GIÁO PHÁP
Nhất-Tôn Pháp-Tạng thời Bất-Nhị Nhất-Thể. Vô-Thủy, Vô-Chung liên tiếp duy-nhất gồm có BA ĐỨC PHẬT đồng một chữ A như sau:
Đức-Phật A-ĐỀ. Đức-Phật A-DI-ĐÀ, Đức-Phật A-DẬT-ĐA. Chủ-Tọa Điều-Ngự gọi là Giáo-Chủ Nhất-Tôn NHƯ-LAI-TẠNG.
Thừa hành giữa thời nầy, Đức TỊNH-VƯƠNG-PHẬT đảm-nhiệm làm GIÁO-CHỦ Nhất-Tôn Pháp-Tạng. Hiện-Thân TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG gọi là con đường BỒ-TÁT-ĐỘ, Duy-Nhất từ Hành-Dụng đến Diệu-Dụng để cứu-độ, đưa tất-cả được Tri-Kiến Giải-Thoát hiện tại nên đồng thanh ứng-hiện trọn dùng HỮU-VÔ trùm khắp trên dưới tự-tại gọi là Ứng-Thân BỒ-TÁT-PHẬT.
Từ Khi Nhất-Tôn Pháp-Tạng mở đầu Vô-Thủy Vô-Chung Vô-Lượng-Thọ Vô-Lượng-Nghĩa không thể đo lường đếm tính đặng. Thời tất-cả NHƯ-LAI cùng ĐẠI-NHỰT NHƯ-LAI-PHẬT và Chư PHẬT với các hàng Chư BỒ-TÁT đặng độ, đặng Hóa-Thân Vô-Lượng Vô-Số Vô-Biên khó suy-nghĩ khó đong lường. Nhưng mỗi hàng BỒ-TÁT, mỗi Thứ-Bậc thảy đều làm không ngừng nghĩ trong Nhất-Tôn Pháp-Tạng như sau:
NHẤT-TÔN NHƯ-LAI Chứng-Minh.
ĐẠI-NHỰT NHƯ-LAI-PHẬT. Khi đồng Như-Lai, lúc hòa cùng Chư-Phật. Ngài dung-hòa dung-chứa Thị-Hiện SẮC, KHÔNG-SẮC. THINH, KHÔNG-THINH. HƯƠNG, KHÔNG-HƯƠNG. VỊ, KHÔNG-VỊ cùng XÚC-PHÁP, KHÔNG XÚC-PHÁP và các TỊNH-ĐỘ, QUỐC-ĐỘ HỮU-VÔ NIẾT-BÀN đến ĐẠI-NIẾT BÀN. Tất-cả Bí-Mật Kín-Nhiệm di-chuyển do Ngài nắm giữ. Từ Thần-Thông đến các Tam-Muội qua GIẢI-THOÁT.
Khi nào NGÀI Ban Hành Thị-Hiện?
Lúc BỒ-TÁT được sự Thọ-Ký của Chư PHẬT. Khi NHƯ-LAI NHẤT-TÔN Chứng-Minh rốt-ráo. Từ Thần-Thông đến Tam-Muội qua các Hiện-Thân đến Giải-Thoát Viên-Mãn BA-THÂN Ngài thảy đều gìn-giữ khó nói, khó bàn đặng.
Tất-cả Thế-Giới, Cảnh-Giới mỗi một khẽ động di-chuyển Ngài thảy đều cung-cấp trường-tồn bất-diệt. Từ một nơi, một Thế-Giới hay Trăm-Ngàn Vạn-Ức Ô-Trược Mạng-Trược Ngài làm trở thành TỊNH-ĐỘ hay QUỐC-ĐỘ trong một Sát-Na.
Ngài lại gìn-giữ TÂM-ẤN MẬT-ẤN, nên đối với NGÀI thật khó nói, khó nghĩ bàn.
Đức ĐẠI-NHỰT NHƯ-LAI-PHẬT tất-cả đều khó nói, tất-cả đều Tán-Thán vô-lượng vô-biên-xứ đều cung kính với Oai-Thần Tối-Thắng Diệu-Âm của NGÀI.
CHƯ-PHẬT có nhiệm-vụ THỌ-KÝ và DIỆU-ĐỘ Chư BỒ-TÁT.CHƯ-PHẬT chỉ dạy cho Chư Bồ-Tát thành-tựu Phật-Quả đồng Thọ-Ký cho Chư Bồ-Tát trong đường Hạnh-Nguyện đưa Chư Bồ-Tát Ngũ-Nhãn Lục-Thông Tam-Thân Tứ-Trí đồng Thành-Phật.
Còn Chư BỒ-TÁT Tín-Hạnh-Nguyện để lãnh-hội các Pháp và Chân-Lý huấn-từ của Chư-Phật mà Sở-Đắc.
Chư BỒ-TÁT Độ-Sanh với con đường Hạnh-Nguyện Lục-Ba-La-Mật-Đa, thâm-nhập Pháp-Giới thành-tựu Bát-Nhã-Trí, được Trí-Tuệ Vô-Ngại. Đức-Hạnh ứng-thân rốt-ráo từ HỮU-LẬU đến VÔ-LẬU Không-Hai hoàn toàn Tri-Kiến hoàn-toàn Giải-Thoát.
TRONG THỜI HÓA-ĐỘ CỦA CHƯ-PHẬT:
Thời kỳ nào PHẬT hóa-độ tất-cả Chúng-Sanh và Bồ-Tát?Thời Đức-Phật ra đời, chưa có Thể-Hiện Bồ-Tát, thì PHẬT phải hành-dụng đến diệu-dụng chung Một hai thứ gọi là : BỒ-TÁT-PHẬT. Khi Chúng-Sanh Giác-Ngộ hoặc Đắc-Pháp thì Phật trở qua Đốn-Pháp để cho chúng-sanh Hiện-Thể, thời nầy gọi là PHẬT hóa-độ Bồ-Tát.
Qua thời Bồ-Tát hiện-Thân đầy-đủ hoặc chưa đầy-đủ thì PHẬT mới thi-hành Tịnh Bất-Tịnh, Thuận-Nghịch quyết đưa Chư Bồ-Tát qua các trở lực ngăn-ngại mắc-miếu thân-tâm tập-nhiễm tập-khởi trong LÝ SỰ chưa đồng đến Đồng, chưa đặng đến Đặng, chưa đắc đến Sở-Đắc hoàn-toàn mà thành PHẬT.
Nên Phật hóa-độ khó nghĩ bàn, khó phê-phán, vì sao? Vì Phật diễn ra các Pháp chẳng thiếu sót. Từ Bồ-Tát chưa bao giờ nhìn đặng, thời làm sao chúng-sanh biết nổi việc hóa-độ của Chư-Phật? Làm cho Sức Lực công-năng của Chư Bồ-Tát chịu đựng tiến triển thọ-lãnh đầy-đủ của NHƯ-LAI-TẠNG mà rốt ráo ĐẠI-NIẾT-BÀN.
Sự hóa-độ của Phật, chỉ có Phật với Phật biết, Phật đưa từng hàng Bồ-Tát bởi Tịnh hay Thuận mà Thọ-Chấp, Phật làm cho Bồ-Tát ấy Tâm không phân-biệt dị-biệt, được suốt-thông Tịnh, Bất-Tịnh đến Thuận-Nghịch thực-thi rỗng-rang trùm-khắp thành PHẬT.
Lại vì hàng Bồ-Tát hay hàng Đắc-Pháp đứng yên nơi CHỮ-KHÔNG cùng với Trí-Tuệ ngôn-ngữ Văn-Tự làm Sở-Chứng. Phật phải hóa-độ phiên-diễn các Pháp, làm cho Bồ-Tát nghi-chấp đến Phá-Chấp, chẳng còn ngăn-ngại trí-tuệ suốt-thông, không còn quái-ngại nơi Thấy Nhãn-Tịnh, đến Thật-biết tỉ-mỉ lìa ngôn-ngữ Văn-Tự Sở-Đắc Bát-Nhã-Trí đồng song thành Phật.
Phật hóa-độ, tất-cả nghi Phật thật Ác, Phật hóa-độ chư Bồ-Tát phải nghi thật là Nghịch, dù có Ác hoặc Nghịch chăng thời khó nghĩ bàn, vô-lượng hóa-độ, vô-lượng Diệu-Dụng Bồ-Tát nhìn chưa thấu, thì phàm-phu lấy đâu để hiểu? Phật chỉ vì Bồ-Tát đứng yên thọ-chấp mà phải hóa-độ như thế, để được Thọ-Ký và Chứng-Minh của NHƯ-LAI.
Bậc Bồ-Tát còn Nghi hay phân-vân chưa chu-đáo Hữu-Lậu Vô-Lậu, tác dụng, tác-tạo các Pháp, cùng với Trí-Tuệ chướng hay Tướng-Pháp ngại ngùng, hoặc tự-tại trí-tuệ mà chưa thật tỏ tỉ-mỉ Đúng-Sai thường bị Chướng-Đối, mơ-mộng Niết-Bàn khi thời Định-Tưởng hoặc Thường-Tưởng hay Ly-Tưởng cứu-cánh rốt-ráo bằng Không-Pháp. Hoặc Bồ-Tát quán Tự-Tại Vô-Ngại phá-nghi phá Tương-Đối, phá Thân-Khẩu-Ý xuất-ly đặng gìn-giữ Tư-Duy nên chưa tỏ-rõ di-chuyển Pháp-Tánh, chưa biết được Thường-Tánh thì làm sao chu-đáo Diệu-Tánh Niết-Bàn? Bậc Bồ-Tát như vậy mà bắt chước hóa-độ nơi Phật làm hành-dụng tác-tạo Nghịch-Hành, thật là nguy hại vô kể.
Đối với Phật, Phật nói ra những lời nói toàn là: KHAI-THỊ. Chớ chẳng bao giờ lời nói nơi Phật là Thuyết-Pháp. Phật vì Bồ-Tát mà Khai-Thị để đưa Bồ-Tát thành Phật-Quả. Bồ-Tát biết lời-Vàng nên tán-thán Kim-Thân Hoa-Đàm khó gặp liền được Chứng-Ngộ NHƯ-LAI-TẠNG. Bồ-Tát lại biết lời Phật nói là Nhất-Tôn Bất-Nhị, dù cho Ngài phân biệt tỉ-mỉ hoặc phương-tiện đủ cách nhưng vẫn Nhất-Tôn, liền Sở-Đắc Nhất Thế-Chủng-Trí.
Khi Phật ra đời khó gặp, Nhất-Tôn Pháp-Tạng Tin thật khó bàn. Nếu bậc Bồ-Tát Tin thời Bồ-Tát ấy khó nói đến sự cúng-dường Tam-Thế Như-Lai-Tạng vô-lượng vô-kể.
Nếu có một vị Bồ-Tát tu vạn-hạnh bên ngoài, từ phương Đông đến phương Tây hay Nam-Bắc chẳng hạn, cùng với Trí-Tuệ suốt-thông. Khi nghe Nhất-Tôn Pháp-Tạng chưa biết hoặc đã biết. Đương thời Diệu-Dụng BỒ-TÁT-PHẬT cùng sau Thể-Hiện BỒ-TÁT với TỨ-CHÚNG sẵn-sàng.
Bậc ấy nói Ta Sở-Đắc Chân-lý và Ta đã thành Phật, dù cho Bậc nọ sở-đắc hoặc thành Phật thật sự đi nữa mà chưa biết nơi Chứng-Minh Nhất-Tôn, chẳng Tin sự Chứng-Minh có lòng Ngã-Mạng Tự-Mãn thì cũng chưa đến rốt-ráo để nhập Đại-Niết-Bàn, vì sao? Vì chưa đặng Thọ-Ký Nhất-Tôn thì làm sao đến Như-Lai Nhất-Tôn Chứng-Minh, đã chẳng đặng Chứng-Minh thời làm gì có Đại-Nhựt Như-Lai-Phật ban-hành Thị-Hiện cảnh Đại-Niết-Bàn, do lẻ ấy mà bậc kia phải dùng Định-Tưởng đã Định-Tưởng thời còn Sanh-Diệt, đó chính là trọng-yếu thứ nhứt.
Lại có Bồ-Tát dùng lời lẽ thuyết-pháp y như Phật, mà chính Bồ-Tát ấy chẳng biết chỉ hướng cho Chúng-Sanh hoặc chưa biết rõ sự nói năng lợi hại của Pháp, vì Chúng-Sanh chưa giảm Nghiệp-Lậu và Tham-Sân-Si nên thường chứa nhóm trụ-chấp nên khi nghe đã không đem đến sự lợi-ích cho Chúng-Sanh còn làm cho chúng-sanh tăng thêm tham-vọng, thêm kiết-sử đảo-điên ham-muốn, dù cho vô-tình chưa rõ mối nguy hại, nhưng Bồ-Tát đã lầm cho chúng-sanh uống phải độc-dược cuồng quay tăng-thượng hay đoạn-duyên Phật, thời Bồ-Tát liền phải lạc hướng mất Hạnh vòng quanh theo Lục-Đạo để cứu vớt sự lầm thuyết của mình, đó là điểm nguy hại thứ hai.
Bồ-Tát nhìn thấy chúng-sanh vì mê-chấp lầm nhận ngăn-ngại, Bồ-Tát chỉ dạy cho Chúng-Sanh tu-tập Phá-Chấp. Khi mà chúng-sanh Tin lời giải-thuyết của Bồ-Tát để phá-chấp liền khỏi sự lầm nhận nhiều ít, chúng-sanh vui mừng nung-đúc phá-chấp tự nuôi Bản-Ngã tăng-thượng bên trong chắc-chắn sẽ thành Phật nay mai, vì mê-lầm làm chúng-sanh đến Giác-Ngộ là Phật, nên chi Chúng-Sanh ấy xem việc Đức-Hạnh công-năng chịu đựng là Chấp-pháp, học hỏi thâm-nhập Pháp-Giới là chấp-pháp, tất-cả việc Hạnh-Nguyện phát Bồ-Đề-Tâm đều chấp-pháp, đến một ngôn-ngữ văn-tự đều chấp-pháp, mà thật chính Chúng-Sanh ấy chưa hiểu gì cả, dùng lời thuyết như cái máy nói nên bừa-bãi Tăng-Thượng, xem Chư-Phật và Như-Lai là môn sở-thuyết, chớ không ngờ là Chánh-Báo Viên-Mãn Ba-Thân rốt-ráo Đại-Niết-Bàn Bất-Nhị, đó là điểm nguy hại thứ ba.
Bồ-Tát vừa hiểu vội chấp nhận biết, vừa biết vội chấp nhận đã Đắc. Khi mà Bồ-Tát hiểu được Lý Vô-Sanh, chớ chưa đến tỏ-rõ Vô-Sanh. Lúc Bồ-Tát hiểu Tâm không có chổ chỉ cùng vạn-pháp do Tâm-Sanh. Nhưng chưa biết thật tỏ-rõ Tâm là cái gì ? Bản-Thể Tâm ra sao nên tu-hành Hạnh-Nguyện chê Pháp nầy, khen Pháp nọ, thờ-ơ tối-sáng được mừng mất buồn đảo-điên theo Tâm-Pháp. Bồ-Tát có thể xem kinh hiểu câu rốt-ráo là Niết-Bàn hay Ba-Thân Tứ-Trí Ngũ-Nhãn Lục-Thông cùng Không-Tâm Niết-Bàn đến Viên-Mãn, do đó nên vội chấp nhận Định-Tưởng Giả-Tưởng kiêu-mạng cho ta đã sở-đắc, đó chính là điểm nguy hại thứ tư.
Bồ-Tát lại đương dùng nơi hiểu biết của mình hiện tại hay Định-hướng nơi mình mà đem áp-dụng thuyết-giải nói-năng các Cảnh-Giới cho chúng-sanh nghe, trái lại Bồ-Tát chưa thấu đáo. Vì định-tưởng tham-muốn Thiên-Tướng chính mình mà đem nói, các chúng-sanh nghe thích khen tặng Bồ-Tát hăng say nói quá trớn làm cho chúng-sanh Cuồng-Tín, chính Bồ-Tát ấy cũng bị Thọ-Giả-Tướng. Khi mà chúng-sanh ấy theo cuồng-tín chẳng ích-lợi, sinh tâm chán mà thối Bồ-Đề đoạn-duyên Phật, đó là điểm nguy hại thứ năm.
Bồ-Tát lại vì chúng-sanh nói cho chúng-sanh lìa bỏ đố-tật chướng-nghiệp Tham-Sân-Si, nói Nhân-Duyên, nói tất-cả những ích-lợi Tri-Kiến, nói từng sự nguy hại của Tham-Dục, tâm nhỏ-nhen eo-hẹp, làm cho chúng-sanh nghe được, lãnh được mà Phát Bồ-Đề-Tâm cầu Tri-Kiến Giải-Thoát.
Bồ-Tát trước khi nói pháp phải vì chúng-sanh nương chìu xíu đỉnh, sau lần đưa cho chúng-sanh vào con đường Tỏ-Tánh, Đức-Hạnh Ngôn-Ngữ thanh duyên để cho khỏi đoạn-duyên Phật, khỏi nghi Tam-Bảo, chúng-sanh ra đi được xóm làng quý-mến trên dưới thuận-hòa, đó chính là Bồ-Tát khéo nói và khéo tu hạnh Bồ-Tát vậy.
Bồ-Tát nên y-kinh để Liễu-Nghĩa, nên dạy chúng-sanh nghe Pháp cốt tỏ-biết. Chớ chẳng nên y-kinh Bất Liễu-Nghĩa dạy chúng-sanh nghe Pháp chớ nên thuộc lòng không hiểu nghĩa sau nầy sẽ Bị-Biết, dạy chúng-sanh thật-biết Hữu-Lậu, thật rõ Vô-Lậu Hữu-Vô đều tỏ-rõ, chớ vì Hữu mà nặng, chớ vì Vô để chấp. Lại cũng chớ vì Hữu mà Đoạn, chớ nên Vô mà lìa, đó chính là Bồ-Tát khéo cúng-dường Tam-Bảo, khó đưa chúng-sanh chẳng lấy cũng không bỏ.
Còn phần Chúng-Sanh cầu Tri-Kiến Giải-Thoát thành-tựu hiện Thân Bồ-Tát thời phải tu thế nào?
Chúng-Sanh nhất-tâm tu-cầu đến kết quả hữu-hiệu thì nên căn-bản Đạo-Đức Ngôn-Hạnh và BI-TRÍ-DŨNG. GIỚI-ĐỊNH-TUỆ, thi-hành Lục-Ba-La Tứ-Nhiếp-Pháp, phát Bồ-Đề-Tâm Nguyện cho thù-thắng để qua bờ ngăn-chấp của BA-LỐI là: ĐOẠN-DỊ-DIỆT.
THẾ NÀO LÀ: ĐOẠN?
Chúng-Sanh thường Nghi, chấp nhận cái Nghi của mình mà bỏ tu. Chúng-Sanh Tham-Cầu, Tham-Biết, Tham Cuồng-Tín để thọ-chấp mà bỏ tu. Chúng-Sanh vừa hiểu biết chút ít cho là Sở-Đắc bất-tín lời Pháp cho là lý-luận ngôn-luận đặng bỏ tu, cùng tất-cả trái với mơ-ước điên-đảo bỏ tu thảy đều gọi là: ĐOẠN.
THẾ NÀO GỌI LÀ: DỊ-DIỆT?
Chúng-Sanh bởi mê-lầm nên thân-tâm pháp-giới đều thọ-chấp ngăn-ngại, tự sanh nhiều mong-muốn đảo-điên, nên đảo-điên động-vọng nó làm Chủ, do lẽ ấy gọi là Chúng-Sanh, nếu rõ biết tỉ-mỉ thật biết chẳng còn lề thói trên liền hiện thân BỒ-TÁT hay PHẬT không hạn.
Khi tu-cầu hiện-thân thời hai Pháp DỊ và DIỆT nó làm cho Chúng-Sanh khó nghe Phật-Pháp, khó hiểu nổi Dụng-Độ của Bậc Thiện-Trí-Thức, nó làm cho chúng-sanh thường nghi để mà chấp nhận nơi mình là phải, đặng dắt dẫn chúng-sanh vướng vào Dị-Diệt. Nếu Chúng-Sanh nhất-tâm thù-thắng TIN-VÂNG-KÍNH để nghe lời chỉ dạy, điều ngự phá Nghi-Chấp lần tỏ-biết đặng Giác-Ngộ thì chẳng nói chi, bằng không qua nổi Đoạn-Dị-Diệt khó hiện-Thân đặng.
Ba pháp Đoạn-Dị-Diệt nó tùy theo Chúng-sanh Thọ-Chấp mà trở ngại lối ngăn-biệt. Bậc càng tu khá bao nhiêu thời nó lại càng khó gìn-giữ Đoạn-Dị-Diệt bé nhỏ bấy nhiêu. Phần nhiều nó ở nơi tế-nhị mà thọ-chấp, nó ở nơi tinh-vi mà vương phải, đó chính là điểm ngăn không lối thoát vậy.
TỊNH – VƯƠNG
