THUYẾT MINH LUẬN ĐƯỜNG TRUNG-ĐẠO-TÔN

GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 26
 Mỗi buổi sáng, mặt trời vừa lên trên đỉnh đèo, có gió mát, không khí toàn vùng dễ chịu. Mỗi một lúc ánh vàng soi khắp, cây lá đá chen bóng vàng óng ánh những hạt sương loang dần do nắng sớm. Có vài ba chiếc xe đang chạy, bò đủng đỉnh qua khúc đường cong-cong.
 Nhìn dưới chân đèo về hướng Tây, xa xa một khu rừng trảng dựa ngọn núi xanh. Lưng chừng núi, có con suối bạc, lấm-tấm hai bên bờ suối, có những tảng đá tròn tròn lớn-nhỏ chồng chất nhau in tuồng đoàn voi đen-đen trắng-trắng, do thế mới gọi là Rừng Vạn-Tượng, Suối Trăm-Voi. Sự sắp xếp thiên-nhiên không có chi là lạ, nhưng thanh-thú nhất rừng Mẫu đất êm, gió lành ít bệnh, lại hiếm loài thú dữ, chẳng có Côn Đồ ẩn núp.
 Theo tục truyền. Từ xa xưa, chưa rõ Niên-hiệu thứ mấy. Có nhà Võ-Sĩ-Đạo ẩn-thân tại khu rừng nầy với hàng trăm môn-đệ, tập-luyện ở ăn trong Tòa Cổ-Miếu, hiện nay sân nền Cổ-miếu còn yên, nền có những phiến đá lớn dài, mỗi phiến đá có thể vài chục người mang đến đào lót nền Cổ-Miếu. Còn dòng Suối Trăm Voi, do các môn-đệ lúc luyện tập mang lên sắp xếp dọc theo bờ suối, lâu ngày phong-sương gió cuốn, những tảng đá trở thành hình tròn nghe lời nói, những bậc đứng nhìn, cũng có thể tin được lời truyền-tục trên là đúng.
 Đến nay, Nhà Thiền Sư Hiền-Triết, Thiền-Sư đã từng dẫm nát, đã từng trải qua tứ-phương năm-hướng chung hợp Đạo-Đời, Đời-Đạo, qua chẳng biết bao trở-lực cùng tỏ-rõ thế-nhân, tự tạo lấy hiểu biết, thật biết, đến quá biết về với thân-mạng, chẳng còn hai chữ hơn-thua hay được-mất. Nhà Thiền-Sư Hiền-Triết hay nghĩ đến hai câu:
 Vết chân dẫm nát Nhân-Thiên Giới,
 Lưu lại Trần-Gian nửa đoạn đường
 Họ còn nhớ, tất-cả mọi người vẫn còn nhớ, câu chuyện của Cụ-Già kể lại. Đầu tiên Thiền-Sư đặt chân đến vùng đất địa-bàn khu rừng Vạn-Tượng, trong buổi sáng tinh-sương. Ngài đi trên chiếc xe chuyên-chở hành-khách. Xe bị hỏng giữa đèo nữa đêm, sáng tinh-sương xe sửa-chữa xong, mời hành-khách lên xe, đến lượt mời Thiền-Sư, Ngài lắc đầu, tay xách chiếc đãy, lặng-lẽ đi dọc xuống đèo. Ngài đi ngang qua vùng đất trũng, vùng nầy dân làng trồng trọt, gặp Cụ-Già chào bái Thiền-Sư, hai bên chào hỏi nhau, cụ già vui-vẻ hướng dẫn. Sau Cụ Già mời Thiền-Sư về nhà cụ yên nghỉ, Thiền-Sư chấp-thuận.

 Ngày tháng trôi qua, Thiền-Sư trụ-trì rừng Vạn-Tượng, dân làng ái-kính, họ hay phát-sanh rất nhiều Huyền-thoại về Ngài, từ chỗ đồn-đại nhỏ, đến nơi đồn-đại lớn. Có lắm bậc nghe đồn, đến lễ-bái chiêm-ngưỡng, van-vái trước khu rừng, xong ra về. Có Bậc vào tận khu-rừng, đến chòi lá, không gặp Thiền-Sư, họ đặt trên bàn lương-thực, lễ-bái xong ra khỏi khu rừng, lòng phấn-khởi. Có bậc đã đến dòng-suối trăm voi, Thiền-Sư đang ngồi êm-lặng, trầm-ngâm suy-ngẫm. Bậc kia chưa nhìn thấy, lúc Thiền-Sư đứng lên, họ kinh-hoàng lễ-bái, xin thọ-giáo huấn-từ, Thiền-Sư khai-thị vài điều yếu điểm, mừng-rỡ bái từ Thiền-Sư.
 Lúc ra về mới nhận chân được lời chỉ dạy của Thiền-Sư. Đa phần đã từng kiến diện với Thiền-Sư thảy đều công-nhận, Ngài có những cử-chỉ an-lành, tánh-tình bình-dị vui-vẻ. Ngài thường mặc y-áo màu sắc đồng hợp với màu đá trăm voi, cho nên những bậc ít lưu tâm, khó nhìn gặp Ngài đặng. Khi Thiền-Sư đến trụ-trì rừng Vạn-Tượng, thấy Cảnh hợp tình, tình với cảnh thích thú, nên chi Ngài nhất-định an trú, nhất-định kiểm-chứng tổng-trì, vì Ngài tận-thấu trọn-vẹn, nên Ngài nói:
 Hôm nay ngưng bước giang hồ,
 Dừng chân lập lại Bản-Đồ nghìn xưa.
 Thiền-Sư chẳng cầu Tỏ, những gì về Thoát-Lý, thoát-chân, thoát-vọng, thoát-khởi, thoát-tập, thoát-nhiễm. Những điều ấy, đối với Thiền-Sư thảy đều vô-lý, Thiền-Sư cũng không lấy chi làm lạ, chỗ tư-tưởng suy-diễn, luận-diễn, kiểm-chứng hay Quán-chúng soi, điều-hành vọng, hoặc phân-chia-tĩnh nơi thân-mạng, trí-hóa soi, hằng ngày, dù cho Thiền-Sư không bao giờ KHỞI nó vẫn DỤNG, chưa bao giờ MUỐN, Nó vốn HÀNH. Những điểm nầy quá ư quen thuộc đối với Thiền-Sư.
 Vì sao? Vì đúng thời khóa, nó vẫn THOÁT, đúng lúc an-nhiên nó lại SUY. Đúng nơi hợp-hóa nó TỰ-QUÁN sáng soi, còn nơi phân-chia TĨNH-TỌA suy-ngẫm chân-nguyên mục đích nơi Thiền-Sư nói lên lời cao-đẹp, vạch rõ đường lối CHÍ-TÔN PHẬT-THẾ, lúc Chí-Tôn còn tại thế đã thuyết-minh mà tất-cả chưa hiểu đặng, làm cho CÁN-CÂN tu-học chênh-lệch hai bên, mất chân giá-trị bảo-pháp lời-vàng tâm-huyết.
 Thiền-Sư đã từng Trực-Giác Tự-Ngộ, nó không có Chứng-từ ngôn-thuyết, nó tận thấu lời Chí-Tôn trải qua ghi chép Tam-Tạng Kinh-Điển không thiếu-sót dư-thừa vẹn-vừa từng lớp lớp tu-học. Kinh-điển nầy có hai điều cần phải nhắc nhở cho tất-cả những bậc tín-tâm tu-học. Thứ nhất kinh-pháp mãi luân theo chư vị Bồ-Tát cốt nhắc nhở, thứ hai đưa đón những bậc phát-tâm. Do hai điểm trên mà Thiền-Sư ưa-thích nhất. Ngoài ra Thiền-Sư chưa bao giờ thêm-bớt đường hướng Chí-Tôn. Thành thử TĨNH-Tọa Suy-Ngẫm không ngoài Chân-Nguyên chủ-đích nơi Thiền-Sư cả.
 Sự quen thuộc, quá ư quen thuộc đối với Thiền-Sư. Mỗi buổi sáng tinh-sương, Ngài ngồi bên dòng suối an-nhiên thanh-thoát, kiểm-chứng Tổng-trì tất cả, cùng tất-cả kiểm nhận Ngài đã từng qua những khúc eo nào trên con đường tu-hành. Lúc khai-hoang đặng, Thiền-Sư miệng lẩm-bẩm tán-thán, có khi Ngài xoa đầu đập vế, vun vai, in tuồng nắm bắt bảo-châu ngọc-bích. Có một hôm Thiền-Sư đứng lên đi vòng bảy vòng dọc-ngang bờ suối, Ngài bước trên từng tảng đá hình trăm voi, xong đâu đấy Tĩnh-Tọa, an-nhiên kiểm-trì con đường Trung-Đạo.

 Thiền-Sư tĩnh-tọa rất lâu, khuôn mặt Ngài thay đổi từng lúc, có khi Ngài gật đầu hay mỉm miệng cười in-tuồng thỏa thích, Ngài nói: Tuyệt tác thay! An-lành thay Chí-Tôn Vô-Thượng, kể cả hàng bá-thiên vạn triệu thế-kỷ, cho đến ngày nay, Thế-Giới với Con Người sống trên mặt đất liền, cho đến Tiên-Thần, Thánh-Hóa, hay Thánh-Triết, Thánh-Nhân, hoặc giả nhà Thiên-Tri Vĩ-Đại lần lượt ra đời, ngự-trị đời chẳng biết bao thời-cuộc đổi thay, thay đổi di-chuyển không ngừng, mấy ai là Bậc NHÂN-THẬP-TOÀN. Từ nơi ƯU chỗ KHUYẾT, nó không ngoài TƯƠNG-ĐỐI CÓ-KHÔNG là hai con đường lựa chọn, mãi-miết đổi theo, xây lâu-đài mộng-đẹp trên lối sống tương sanh con đường Tương-Đối, cho là được-mất có-không vinh-dự. Thật đáng buồn cười thay hư-vọng ?
 Thiền-Sư suy-tưởng đến đây châu mày nói: Kẻ ngu-xuẩn nhất chính TA. Kẻ hư-vọng tham-cầu mang Phật-Đạo vào con đường lệch-lạc mà công-nhận tu-cầu giải-thoát-môn. Ta hiếu-kỳ lựa chọn, một trong hai điểm THANH-THÔ THIỆN-ÁC, Ta ngỡ THANH là Phật-Đạo. THIỆN tạo Giác-Chân, Tu lấy một chiều, còn một hướng Ta đành vứt bỏ, may mắn thay, nếu Ta huân-tập nung-đúc Thiện-Căn, Ta phải lầm Tu nơi Phước-Báo. Bằng thâu nhận Thanh-Hương có lẽ lúc hình-thành sa vào Tiên-Đạo thì sao? Tuyệt tác thay! Hôm nay mới thấu nhận: con-đường TRUNG-ĐẠO-TÔN chính một con đường duy-nhất thâu-nhận tất-cả hai bên Thiện -Ác Có-Không, mới tu-đạt Tuyệt-Đối thoát khởi tương-sanh mới điều-hòa không chênh-lệch. Té ra Phật Đạo Tâm Chí dung-thông tương-đối chốn lầm-than, tuyệt-đối nơi giải-thoát lành-mạnh khỏi Dị-Phân nào ngăn-cách Dị-Biệt. Nơi Kinh-Điển đường Trung-Đạo mà Đức Thế-Tôn đã ấn-chỉ Trung-Thời Hiền-Kiếp, đường hướng chỉ-đạo cho Tín-chúng phải thực-hiện hai bên, phải đồng-hóa tương-đối mà sở-đắc tuyệt-đối, mới mong Giác-Ngộ. Nó cách xa bá thiên vạn triệu thế-kỷ trước, nó gần nhất đối với thế-kỷ hai mươi nầy, thế mà chính Ta đã lầm-lẫn, thời làm sao các bậc Tu-Hành tránh khỏi sự lầm-lạc như Ta ?
 Hay thay! Cao quí thay Chí-Tôn Vô-Thượng, Ngài chỉ đạo Trung-Tôn. Chớ nên BỎ-LẤY chung khắp sự lầm-lạc, tương-đối phải tương-tranh, thiếu-thừa sa-đọa cùng đều đau khổ, do nơi Dị-Biệt nên Bất-Đồng, do chỗ Có-Không sanh ra tham-vọng, do ganh-tị phải hồ-nghi. sự đen-trắng, trắng-đen hai con đường Sanh-Tử.
 Giờ nầy, phút nầy, Ta mới nhận được Đức Vô-Thượng Chí-Tôn. Chính Bản-Thân nơi Ngài, vốn không tự-hào mình đã phát-minh con đường Trung-Đạo. Nên chi Ngài tuyên-thuyết con đường nầy đã có từ bá-thiên vạn triệu thế-kỷ, Chư-Phật đã từng nói ra, ngày nay Ngài chỉ là bậc thừa-hành thuyết-ngôn lại. Còn TA, Ta đứng vào phương-diện kiểm-chứng thân-mạng Ta. Nay Ta tự thán lấy Ta là kẻ-Xuẩn thứ Ngu mà học đòi Tri-Kiến. Dù Ta có Tri-kiến chăng, nơi Tri-Kiến của Ta đều khiếm-diện. Chỉ có mỗi một bên Thiện-Chí, Thiện-Chân, Thiện-Cảm chưa hòa-đồng Thiện-Ác-Chí, Thiện-Ác-Chân, Thiện-Ác-Cảm để tỏ thấu hai nơi chung về với một tuyệt-đối Chân-Như Tri-Kiến.
 Thiền-Sư suy-ngẫm đến đây, Ngài thở dài nhìn bóng cây ngã bóng, Thiền-Sư đứng lên bước đi từng bước một, Ngài nói: Ta Ngu, chắc hẳn từ vô-thủy đến nay tất cả con người thảy đều ngu hết, cho đến chư Thiên-Tiên vẫn phải mờ-mê, dù có nói ra tất cả thảy đều cho Ta là kẻ đi CHĂN-BÒ thuê mướn, cổ-truyền Phật-Đạo, nào có ngờ đâu, Đức Thế-Tôn cùng Ta có Một Chí-Nguyện cứu vãng Quần-Sanh, hãy Tu vào con đường Trung-Đạo đoạt lấy tuyệt-đối tương-đồng mà chung-hoàn Chánh-Giác.
 Sự kiểm-chứng nơi Thân-Mạng, hình-hài trí-óc của Ta, nó có đầy đủ suy ngẫm Tịnh, Bất-Tịnh, tạp-khởi từng yếu-điểm, hoặc giả lang-bang vu-vơ mộng-tưởng, ảo-tưởng trừu-tượng, ngoài ra, nó không ngoài cái-sống để tưởng, chốn đến cần phải giải, nơi Nghiệp cốt đặng Hóa. Ta cùng thân-mạng tranh-đấu nhau, lăn-lộn nhau, đập-phá nhau chưa từng thấy, chính Ta đặng thấy. Khi nhận đặng con đường Trung-Đạo để mà Tu. Ta phải Tu từng bước một, từ giai-đoạn nầy đến giai-đoạn nọ, phải gìn-giữ cho tròn. gặp khi bất-tịnh lòng nơi Ta Hỷ-Xả. Đến một ngày nào, chính Ta mới hay lời Chí-Tôn nói: TỪ-BI-HỶ-XÃ là mục-tiêu nầy, lòng Ta tự-sanh BÁC-ÁI Đồng-Hóa Nhân-Sinh.
 Lạ thay! Tuyệt tác thay bước đường Trung-Đạo, thâu-nhận Tịnh, Bất-Tịnh dung-thông. Nếu chưa thực-hiện, thì làm sao thấu đặng chỗ Từ-Bi-Hỷ-Xả để lúc năng-phân chướng-đối đồng-hóa chân-như ? Khi những Bậc tu Tự-Tánh Tỏ-Tánh, mới nhận thấy con đường Trung-Đạo, là một con đường Quán-Chúng. Biết Lỗi nơi chính mình, mà hoan-hỷ tha-thứ lỗi-lầm cho kẻ khác. Biết đặng Nghiệp mình, mới nhận được căn-nghiệp kẻ gần nhau. Tỏ thấu tánh-chất mình, mới thâu nhận được Vũ-Trụ Hư-Không Như-Lai Nhãn-Tạng, hòa-hợp chung khắp, tận tận ngọn-ngành mà Chánh-Giác. Vì sao? Vì Đời muôn mặt, đất có muôn nơi, còn Thiện-Ác thì cùng khắp. Bậc toàn-chân toàn-thiện, phải là bậc Quản-Lý Toàn-Diện, thấu đạt hai nơi, tỏ tường Vũ-Trụ, đồng-đẳng Tánh-Chất di-chuyển gió-mây trọn-vẹn, mới điều-ngự khỏi lầm-mê, hoàn-toàn Chánh-Giác.
 Thiền-Sư suy-ngẫm đến đây, Ngài bèn chỉnh đốn y-áo, quay mặt hướng đông lễ bái bảy lần. Ngài âm-thầm thưa gởi: Bạch Thế-Tôn Vô-Thượng, Ngài chính Bậc Chí-Tôn vuông-tròn chung khắp, đồng-đẳng bá-thiên vạn triệu, bá-thiên vạn hạnh, vô-lượng vô-biên công-đức Phật về với đẳng-đẳng Tôn Chánh-Giác, do đó cho nên, dưới mắt Phật thảy đều đồng-đẳng Như-Lai, Vô Phân-Biệt-Tính, Vô Thọ-Chủng-Lai, Vô Hoàn Thể-Giác, Vô Xứ Xứ-Trụ, nay con xin kiểm-chứng, thừa-lệnh thuyết-minh, giúp đời nầy, đời sau nương Trung-Đạo-Tôn tu đoạt Giác-Chân trùm-khắp.
 Cao quí thay, dưới Mắt Phật đồng-đẳng quân-minh. Bậc Chánh-Giác là bậc toàn-diện Chư-Phật hiện toàn thân, từ một hơi thở, cho đến lời Vàng Minh-Thuyết thảy đều hiện Phật, đều xưng-tán sát-na vi-trần-Phật, không còn hai tướng, chẳng có chỗ kiểm-chứng hai bên, Ngài còn ấn-chỉ nơi kinh-pháp Vạn-Hiệu Vạn-Phật.
 Đối với Phật-Đạo. Một Vị đã từng trụ-trì từ bá-thiên vạn-kiếp, đến kiếp hiện-tại đặng khai-thị liền Ngộ-nhập Vô-Thượng Chánh-Giác, đồng-đẳng Vị Cổ-Phật hàng nghìn xưa. Bằng tu đứng, tu nằm, tu ngang, tu dọc chưa Thực-hành Trung-Đạo, chưa bao-quảng vạn-triệu để nhiếp-thâu, chỉ tu-trì một pháp ưa chuộng, còn vạn-pháp y-nguyên, vẫn đặng xưng-tán một hiệu danh Phật đó
 Đức Bổn-Sư chung nạp khiêm-toàn đầy-đủ bá-thiên vạn Phật trên Chánh-Giác. Khi Ngài thuyết-minh Vạn-Phật Kinh, thảy đều do Công-Đức Vô-lượng Vô-biên nhiếp-độ thành Phật Danh-hiệu. Mỗi khi Đức Bổn-Sư chứng-tri thành đạt là Phật xứng-danh, gọi là Thường-Tinh-Tấn Danh Phật. Bất-Thối-Chuyển Diệu-Quang-Phật, không ngoài hai tướng chung khắp Chánh-Giác Vô-Thượng.
 Hay thay! Vi-Diệu thậm-thâm thay, tất cả đồng danh thảy đều Công-Đức Vô-Lượng. Tất cả Tràng-phang Bảo-Cái, Bảo-Châu, thảy đều an-nhiên vô-lượng Công-Năng mà thành-tựu danh-hiệu. Sự kết-quả không ngoài con đường tương-đối trở về với tuyệt-đối của Trung-Đạo-Tôn Phật-Thừa thành đạt. Chính nơi Ta con đường tu-cầu giải-thoát vẫn đồng với lý-trí các Bậc tu hành tín-tâm nhất-điểm. May thay Ta thực-hiện hòa-hợp thực-hành tự-quán qua nhiều trở-ngại nhiếp-thu tu-cầu Giác-Tướng về với Như-Tướng viễn-thông, tận-thấu, mà tường-tận PHÁP-THÂN, tỏ rõ nguồn phát hiện Thị-Hiện Sát-Na-Phật, Vi-Trần Phật, Thanh-Quang Huỳnh-Quang Phật. Mỗi chư-Phật thị-hiện, thảy đều do Công-Đức Vô-Lượng nơi Ta, chính Ta không ngoài ai là bậc đã xây-dựng cho Ta, nếu đời nầy hoặc giả đời sau, lãnh hội, đặng lời Ta đã nói trên, thực-hành Tự-Lực cùng Tha-Lực, Tự-lợi và Tha-lợi thời đồng đẳng sự việc Chư Phật đã làm, nay Ta phải làm, Chư-Phật đã khai hoang đường hướng cho Ta, nay Ta phải có nhiệm-vụ Tha Lợi cho những Bậc khác, để báo-ân Tam-Thế-Phật, gọi là Tự-Độ cùng Tha-Độ.
 Thiền-Sư vừa nói đến đây. Ngài ngửa mặt nhìn hư không in tuồng bày tỏ, sự lạc lõng nhận chân với con đường Tri-Kiến quá khó, mỗi một quan-niệm nhỏ sai, xa xăm vạn dặm cách-biệt nhau với con đường giải-thoát vô tận cùng. Duy nhất chỉ có hóa giải, nương theo Trung-Đạo bước lần Từ-Bi-Hỷ-Xã liền trơn, Được-Mất không mừng hoặc buồn khổ hơn-thua chẳng lấy đó làm chứng-từ. Có hay không xem đó nó đã từng lai vãng. Thuận-Nghịch do lòng mong muốn quan-niệm mà ra. Phải-Trái chưa hợp-tình, chưa hợp-lý với mỗi con người đó. Ta thật biết, còn biết hơn dòng đời trôi dạt. Các bậc tu-hành hay phân-đối mà mãi mãi không xong, chạy theo hàng Nhị-Thừa Tu-Chứng, làm thế nào để minh-tỏ con đường Trung-Đạo Nhất-Tôn, sở-đắc Pháp-Thân vẹn toàn Chánh-Giác? Dù Ta có kêu gọi khuyến Tu, có hàng vạn lời kêu gọi, nó chẳng khác nào Tam-Tạng Kinh-Điển lời Vàng Vô-Thượng Chí-Tôn đã từng phơi bày hơn hai nghìn năm, mấy ai đã xem đến?
 Thiền-Sư Hiền-Triết vừa suy-ngẫm thuyết-minh xong, quay về chòi lá, dòng suối đá với trăm hình con Voi êm lặng, sỏi đá lôm-chôm cây rừng mát-mẻ, ánh nắng vàng rạng-rỡ, lá rừng phe-phẩy như chào đón Thiền-Sư.

NAM-MÔ TRUNG-ĐẠO NHẤT-TÔN HỘI-THƯỢNG.

error: NAM-MÔ A-DI-ĐÀ-PHẬT
Phap Tang Phat Giao Viet Nam Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam Phap-Tang Phat-Giao Viet-Nam