, Tứ-Loài thảy đều tùy thuận biến hiện, không ngoài cơ-cấu khởi-sanh bị-diệt, thảy đều là động cơ Pháp-Tánh.
 Bốn là: Thể-Tánh Vạn-Pháp bị phân-đối, chia phân do CHỦNG-TÁNH. Chủng-Tánh củng-cố trưởng-thành Pháp-Tánh, Pháp-Tánh điều-động diễn biến không ngừng bao che PHẬT-TÁNH lầm-mê. Chúng-sanh chưa chu-đáo tận-tường, nó là: VÔ-MINH gây nên con đường sanh-tử. Bốn chỗ Dụng diễn-hành mãi, cho đến Hàng Bồ-Tát nhiếp-thâu vạn-pháp, nhiếp-thâu Lục-Đạo, tự-tánh tỏ-tánh vẫn chưa đủ chu-đáo, phải trải qua hàng Đại-Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, những bậc Đại-Bồ-Tát tu Ma-Ha-Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa sạch-sẽ, chu-đáo, không còn Chỗ-Dụng nào, thảy thảy tận-thấu liền-lạc, mới không còn Tập-Khí Sanh-Tử.

TU NHƯ THẾ NÀO SẠCH-SẼ BỐN CHỖ DỤNG?
 Một là: Nương nơi vạn-pháp Tỏ-Pháp mới sạch-sẽ THỂ-TÁNH. Bằng củng-cố, đứng yên, hư-vọng, mong-cầu đến vẫn chưa đến, gọi là: Sanh-Diệt, thường-sanh hay bị-diệt vẫn chưa sạch-sẽ Thể-Tánh vạn-pháp.
 Hai là: CHỦNG-TÁNH, kể từ hàng Chủng-Tánh chúng-sanh đến Chủng-Tánh Bồ-Tát, qua hai tầm-số khác-biệt nhau giữa PHÀM và THÁNH, Con-Người với bậc Quân-Tử cùng kẻ Tiểu-Nhân.
 Chúng-Sanh Chủng-Tánh Bủn-Xẻn, Thù-Hận, Ương-hèn, Ganh-Tị, Vặc-Mắc, Lười-Trễ, Tự-Ái, Tự-Mãn, Tự-Tôn, Tự-Sanh, Tự-Ý, Tự-Lợi, cuộc sống-chết không ngoài CÁI-ĂN, cái MẶC. Những điểm trên khi va-chạm nhau: Bủn-Xẻn trở thành so tính hơn thua, Được-Mừng, Mất-Phiền, gây thành Thù-Hận Oán-Cừu, Ương-Hèn chưa bao giờ vươn mình, khi có kẻ vươn mình, sanh ra ganh-tị, tranh-giành. Tranh-giành từ lời nói đến sự-việc là phát-sanh Vặc-Mắc, gặp sự-việc va chạm cá-nhân, bộc-lộ tự-ái, ưa thích cầu-danh, thường Tự-Tôn mình là Đạo-Đức, tự-tôn là bậc quân-tử, tự-sanh ghét kẻ tiểu-nhân chính mình tự mang Nghiệp tự-mãn. Nơi tự-mãn thành-thử có riêng-tư trở thành nơi Tự-Ý đồng Tự-Lợi.
 Bậc tu-hành cần nhất hóa-giải Chủng-Tánh Chúng-Sanh-Tánh. Chủng-tánh Chúng-Sanh-Tánh là nguồn gốc lầm-mê, chủng-tánh chúng-sanh-tánh là sợi giây ràng-buộc các bậc tu-hành, dù tu cho đến mức nào, nó chưa sạch-sẽ vẫn còn nằm nơi Chúng-Sanh Thành-Phật, Phật với Pháp-Giới chúng-sanh mà thôi. Mỗi một khi Chủng-Tánh chưa sạch, phát sanh Ganh-Tị, tự-ái tự-mãn cho nó là Nghiệp, chẳng phải là Nghiệp, bởi tại chưa sạch-sẽ Chúng-Sanh trở thành ganh-tị, tự-ái, tự-mãn mà thôi. Lúc sạch-sẽ trơn liền, không bao giờ có những đố tật như trên đã nói. Phật-Đạo công-dụng phương-thức cho chúng-sanh giải-nghiệp gọi là Nghiệp-Chướng, Nghiệp-Thức, Nghiệp-Lậu cùng kiết-sử, cho đến Nghiệp-Căn, Nghiệp-Trần cũng không ngoài sạch-sẽ Chủng-Tánh Chúng-Sanh-Tánh là một yếu-tố cần nhất vậy.
 Đến thời chúng-sanh bước qua Chủng-Tánh Bồ-Tát-Tánh nó không thể nào căn-cứ được. Vì sao? Vì đương khi Thọ Nghiệp, chủng-nghiệp Chủng-Tánh nơi Chúng-Sanh-Tánh tiêu-giải nhiều ít mà phát-nguyện bước qua, thành-thử có năng-khiếu Thọ-Lãnh Bảo-Pháp, hiểu-biết trọng-yếu mà phát-tâm-nguyện. Do cớ sự trên nên chi Phật nói: Nơi Mê, chốn Ngộ nó không có Hạn-Lượng, Mê làm chúng-sanh, Giác-Ngộ Thành-Phật. Lý-Sự thành Phật thì rất dễ, mà giải-quyết Sanh-Tử thực-hiện Chánh-Giác khó-khăn vô cùng, vì sao? Vì phải Tu mới Chứng, khi Chứng xong gọi là Không Chứng cũng không tu.
 Hàng Bồ-Tát chẳng còn tánh Tự-Mãn, Tự-Ái, Tự-Tôn, Tự-Ý, Tự-Lợi cùng Tự-Sanh. Vì sao? Vì Tự-Mãn, Tự-Ái, Tự-Tôn, Tự-Ý đều là pháp hư-vọng, nó thường-sanh hay diệt, thường cấu hay Tịnh, chưa hẳn thuộc về Thể-Tánh Chơn-Như của vạn-pháp. Lại nữa Tự-Mãn, Tự-Ái, Tự-Tôn đến Tự-Ý liền tự sanh Tăng-Thượng sai-lạc với con đường Giải-Thoát. Bồ-Tát thật tỏ-rõ những tánh kia còn dung-túng, còn tập-nhiễm, còn cô-đọng gìn-giữ nó, dù cho thuyết-pháp thuyết-minh lời-lẽ in-tuồng như Phật chăng, vẫn là lời Ma-Thuyết.
 Hàng Bồ-Tát khai-trừ chủng-tánh Bủn-xẻn, thù-hận, ganh-tị, và vặc-mắc, những tánh nầy không bao giờ trưởng-thành Phật-Đạo. Vì sao? Vì Bủn-xẻn sanh-nở thù-hận, ươn-hèn là nơi chốn trú-ẩn của chủng-tánh chúng-sanh an-dưỡng nơi Ngạ Quỉ, Súc Sanh cùng Địa-Ngục. Lại nữa Chủng-Tánh Bồ-Tát, chủ yếu nhiếp thu Pháp-Giới cốt tường-tận. Từ Chủng-Tánh Chúng-Sanh-Tánh của mỗi nơi, mỗi chỗ, thọ-nghiệp, tất cả vũ-trụ Tam-Thiên có hằng-hà sa-số khởi-sanh, từ nơi sanh ấy thọ-chủng phát-hiện Cảnh-Giới các Cõi, gọi là Thượng-Sanh Hạ-Kiếp không ngừng. Bồ-Tát kiểm-chứng nơi Thâm-Tâm, nơi ngưỡng-vọng, Bồ-Tát mới hay Kẻ: LƯỜI-TRỄ là kẻ vặc-mắc đứng thứ Nhất,vặc-mắc lười-trễ mới phát-sanh nghi-ngờ, nghi-ngờ tự-sanh ra muôn nghìn pháp-giới, vô-tận pháp-giới, là một nơi sanh-diệt không ngừng. Do đó nên chi hàng Bồ-Tát phát-nguyện TINH-TẤN, phát-nguyện Đại-nguyện BI-CHÍ-DŨNG lướt qua từng Pháp-Giới hóa-giải nghi-chấp. Bồ-Tát thật tỏ-rõ nơi nghi-chấp nầy, chưa hóa-giải Chủng-Tánh Chúng-Sanh, còn cặn-bã nào mang lấy nghiệp-quả của chủng-tánh ấy. Cũng như Chén Ngọc-Bích không bao giờ chứa đựng món ăn nhơ-nhớp, hàng Bồ-Tát nhiếp-thu suốt-thông vạn nẻo, lại còn phải phẩm chất hôi-tanh, do cớ sự trên nên chi Bồ-Tát hóa-giải gạn-trừ sạch-sẽ Chủng-Tánh chúng-sanh, thật thụ vào hàng Bất-Thối Bồ-Tát mà Tu-Đạt.
 Bồ-Tát nhìn nhận tại sao các hàng tu chưa đến, chưa có một Lý-Sự chứng-minh, phải đi vòng với Chúng-Sanh-Tánh mà Thọ-Nghiệp? Do nơi chưa sạch-sẽ, nên Lý-Sự bất tương-song, chỉ tu nơi ngưỡng-vọng mong đến mà chẳng đến. Còn hàng Bồ-Tát không tu-cầu đến mà đến, vì Bồ-Tát tu sửa tận gốc nên tất cả vạn-pháp hồi-tôn không còn mới sạch-sẽ.
 Bồ-Tát biết rõ căn-nguyên của chúng-sanh, Chủng-Tánh vướng phải lỗi-lầm mà thọ-nghiệp mang pháp-giới Thụ-Sanh, còn cuộc sống hàng ngày do DIỄN-CẢNH Bối-Cảnh Nghịch-Cảnh, mãi lăn lóc nơi diễn-cảnh bối-cảnh, chưa bao giờ đặng an-nhàn như Bồ-Tát.
 THẾ NÀO LÀ PHÁP-GIỚI?
 THẾ NÀO DIỄN-CẢNH?
 Pháp-Giới nó trực-thuộc Cố-Định nền-nếp sống, lẽ-sống đang sinh-sống của mỗi chúng-sanh, không ngoài Thiên-Sống, Nhân-Sống, A-Tu-La-Sống, Ngạ-Quỉ Súc-Sanh cùng Địa-Ngục đang sống hiện-tại thế-gian, chia ra rành-mạch củng-cố mà sống gọi là HOÀN-CẢNH hay Số-Kiếp con người.
 DIỄN-CẢNH, diễn-cảnh do nơi khởi-sanh trong từng thứ lớp trình-độ giai-cấp chúng-sanh mà ra, mỗi một chúng-sanh thảy đều Bình-Đẳng Tánh-Trí, mỗi mỗi đều mang lấy Lý-Trí giai-cấp trình-độ mình, cuộc sống nó không ngoài CẢNH-SANH-TÌNH, bậc khác hơn lấy TÌNH mà Sanh-Cảnh, chính là Bậc Đạo-Đức được gọi là Quân-Tử.
 Từ Nhân-Sinh hay Tứ-Loài trong Vũ-Trụ Tam-Thiên đều Hấp-Thụ SẮC-PHÁP, nếu chẳng có Sắc-Pháp, thời Chúng-Sanh không phát-sanh Trí-Tuệ hiểu-biết đặng, cuộc diễn-tiến đảo-điên, Cảnh-Sanh-Tình kết-nạp, nên chi mới có Kiến-Dục Ái-Dục, được gọi là NGŨ-DỤC Tham-Lam, diễn-cảnh thăng-trầm xuống lên không dứt, nó in-tuồng Pháp-Giới, chính nó cũng là Pháp-Giới Khởi-Sanh, Khởi-Diệt Cấu-Tịnh tạo thành vòng-đai Luân-Hồi Sanh-Tử.
 Hàng Bồ-Tát thật tỏ-rõ. Từ nơi Tánh-Trí, suy-nghĩ nơi chủng-tánh, do nơi Tư-Tưởng phát-huy Hồi-Tưởng, Tư-Tưởng làm Chủ-Động của Suy-Tưởng (suy-nghĩ) trưởng-thành Quán-Tưởng đến Định-Tưởng, mới phát-hiện HÀNH-ĐỘNG, cho nên mới gọi là: Tư-Tưởng làm MẸ-ĐẺ Hành-Động, Hành-Động nầy nó trực-thuộc trình-độ giai-cấp của mỗi chúng-sanh có mỗi Hành-Động. Chủ-Đích nơi nó xuất-phát Tánh-Tình cũng là Tánh-Trí Hành-Động, không ngoài đồng-hộp-hóa giữa chúng-sanh với nhau, hay bất-hợp-hóa mà có Diễn-Cảnh Thuận-Nghịch là hai con đường chúng-sanh phải chịu lấy
 Bồ-Tát thật rõ, còn rõ hơn thế nữa, nên CHỨNG-THỊ Vô-Sanh. Thân-Khẩu-Ý liền-lạc không sai-lệch, nhờ như thế mới có uy-nghi uy-thế của Bồ-Tát. Bồ-Tát liền tuyên-thuyết: NHẤT NGÔN TRI-KIẾN-PHẬT làm cho tất cả nương nơi Bồ-Tát. Đó chính là con đường Bồ-Tát Độ Chúng-Sanh.
 Khi Bồ-Tát viên-dung nương nhờ nơi tu-trì Chủ-Quán, Bồ-Tát thường Quán-Thế, pháp-môn Quán-Thế của Quán-Thế-Âm Như-Lai-Phật là con đường tự-tại của Bồ-Tát, con đường nầy nhiếp-thâu đầy đủ Tịnh, Bất-Tịnh thảy đều Hiện-Thân cứu-độ. Bồ-Tát thường đứng trong diễn-cảnh, bối-cảnh của chúng-sanh mà cứu-độ, do đó nên chi Bồ-Tát mới viên-dung Nghe-Thấy-Biết tận-tận được gọi là: HIỆN NHẤT-THIẾT SẮC-THÂN TAM-MUỘI.

 Hiện Nhất-Thiết Sắc-Thân Bồ-Tát đã từng lìa Ngã cùng Ngã-Sở không còn tự-mãn tự-ý, tự-lợi, Bồ-Tát Quân-Minh Tha-Lợi, do đó nên chi tỏ-rõ Thực-Tướng Vô-Tướng Tam-Muội Pháp-Môn làm chủ-trì Thực-Vô, Vô-Thực, Chứng-Tri Bát-Nhã gọi là Bồ-Tát Ma-Ha-Tát. Bồ-Tát Ma-Ha-Tát không còn tập-khởi, tập-nhiễm trần-lao, vì đã trải qua Chủng-tánh Chúng-Sanh-Tánh cùng Bồ-Tát-Tánh Thực-Chứng.
 Hàng Ma-Ha-Tát đã thấu đạt Pháp-Tánh là chỗ Dụng thứ Ba, cũng là một yếu-tố đáng kể nhất, trên con đường Vạn-Pháp với Chúng-sanh, chúng-sanh lầm-lạc sa vào các Cõi cùng các Cảnh- Giới Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, cho đến Tam-Thế-Phật phải Thị-Hiện cứu-độ nơi mù-quáng của chúng-sanh, Kim-Cang-Kinh đã nói:
 Nhất-Thiết Hữu-Vi-Pháp
 Như Mộng-Huyễn Bào-Ảnh
 Ưng-Tác Thị Như Quán.
 Pháp-Tánh kia nguyên-thể vốn vạn-pháp như-nhiên bất-biến, do nơi Chúng-Sanh lầm-lạc Thọ-Chủng, trở thành Bị-Biến Diệt-Sanh, thêm vào đó phát-sanh hư-vọng đảo-điên, vạn-pháp kia tùng theo hư-vọng đảo-điên mà ứng-hiện, thành thử gọi là Pháp-Tánh Viên-Dung Bình-Đẳng, có nghĩa tất cả chúng-sanh, nó nghĩ như thế nào, thảy đều ra như thế ấy, đứng trước khía cạnh Bá-Thiên Vạn-Lý đến Vạn-Trí, thảy đều có cái Chân-Lý phải nơi nó, cho đến nỗi Tánh nào, chất nào, phẩm-lượng nào vẫn đều Chánh-Báo Thọ-Báo không sai với nó, tựa như bóng với hình, làm cho tất-cả chúng-sanh, khó thoát khỏi Tử-Sanh, cùng Sanh-Tử, trong khi đã từng sạch-nghiệp sạch-lý vẫn còn Tử-Sanh Sanh-Tử, dù cho bậc tu-hành không chấp nhận Pháp-Tánh Vạn-Pháp trao trả hư-không vô-tận, vẫn bị nơi không của Pháp-Tánh điều-động thì sao ?
 Bậc Ma-Ha-Tát nhìn-nhận, trước kia chúng-sanh Trí-Tuệ thuộc về Viên-Dung Như-Lai-Trí. Như-Lai thời không thể chỉ, còn viên-dung Như-Lai làm như thế nào để biện-minh. Nhưng Tập CẨM-NANG nầy, cốt lưu cho tất-cả các bậc tu-hành dễ nhận-chân thực-hiện vào con đường giải-quyết Tử-Sanh thành thử phải diễn-giải trên.
 Trí Như-Lai Viên-Dung chung khắp. Khi Chúng-Sanh Thọ-ChủngTánh Chúng-Sanh, thì Trí kia vương vào TẠNG-THỨC, nhưng tất cả thuộc về Hạt Giống Như-Lai nên trí-hóa phải tùy-thuộc nơi Như-Lai-Tạng. Như-Lai-Tạng trực thuộc về mỗi Tạng-Thức củng-cố nhận lấy Tạng mình làm bảo-trì lý-trí. Như-Lai-Tạng với Pháp-Tánh lại đồng Thể như nhau, do-đó từ nơi Phải-Trái, Tốt-Xấu, Hư-Nên tất-cả ngôn-từ, ngôn-thuyết thảy đều chung-qui NHƯ-VẬY.
 Tạng-Thức mỗi mỗi Chúng-Sanh đồng NGHE-THẤY-BIẾT, nhưng bất-đồng do nơi Chủng-Tánh khác nhau. Phần Pháp-Tánh do chúng-sanh lầm-lạc Tạng-Thức mộng-tưởng mới hình-thành, do mong muốn mà ứng-hiện, tùy-tùy từng lớp ứng-hiện không thiếu-sót, cho đến nỗi những bậc Giải-Lý Tầm-Chơn vẫn là Chân-Lý Pháp-Tánh ứng-hiện, lầm-lẫn thụ-chấp kiến-tạo an-trụ lầm nơi sở-chứng của mình, nào ngờ vấp phải mù-quáng, cho nên không thể công-dụng Văn-Tự Minh-Thuyết hoặc thuyết-minh để phơi-bày cho tường-tận, nơi chốn diễn-biến của Pháp-Tánh. Duy-nhất các Bậc tu-hành vừa hiểu-biết vừa THỰC-HIỆN mới thâm-nhập, mới viên-dung nơi Tỏ-Tánh mà thôi.
 Khi tỏ-rõ tận-thấu Pháp-Tánh mới được gọi là MINH-TÂM, lúc thu-nhiếp Pháp-Giới tường-tận hàng-hàng lớp-lớp mỗi-mỗi khẽ động, giao-tế từ tư-tưởng đến hành-động Cớ và Sự, nhiễm như thế nào Phát-Sanh Lục-Căn, Lục-Trần, Thân cùng Tâm phương-diện nào gọi là Chủng, phương-thức nào cho là Nghiệp. Sự-Lý đọng-vọng, bậc nào dùng Sự làm Phật-Sự, kẻ nào dùng Lý tu-hành. Tánh cùng Tướng kết-nạp hình thành như thế nào, thảy đều tận-tận không hề thiếu-sót, đó mới gọi là MINH-TÂM KIẾN-TÁNH, ngoài ra chớ nên dùng Có Sắc-Pháp hay Sắc-Tướng Cầu-Báo, lại chớ nhận Không, dụng Trí nơi an-trụ-xứ, hai điểm nầy bậc tu chưa Thông-Đạt, Tận-Thành, hãy còn Nghi vẫn phải thực-hiện, đến lúc giải-quyết đặng chúng-sanh cùng vạn-pháp, rất tường-sai ly tận đoạt chơn. Vì sao? Vì Tận-Tánh tỏ Chơn đường đi lối về Sanh-Tử. MINH-TÂM Trực-Ngộ Pháp-Tánh diễn-hành. Thọ-Chủng TÂM-THỨC trực thuộc Như-Lai-Tạng điều-động.
 Bồ-Tát Ma-Ha-Tát. Trước tiên phải là bậc tu Đạt Bát-Nhã-Trí, khi Bát-Nhã-Trí viên-thông, ra vào Viên-Giác mới Chứng-tri Ma-Ha-Tát. Bậc tu-cầu phải đi vào con đường Tứ-Nhiếp-Pháp cùng Lục-Ba-La-Mật-Đa. Ba-La-Mật-Đa thành-tựu Bát-Nhã-Trí, đoạn trên đã nói: Chớ nên dùng KHÔNG lìa Trí mà An-trụ-xứ rất tai-hại đường Tu, sai với tinh-thần Giải-Thoát.
 Ma-Ha-Tát đã giải-quyết Ba chỗ Dụng. Chủng-Tánh Chúng-Sanh-Tánh và Bồ-Tát-Tánh, tu-đạt đến Tận-Tận Vô-Minh, vô-minh liền Tận. Chưa bao giờ hàng Bồ-Tát Tận-Diệt vô-minh, thành-thử trơn-liền, không còn PHẬT-CHỦNG là Phật-Tánh nữa. Bồ-Tát thành Phật Độ-Sanh, trải qua xây-dựng Quốc-Độ SẮC-TƯỚNG Bất-Biến thường-an Bất-Diệt vậy.
 Hàng Ma-Ha-Tát rất thâm-nhập Lý-Chí của các Lời Phật-Ngôn chỉ-giáo hướng-dẫn chúng-sanh trên con đường Giải-Thoát. Chư-Phật dặn dò tất cả các bậc tu-hành chớ nên Chấp-Trụ, lìa hẳn Lý-Sự đảo-điên mộng-tưởng, phải tu-cầu lãnh lấy sự tu-cầu bằng Pháp Vô-Lậu, sẽ kết-quả Vô-Biên-Xứ, Vô-Định-Xứ, tỏ Vô-Tận-Xứ, rốt-ráo giải-thoát Niết-Bàn hai cánh cửa Niết-Bàn mà Chánh-Gíac cho nên Phật nói: KHÔNG ĐẮC mà ĐẮC, KHÔNG CHỨNG mà CHỨNG, KHÔNG ĐẾN mà ĐẾN, KHÔNG Công-Đức mới gọi là CÔNG-ĐỨC, KHÔNG THÂN mới là THÂN. Những Ấn-Chỉ Phật-Tôn nầy, chỉ có hàng Ma-Ha-Tát đã từng thấu, vì sao? Vì hiện-diện chúng-sanh đang còn bốn chỗ DỤNG, đang trực-thuộc vạn-pháp tử-sanh chưa giải-quyết sanh-tử, trong lúc đảo-điên hoài-vọng năng-chấp bị trụ lầm-lẫn Sở-Đắc Chứng-Tri, thảy đều mơ-màng nơi diễn-cảnh, mộng-tưởng Niết-Bàn hai cửa Hữu-Vô, làm thế nào Chánh-Giasc ? Đây là những điều các hàng Ma-ha-tát trải qua thâm-nhập, nên chi hàng Đại Bồ-Tát NGHE-THẤY viên-dung, tỏ-rõ tận-tận Vô-Biên-Xứ chưa hề có chỗ Nghi nào cả. Có một thời Vô-Thượng-Tôn ấn-chỉ, cốt cho tất cả các hàng Tín-Tâm tu-tập, hãy nương theo đó mà nhận-chân Pháp-Tánh, tư-tưởng hình-thành, Ngài nói: 
  THÂN thời đầy-đủ vẹn-toàn
  Phần TÂM-TRÍ-ÓC, của Tiên-Thánh-Thần
  GIÁC HOÀN chính thật là THÂN.
 Tại sao, ngơ-ngẩn phân-vân nỗi gì?
  Tìm đâu, nhìn thẳng Bài Thi
  Lời TA đã Nói những gì PHẬT-TÔN.
 Trải qua hàng bao nhiêu năm, hiếm bậc tu hành hiểu đặng, vì sao? Vì lời Ấn-Chỉ vẹn toàn, tất-cả các hàng tu chưa đến nơi Giác-Tướng, đang còn vướng vào BỐN CHỖ DỤNG quay-quần từ chủng-tánh đến Pháp-Tánh là nơi Tiên-Thánh-Thần sở-chấp an-trụ, bậc Tu đa phần chỉ đang tu để tỏ đường tu, thành-thử chẳng nhận-chân giá-trị Ấn-Quyết. Khi chúng sanh đang ở nơi chốn thấy chưa bao giờ thấy đặng. Lúc chúng-sanh vượt-tầm chốn thấy, mới thấy đặng mà thôi, gọi là: Ở nơi nghiệp chưa thấy đặng nghiệp, thoát khỏi nghiệp mới thấy nghiệp. Hàng-Chủng-Tánh Bồ-Tát, đang nhiếp-thâu vạn-pháp,chưa tường-tận vạn-pháp, đến khi bước sang Ma-Ha-Tát, mới tỏ-rõ Vạn-Pháp là CÁI-GÌ?

PHẦN BA: ẤN-CHỈ VỀ SẮC-TƯỚNG.
 Phần Sắc-Tướng chung gồm Sơn-Hà Đại-Địa Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, Tam-Thế cùng Tịnh-Độ, Quốc-Độ Chư-Phật, cho đến Tứ-Loài, thảy đều Hiện-Tướng từng lớp chúng-sanh, từng hàng Chư-Thiên, Chư-Tiên, Chư Bồ-Tát, cùng Chư-Phật Thị-Hiện mỗi-mỗi lớp-lớp đầy-đủ trong thế-giới, ngoài các Cảnh-Giới thảy đều Thị-Hiện như nhau. Chúng-sanh cùng Chư-Phật, Bồ-Tát với Chư-Thiên, Ma-Tằng, Quỉ-Quái, Hải-Tặc Sơn-Lâm, cho đến bậc Thiện-Căn, Thiện-Chí, Thiện-Cảm, Thiện-Nhân đồng hiện Thân-Thể Sắc-Tướng, cốt-cách hình-dạng ấy tiêu-biểu thời Quá-Khứ, nên chi hiện-tại HIỆN.
 Do đó nên chi Thế-Giới của con người, đứng trong một nước đều nhìn-nhận có từng hàng, từng lớp người, từng giai-cấp cử-chỉ hành-động sai khác nhau, khó ăn ở đồng-đẳng nhau. Bằng hộp-hóa với nhau gọi là Tri-kỷ. Diễn-giải như thế, để tiêu-biểu trong một nước, chung gồm đầy-đủ hạng người quá khứ đã từng trực thuộc sanh-sống các cõi Thượng-Sanh, Hạ-Kiếp nay trở lại Thế-Gian với những điều: Một là BỊ-SANH từ cõi-Trời, hoặc Cõi-Tiên nơi Thượng-Sanh bị Hạ-Kiếp. Hai là từ Địa-Ngục Ngạ-Quỉ, Súc-Sanh, nay ĐẶNG SANH về Nhân-Thế. Ba là LAI-SANH con người sanh lại con người. Bốn là ĐƯƠNG-SANH các hàng Bồ-Tát Thị-Hiện Cứu-Độ Chúng-Sanh. Sự hỗn-hợp nầy không riêng chi ở thế-gian, các Cõi, các Cảnh-Giới thảy đều hỗn-hộp sanh-sản đầy đủ từng lớp Hiện-Sanh Hiện-Tướng Bá Thiên Vạn Cõi trong Vũ-Trụ về với một Cõi mà Hiện-Thân.
 Bậc tu-hành trên con đường Giải-Quyết Vạn-Pháp với Chúng-Sanh, những vị nầy tu hiện-tại, nhiếp-thu Quá-Khứ tận-dụng Sắc-Tướng lìa Sắc-Tướng, nhiếp-Thu Giác-Tướng thu-đạt NHƯ-TƯỚNG Tận-Giác, con đường nầy là một Pháp-Môn PHẬT-PHÁP BẤT-LY THẾ-GIAN-GIÁC.
 Bậc nầy khi đã từng biết sự hiện-thân sắc-tướng đầy đủ hạng người không thiếu sót vũ-trụ Tam-Thiên thăng-trầm, lăn-lộn, không ngoài lầm-mê Sanh-Tử,TỰ-SANH sợ DIỆT, Tự-MÃN sợ KHINH, Tự-TÔN sợ THỊ, Tự-ÁI nên rụt-rè Cố-Thủ trở thành BẢN-NGÃ cá-nhân, phát-sanh bao nhiêu nghi-ngờ, ganh-tị, cho nên các Cõi có hình-tướng, sắc-tướng thảy đều phục-vụ căn-bản là TỰ-SANH, làm con đường SƯỚNG-KHỔ lẽ-sống sự-sống, cung-cấp sắc-tướng trường-tồn, phụng-sự sắc-tướng bất-diệt, phải lầm vào THỌ-NGÃ GIẢ-TƯỚNG. Thọ-Ngã Giả-Tướng là nơi hư-vọng, nên khởi-sanh liền Diệt, khởi cấu, khởi tịnh để an-trụ nơi thường-an, bậc tu-hành đang còn Chủng-Tánh, chủng-tánh ấy chưa sạch-sẽ dù cho tưởng bằng tướng chi, không ngoài giả-tướng, giả-tướng nọ nó không ngoài Bốn chỗ DỤNG như trên đã nói.
 Bậc tu Tự-Tánh Tỏ-Tánh thường Quán Sắc-Tướng không nhiễm Tướng gọi là Phật-Pháp Bất-Ly Thế-Gian Giác. Bậc nầy gần thế-gian Tâm không mắc-miếu, hóa-giải nghi-chấp nên chi nơi cái-thấy thường thấy lỗi-lầm nơi thân-tâm mình mà hối-cải.
 Lại nữa: Thật tỏ-rõ con đường tu-cầu giải-quyết tử sanh, nhận lấy hiện-tại nhiếp-thu quá-khứ, còn về phần Vị-Lai kiểm-chứng nơi Công-Đức Công-Năng Bất-Thối, do đó nên chi Như-Nhiên tỏ-rõ thời Quá-Khứ. Còn Hàng Tiên-Thần cùng hàng Nhị-Thừa với Chúng-Sanh-Tánh tu-cầu tỏ-rõ Quá-Khứ Vị-Lai hơn hiện-tại tỏ-ngộ bản-thân Tâm không nhiễm trước, của hàng Bồ-Tát, vì sao? Vì hàng Nhị Thừa Tiên-Thần chỉ lìa Trần Cấu mà nhiễm Pháp-Tánh, Tận Diệt Bất-Tịnh lại nhiễm Thanh-Hương, lìa Tối nhiễm Sáng, lìa thô nhiễm thanh trở thành không nhiễm, trái lại bị Nhiễm trước.
 SẮC-TƯỚNG là một chốn phơi-bày Hiện-Tướng thời quá-khứ nay đã kết chung Hình-Thành nên ứng-hiện đủ màu sắc, từ Tướng hình Cử-chỉ đến hành-động thanh-thô giữa nhân loài, mặt ngoài nhìn thấy nó bất-đồng, nhưng bậc Giác-Tướng thấy nó rất đồng theo Tánh-Trí Bình-Đẳng của nó hiện ứng thân nơi nó, hoàn-cảnh hiện-hữu của nó, trở thành rất nhiều Thế Đứng trong xã-hội hiện đại nầy.
 Khi bậc tu cầu lấy Hiện-Giác, phải hiện từ nơi Thế-Gian đến Xuất-Thế-Gian đầy-đủ Vũ-Trụ tỏ-rõ Nhân-Loài nó như thế nầy, nó phải hưởng như thế ấy. Nó như thế nọ nó phải chịu như thế kia. Nó như thế khác, nó phải đi theo thế khác mà lãnh lấy trách-nhiệm sướng khổ, do tại nơi nó mà ra, chớ chẳng ai làm cho nó phải như thế. Thế-Đứng nơi Sắc-Tướng phải TẬN-TẬN. Thị-Hiện Viên-Dung suốt-suốt đó là Giải-Thoát chớ không chi Giải-Thoát.
 SẮC-TƯỚNG Thân-Hình, không bao giờ thay đổi, mà nó vẫn đổi thay, gọi nó không khác mà khác. Hoàn-Cảnh khẳng-định không bao giờ thoát nổi. Nhưng nó lại vẫn thoát sinh đến mức rất an-bài.
 Bậc không khác mà khác. Hoàn-Cảnh không thoát nổi mà thoát rất an-bài. Những bậc nầy có căn-bản tự-lượng lấy mình, tự chính bản-thân phải bổ-sung những điều thiếu-khuyết, bằng dư dã phải giảm đi. Tự-Trọng mình, Tự-Tôn không khinh rẻ kẻ khác, đây là một cơ-bản tiến-thân sắc-tướng đáng kể.
 Những bậc không khác mà khác, không thoát mà thoát nó vấp phải BA điều-kiện nầy phải trải qua hàng bao nhiêu Công-Năng Công-Đức mới vượt khỏi, bằng vô-tư không khai-triển khó thành-đạt được mục tiêu trên để đi trên con đường giải quyết sanh-tử. 

THẾ NÀO LÀ BA ĐIỀU-KIỆN GIẢI-QUYẾT?
 Điều-Kiện thứ nhất: TRÌNH-ĐỘ TRÍ TUỆ .
 Điều-Kiện thứ hai : TƯ-THẾ GIAI-CẤP.
 Điều-Kiện thứ ba : HOÀN-CẢNH THUẬN-LỢI.
 Hoàn-Cảnh thuận lợi rất là hiếm. Vì sao? Vì nơi Diễn-Cảnh hàng ngày, diễn-cảnh nầy do trong hoàn-cảnh phát-hiện, hay do ngoại-cảnh thâm-nhập mà phát-sanh vì Sắc Tướng va-chạm bất-tương-đồng thường xảy đến. Khi Nhân-Sanh có điều-kiện thứ ba hoàn-cảnh thuận-lợi, lại sanh Trí-Tuệ kém, xác thân lười-trễ, giai-cấp hoài-mong hơn là thực-tế, nên sự Công-Năng yếu khó vượt qua để tỏ-rõ sống-chết tử-sanh nguy-hại đến mình làm sao thoát khỏi? Ba điều-kiện trên nó mãi chênh-lệch kéo dài cho đến bá-thiên vạn-kiếp tử-sanh, sanh-tử không ngừng, nếu hiện-tại không giải-quyết thời đừng mong-đợi Vị-Lai nó An-Bài.
 Trên Quả Địa-Cầu có gần đến một phần tư Tín-Chúng về Đạo-Phật, có đến Bảy-mươi phần trăm bậc Tín-Tâm với Phật-Đạo. Nhưng rất hiếm bậc chu-đáo thâm-nhập Tỏ-Tánh như thế nào, chưa Tận-Thấu MINH-TÂM suốt-suốt ra sao để giải-quyết con đường sanh-tử, Vạn-Pháp với Chúng-Sanh, thì làm sao tiến-thân rốt ráo với Ba ĐIỀU-KIỆN đang vấp phải?
 Tập CẨM-NANG giải-quyết là Tập đã từng qua diễn-khúc đắng-cay, trải qua hàng bao nhiêu thế-kỷ truy-tầm thăng-trầm vô số kể. THỊ-HIỆN, ỨNG-HIỆN chẳng biết bao nhiêu bận. Nay mới mang ra diễn-giải khúc nôi tạo thành CẨM-NANG Cúng-Dường Chư-Phật lưu lại Bậc Tín-Tâm, đưa đón Quần-Sinh vào con đường Duy-Nhất GIẢI-THOÁT-MÔN Cứu-Thế, Thọ-Ký Nhân-Sinh Giai-Thành Phật-Đạo.
 SẮC-TƯỚNG vốn thể NHƯ-NHIÊN Giải-Thoát. Vì sao? Vì Sắc-Tướng diễn xuất từ nơi THÀNH-TRỤ cho đến HOẠI-KHÔNG chớ chưa hề có DIỆT, nó rất phù hợp với con đường tu GIẢI-THOÁT. Vì con đường Giải-Thoát nương nơi Vạn-Pháp Tỏ-Pháp, pháp HOẠI hết lầm trở thành Tỏ-Pháp chớ chẳng Diệt-Pháp Ngộ-Pháp bao giờ. Nó lại nương nơi Sanh-Tử giải-quyết Tử-Sanh HOẠI, Tử-Sanh trở thành BẤT-DIỆT, không còn chốn DIỆT-SANH liền thành BẤT-BIẾN, BẤT-BIẾN TRONG SẠCH nào có Ba Điều vấp phải?

Kỷ-Niệm Ngày ĐẠI-LỄ : 30 tháng 09
VƯƠNG-TÔN Thọ-Ký.

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam