GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 37
Trí-Tuệ phương-thức sáng soi, Chư Bồ-Tát Đại-Nguyện Hành-Dụng gần chúng-sanh không mất THÁNH-Ý, nương nhờ TRÍ-TUỆ CỨU-CÁNH mới qua nhiều trở-lực ngăn-ngại, trắc-ẩn, liền đặng hóa-giải, có hằng vô-lượng vô-số vô biên pháp-giới thuận-nghịch khác nhau, trên-dưới trong-ngoài không giống nhau, trong lúc Hạnh-Nguyện, Hành Dụng giữa Phàm-Thánh đồng chung không kể nổi, chỉ hơn kém nhau MÊ và NGỘ, NHIỄM cùng KHÔNG NHIỄM TRƯỚC mà thôi. Phần THÁNH-Ý, thời Thánh rất am-tường, còn Phàm-Phu nguồn MÊ vọng-loạn đảo-điên ưa thích, chỉ có NĂNG-SỞ KIẾN-CHẤP. Bồ-Tát phải trải qua những điều Phải Trái, Lý-Luận Biện-Minh, nó mãi diễn nơi tấm tuồng BỐI cùng CÁCH, biệt-phân nơi Bồ-Tát xây-dựng chúng-sanh trưởng-thành Phật-đạo.
Khi Bồ-Tát Tu-Đạt TRÍ-TUỆ, sở-đắc HUỆ-NHÃN, Đại-Ngộ, Chánh-Giác nơi Bồ-Tát, chừng ấy Bồ-Tát Tổng-Trì Đà-La-Ni-Tạng. Ngài nói: TA thời dụng TRÍ-TUỆ không hai cơ-bản Tu-Đạt Phật-Trí, cầu Diệu-Quả Bồ-Đề. Còn chúng-sanh đựợc mất, có-không, Sống-Chết, Tử-Sanh theo điên-đảo không ngoài TÂM-THỨC điều-hành, TẠNG-THỨC chủ trì bao-quản, ước-mơ động-vọng. Ý-THỨC eo-hẹp nhỏ-nhen lề-thói sống cạnh-tranh mâu-thuẫn lợi-danh, tham lam cá nhân củng-cố, nên chúng-sanh hay nghi, thường-chấp.
Nếu Chúng-Sanh là bậc HỮU-HỌC, thì TÂM-THỨC nọ, nó lưu-chuyển trưởng-thành TRÍ-THỨC, nhờ THỨC-THỨC thường hóa được hóa, gọi là TRÍ-HÓA, trí-hóa tùy bản-năng HỌC-LỰC-HÓA, khả-năng nên có Lý-Trí thành-đạt hay thông-đạt nền Văn-Hóa, thành-tài nhiều cơ-cấu.
Bằng chúng-sanh phát Tâm tu-hành, TÂM TÍN-NGƯỠNG xem Kinh-Pháp, đọc-tụng kiên-trì, tu phương-thức nào chăng không ngoài TÂM-THỨC, Tâm-Thức lưu-hành, bậc tu thời đảo-điên vọng-loạn, TÌM-THỨC đẩy đưa Ý-THỨC nghi-chấp. Dù bậc tu giải nghi phá-chấp, không chấp vẫn bị chấp-không. Sự-Lý đảo-điên, chạy vòng không ngoài điên-đảo. Từ vọng-loạn chạy dài, vẫn chưa qua nổi loạn-vọng hồ-nghi, tu như thế nào Minh-Tâm, Kiến-Tánh? Dù Kiến-Tánh, Tánh nó vẫn không sửa sai. Bằng Minh-Tâm, thì TÂM đang vọng-động không ngừng, làm thế nào Chứng-Thị?
Ba phục diện: Chúng-Sanh sống theo TÂM-THỨC. Bậc HỮU-HỌC TRÍ-HÓA theo TÂM-THỨC. Vị Tu-Phật xem Kinh-Pháp, đọc-tụng Kinh-Điển TÌM-THỨC Ý-THỨC không ngoài TÂM-THỨC hiểu biết bị biết cùng Bị-Tu. Ba điểm trên thảy đều lầm-lạc. TÂM-THỨC điều-hành quanh-quẩn, khó-khăn giải-giới, tận-thấu chu-toàn đặng, vì sao? -Vì Chúng-Sanh tu Chúng-Sanh, chưa TRÍ-TUỆ cứu-cánh, làm thế nào là con đường đến THÁNH Ý GIÁC-NGỘ?
Bậc Tu-Phật rất cần THÀNH-THẬT, THIẾT-THA TÍN-NGƯỠNG. TIN-PHẬT. PHÁP-TĂNG. ĐỨC-TIN cao-độ chừng nào, chính mình TỰ-TÍN khả-năng công-năng nhịp-nhàng lần theo lời Phật dạy. Bằng bậc tu chưa có Đức-Tin, Thân-Tâm mình không bao giờ tin mình, Tri-kiến dù có tu chăng vẫn chung cuộc Mê-Tín, cầu Phước-Báo mà thôi.
Vì sao? -Vì vọng-loạn đảo-điên nơi TÂM-THỨC. Tâm-Thức chẳng khác nào Tia-Chớp chân trời, ánh-trăng dưới nước, lay-động không ngừng. Chúng-sanh lầm lấy, vì Tâm-Thức nó không khác mấy với Con-Ngựa điên-loạn, mang Tâm-Chí chúng-sanh cuồng-quay vọng-loạn không ngừng, vòng-quanh mù-quáng, làm thế nào Giác-Ngộ?
Bậc Tu-Phật phải có Công-Đức Bản-Năng. Bản-Năng ngự-trị kiềm chế Tâm-Thức qua những cơn vọng-loạn, giải Tâm-Ý ngổn-ngang, gọi là BẢN-THỨC, lúc đã có Bản-Thức Bản-Năng giải nghiệp, bằng chưa bản-thức vẫn còn mơ-hồ con đường Tu-Phật, dù cho có hiểu biết Phật-Pháp chăng, vẫn chưa hiểu chi cả. Vì sao? -Vì biết lỗi-lầm chúng-sanh mà chính Thân-Tâm mình bậc tu đang lầm-lỗi TỰ-MÃN theo TÂM-THỨC.
BẢN-THỨC điều ngự KHÔNG BUỘC, KHÔNG MỞ, thấm-nhuần dung-thông bao nhiêu thì TRÍ-TUỆ phát-triển bấy nhiêu. Tùy bậc tu giải Nghiệp-Thức, đạt Trí-Tuệ căn-bản. Thời Lạc-Pháp lầm Tâm-Thức khôn-ngoan, khôn-hoang là Trí-Tuệ, nên tu-hành kém, ưa-chuộng Môn KHÔNG TU mà chứng, có bậc lầm nơi vọng-tưởng ngỡ là Chơn. Có bậc càng tu nhận thấy càng vọng-loạn đảo-điên tận-diệt vạn-pháp, lâm nơi Tịnh-Biệt Vô-Dư. Bậc tu vọng-tưởng làm Chơn sa vào Tà-Kiến, Dục-Kiến.
Chân-Lý nhà Phật, tùy mức-độ khả-năng, căn-cơ Trí-Tuệ Tu-Chứng, không còn cách nào hơn cả. Công-phu tinh-tiến triển-khai Trí-Tuệ. Có Tu mới có Chứng. Khi kết quả hoàn-mỹ Không Chứng cũng Không Tu. Chính như-nhiên khi mê lầm giải lầm trưởng-thành Giác-Ngộ, Tu-Phật mức-độ nào, nhận chân theo mức ấy, CÔNG-PHU đầy-đặn, TÂM-CHÍ vững-vàng, THIỆN-CĂN, THIỆN-CHÍ, ĐỨC-TÁNH đầy-đủ thì tất cả thảy đều đầy-đủ không sai. Lời BÌNH-ĐẲNG, Y-CHỈ PHẬT-TÔN. Năng-thuyết bất năng-hành khó thành-đạt.
Bồ-Tát giải nói xong êm lặng, sau Ngài tiếp: Nhẫn-Nhục, Trí-Tuệ Thiền-Định. Trí-Tuệ Nhẫn-Nhục Thiền-Định nầy khai-hoang Trí-Tuệ phát-triển. Nhẫn-Nhục có hai lối: Lối thứ nhất BỊ NHẪN-NHỤC. Lối thứ hai: Bậc có Bản-Năng điều-ngự Bản-Thức, dụng nhẫn-nhục kiềm-chế Tâm Thức khỏi dục-vọng, tranh-giành hơn thua mà nhẫn-nhục, vì Nhẫn-Nhục lìa Ngã, Ngã-Sở, đúng với tinh-thần Trí-Tuệ, Thiền-Định, vì sao? -Vì Tâm-Thức động-vọng, Thiền-Định là TỊNH-TÂM, đã Tịnh-Tâm TRÍ-TUỆ. Trí-Tuệ lìa tất cả nhận thấu tất cả, Trí-Tuệ không mắc-miếu nơi đâu, thì đâu-đâu thảy đều tận-thấu. Còn phần TÂM-THỨC động-vọng từng hồi, hồi nào cũng Phải lẫn Quấy tùy chúng-sanh. Phải-Quấy nào do nơi Tâm, tuy nói Tâm đặng mà không đặng mảy-may nào, chỉ cuồng-quay TÂM-THỨC mà thôi.
TỊNH-TÂM THIỀN-ĐỊNH vốn chung TRÍ-TUỆ. Không Tịnh-Tâm Trí-Tuệ vẫn không. Không Thiền-Định nào phát-huy Trí-Tuệ? Bậc tu phải có BẢN-THỨC kiềm-chế Tâm Thức, Bản-Thức phải có yếu-tố năng-lực KIÊN-TRÌ CHÍ-DŨNG THÙ-THẮNG TINH-TẤN BẤT-THỐI-TÂM, NHẪN-NẠI BẤT-CHUYỂN BỒ ĐỀ, đánh đổi qua từng giai-đoạn Tu-Chứng, từ Phàm-Phu trưởng-thành THÁNH-Ý, TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.
LỜI VÀNG hướng-dẫn chỉ-dạy. NGHE đặng là khó, nghe đặng thực-hiện chưa đặng phải KIÊN-TRÌ THỰC-HIỆN đặng càng khó hơn, vì sao? -Vì Nghe đặng, nhờ dẹp điên-đảo loạn-tưởng nơi Tâm-Thức mà nghe đặng. Còn thực hiện chưa đặng vì yếu-kém thực-lực Công-Năng, nên chưa thực-hiện đặng. Bậc tu phải cần tu hơn thế nữa mới thực hiện đặng.
Đương thời cuối Thế-kỷ HAI-MƯƠI, cận kề 21, đa-số Tu TỰ-TÁNH Tỏ-Tánh, nghiên-cứu Nhà-Phật cũng khá nhiều. Phái THIỀN-TÔN ưa-chuộng không ít, có nhiều nước thành-lập cơ-sở khang-trang, nhiều nơi Tu-Thiền cần Trí Tuệ, vừa nghiên-cứu vừa Tu-Thiền, hoặc tu Thiền Dưỡng-Sinh, Tọa-Thiền Võ-Đạo Thần-Giao Cách-Cảm. Những chỉ-tiêu Tu-Thiền trên thảy đều trực-thuộc về NHÂN-THIỀN hay NHÂN-THIÊN-THIỀN là tốc-độ cao nhất, vì sao? -Vì Thiền-Dụng TÂM-THỨC mà Tu-Thiền, chưa TRÍ-TUỆ CỨU-CÁNH THIỀN. Trí-Tuệ Cứu-Cánh mới là NHƯ-LAI-THIỀN TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.
Phật-Đạo mục-đích đưa Tín-Chúng Giải-Thoát. Phật đã từng nói: TƯỚNG giải-thoát từ lâu, TÂM chúng sanh mắc-miếu chưa giải-thoát. Nên chi Tu-Thiền đặc-điểm về TÂM truyền, Tâm liễu-ngộ. Khi đang tu-tập Thiền Tọa chớ nên Chấp-Trụ Trụ-Chấp, lâm vào Tâm-Thức đảo-điên cuồng-vọng, Hành-Giả có đầy-đủ hiểu biết năng-khiếu, kiên trì Chí-Dũng lập-trường mới Tu-Thiền đặng. Vì sao? -Vì Dụng BẢN-THỨC cai-quản Tâm-Thức, lìa Thức hồi Tâm, có nghĩa lìa vọng về CHÂN sở-đắc TRÍ-TUỆ-TÂM. Tại sao Trí-Tuệ-Tâm? Vì Tâm độc-lập trơn liền, chen lẫn Thức trở thành Tâm-Thức, thức thời Động-Vọng trở thành Pháp, Hành Giả Tọa-Thiền Tỏ-Pháp, Thức không còn, Tâm về với TÂM nên gọi Trí-Tuệ-Tâm. Tu-Thiền chủ-yếu phát Trí-Tuệ Cứu Cánh, Ấn-Quyết-Tâm, Tuệ phát trực-nhập đắc Tâm, trực-ngộ Chân-Giác, lìa Chân CHÁNH-GIÁC, tu như thế NHƯ-LAI-THIỀN.
Tôn-Phái THIỀN, Tùy theo Tâm-Thức của mỗi Hành-Giả mà Hướng-Giáo, không tùy thuộc học-hỏi Văn-Tự Tu-Thiền, vì Thiền-Tôn không TỰ. Bậc THIỀN-SƯ thấu-đạt TÂM-THỨC lưu-động phiên-diễn tất cả, nên tùy nơi mỗi Hành-Giả, lập Tông ấn-giáo Tu-Thiền. Các Hành-Giả bổn-phận TÍN-HẠNH-NGUYỆN bất-thối Tự-Lập phát-huy Thiền-Tông. Tu-Thiền không có cấp-bậc nào mà có Cấp-Đẳng Thiền, Phái Thiền có CHỦ-THỂ, CHỦ-TÁNH, Thiền-Tôn đi sâu Bản-Năng tìm-lực Chủ-Trì Phổ-Chiếu, làm con đường Giác-Ngộ, bản-năng tự-lập duy-nhất. Có ý-nghĩa vạn-pháp duy Tâm. Vũ-Trụ Bản-Thể Thân-Tâm duy-nhất không hai. Dưới mắt Thiền Sư, thấu-đạt tất cả, tất cả đều Thiền-Sư, ngoài ra không có Từ-Ngữ nào giải đặng.
Thiền-Tôn một Giáo-Môn cực-điểm đánh đổi mê-lầm về với Giác-Ngộ Tận-Giác. Khi Hành-Giả nhập Môn Tu-Thiền, vị Thiền-Sư chứng-minh Nhập-Môn. Lễ nhập Môn xong, Hành-Giả Tu-Tập Thiền-Tọa, tối đa hai thời Thiền-Tọa, ngoài ra vị Thiền-Sư giáo-huấn từng vị Hành-Giả riêng, còn Nghi-Luật thời TÂM-KHẨU-Ý, kiểm-soát, THÂN-KHẨU-Ý kín nhiệm, mỗi tháng hai lần phát-hiện TÂM-THỨC, mãi-mãi từ Ba-Năm đến Bảy-Năm lúc nào tỏ-ngộ nguồn mê nơi Tâm-Thức, thường-chấp, thường trụ hoặc hay trụ-chấp thiệt-hại như thế nào, đâu đó sạch sẽ, lúc bấy giờ mới làm Đại-Lễ NHẬP-LƯU. Nhập-Lưu mỗi một Hành-Giả, biệt-lập ở riêng mỗi vị một cái CỐC, công-phu Thiền-Tọa, Tứ-Thời Công-Phu. Trước khi vào LƯU-CỐC, các Vị thảy đều THỀ-NGUYỆN. Có vị thề: Tu chưa đắc ĐẠO, thề chưa rời khỏi CỐC.
Tinh-Thần Tín-Hạnh-Nguyện Tọa-Thiền, Tôn-Phái Tu-Thiền cực-điểm. Khi đã hiểu thấu sự-lý lầm-mê do nơi TÂM-THỨC, dùng BẢN-THỨC cực-điểm lời nguyện tinh-thần bất-khuất, giải trừ THẦN-THỨC viển-vong trở về với NHẤT-TÂM GIẢI-THOÁT, Thiền-Tôn tận-dụng HIỂN-GIÁO MẬT-TÔN gọi là VIÊN-GIÁO, TIỆM-GIÁO, ĐỐN-GIÁO là bước tu toàn diện, đầy-đủ viên-dung Tri-Kiến Giải-Thoát. Đa phần thời Hạ-Lai nầy, nhiều bậc chưa thấu-đáo. Tu Hiển-Giáo chuyên ròng Hiển-Giáo. Tu-Thiền quan-niệm Mật-Tôn Siêu-Hình vạn-tượng, tu ròng Thiền-Học Đốn-Học, Tu-Tiệm gìn-giữ Tiệm, nếu không chung-kết, tổng-hợp làm thế nào LIỄU-ĐẠT CHÁNH GIÁC?
Đặc-Điểm Thiền-Tôn, bậc kém Tọa-Thiền, đảo-điên Động-Vọng, nơi Động-Vọng đảo-điên trực-thuộc TÂM-THỨC, dụng BẢN-THỨC ngự-chế động-vọng đảo-điên. Khi Hành-Giả Tọa-Thiền khá đặng TỊNH-TÂM, nhờ Tâm-Tịnh thời Tâm-Thức cải-hóa, trở thành THẦN-THỨC, Thần-Thức Tâm-Thức thảy đều trong vòng mê-loạn tham muốn. Một bên Tâm-Thức do Thân-Tâm, còn một bên Thần-Thức, Tâm hóa tinh-thần lung-lạc nên gọi là Thần-Thức lưu-hành qua từng vọng-tưởng. Thiền-Tọa phải kiên-trì không trụ-xứ Thần-Thức, Bản-Thức vẫn ngự-chế không trụ-xứ Thần-Thức, Thiền-Tọa di-chuyển chung khắp các Cảnh-Giới các Cõi. Thiên-Biến vạn hóa, làm cho Hành-Giả ưa-chuộng mà trụ-xứ, Hành-Giả có Trí-Tuệ Huệ-Nhãn tránh khỏi lầm-lạc. Bằng chưa Tu-Đạt đến, không nên trụ, không nên chấp-trụ một Pháp nào, vui mừng tự-ngã một Cõi nào, bằng chấp-trụ đều mù-quáng. Miễn ngự trên Thần-Thức di-chuyễn khắp-khắp Tam-Thiên, Đại-Thiên Thế-Giới, bất-luận cao-thấp Cảnh-Giới thảy đều nương nơi Thần-Thức, Tỏ-Ngộ Thần-Thức Thiền-Tánh.
Nơi NGHE-THẤY-BIẾT Bình-Đẳng nhưng bất-bình-đẳng, giai-cấp trình-độ: Có Tu, Chưa Tu, Có Chứng, chưa Chứng, kể ra không hết đặng. Khi Nghe, lúc Thấy, được biết cùng chưa đặng biết sai-biệt nhau. TẬN-GIÁC CHÁNH-GIÁC ĐỒNG-ĐẲNG nhau. Tu-Phật Đạo-Phật rất BÌNH-ĐẲNG, vì lầm-mê Giác-Ngộ xa-cách nhau, khó diễn-giải, đã khó diễn-giải, khó nhận lãnh, được gọi là BẤT-KHẢ TƯ-NGHỊ, khó nghĩ bàn.
Bậc Thiền-Sư: Dưới sự nhận-định, xa-cách hẳn bậc Hành-Giả đang tu Thiền-Tọa. Vì sao? -Vì Bậc Thiền Sư nhìn-nhận Tổng-quát, do đó Thiền Sư nói: Một nơi Phải, hoặc cái Phải của một chúng-sanh cho là Phải. Trong giờ phút đó Vũ-Trụ Tam-Thiên Đại-Thiên thế mới có hàng bá-thiên vạn triệu chúng-sanh đồng cho phải, gọi là thế-giới-hải PHẢI. Mỗi một chúng-sanh cho là Quấy, thì liền có bá-thiên vạn-triệu chúng-sanh đồng cho là Quấy, gọi là thế-giới-hải-QUẤY. Khi Đức Phật thọ-ký, Bá-Thiên vạn Phật đồng thọ-ký. Mỗi một Vị đắc Chân-Lý liền có Bá-Thiên Vạn-Triệu đồng đắc Chân-Lý, gọi là CHÂN-LÝ HẢI. Một Bậc-Đạt VÔ-THƯỢNG-ĐẲNG, liền có Bá-thiên vạn Triệu bậc Tu-Đạt Vô-Thượng-Đẳng, gọi là THƯỢNG-ĐẲNG THẾ-GIỚI-HẢI.
Từ chốn TÂM-THỨC lầm-mê, có Bá-Thiên vạn triệu lầm-mê nơi TÂM-THỨC, vô-lượng vô-biên đại Mê, cuồng Mê, vọng Mê Tâm-Thức-Hải. Bản-Năng phải ngự-chế xem-xét lỗi lầm, qua từng cái Mê, sạch sẽ hết Thức giải Mê, GIÁC-NGỘ. Từ nơi Tâm-Thức, Hành-Giả Tọa-Thiền trở thành THẦN-THỨC, Thần-Thức rộng-rãi bao-la, thanh-thoát cực-điểm, Đại-Lung, Đại-Lạc, Đại-Cường, Đại-Vĩ, lên xuống cuồng-quanh, thiên-biến vạn hóa theo CHƠN-THỂ Pháp-Tánh, Hành-Giả lầm-nhận vui mừng an-trụ hoặc giả ưa chuộng thích-thú cho đó cực-điểm không ai bằng, liền thọ-chủng Thần-Thức lâm vào Ngoại-Giáo.
Bằng bậc kiên-trì tận-thấu TÂM-THỨC liệt-hạ tranh-giành, THẦN-THỨC tham-lam đại-vọng, KHÔNG-NHIỄM, CHẲNG-LÌA, TRÒN-GIÁC. Ví như Bậc đã tự mình phát hình nhìn xem Vũ-Trụ thuyên-diễn, một tấm tuồng MÊ-NGỘ, CHÁNH-GIÁC.
KỶ-NIỆM TRUNG-THU