GIÁO-NGÔN TRỰC-CHỈ
BÀI THỨ 19
So Vũ-Trụ với CON NGƯỜI, đứng về Tướng thì Vũ-Trụ rộng vô-biên. Con Người sống trên quả-đất, quả-đất với Vũ-Trụ thời lại quá nhỏ thì con người với Vũ-Trụ nó bé nhỏ như thế nào? Thế mà lấy một Hạt-Cát Đạo-Phật mang so với Quả-Đất nói Đồng-Đẳng như nhau về Thể-Chất. Nên Ấn-Chỉ Con Người cùng Vũ-Trụ Thể-Tánh như nhau không hơn kém, Phật-Đạo gọi Vũ-Trụ là Bản-Thể là nguyên-bản. Còn thuyết-minh về Thể-Tánh thì, tất cả Chúng-Sanh hay Chúng-Sanh-Tánh cùng Chư-Phật đồng-đẳng NGHE-THẤY-BIẾT.
Đối với bậc Giác-Ngộ thành Phật, vốn từ nơi đời, từ trong Con Người phát huy nguyên-lý-chân Bản-Thể Vũ-Trụ tu-đạt thành Phật, cho nên nơi Nghe, chốn thấy và tận-Biết Bao-La trùm khắp, vô-biên tận tận vũ-trụ đồng với Bản-Thể Chánh-Giác.
Còn Chúng-Sanh nơi Nghe, chốn Thấy và Biết có từng khía-cạnh hạn-lượng tùy theo mức-độ trở thành bất-đồng nằm trong bản-thể vũ-trụ mà lệ-thuộc Pháp-Giới Bị-Biết, bị-nghe đồng bị-thấy, do đó chưa đầy-đủ công-năng đức độ thu-nhiếp Vũ-Trụ Tam-Thiên làm thế nào Hiện-Giác? Phật-Đạo dạy ba Tâm năm nguyện. Phật-Pháp Vô-Biên thề-nguyện học. Vô-Thượng-Đẳng Chánh-Giác thề nguyện Thành, chủ-yếu khai-hoang Tâm-Chí rộng-rãi Nghe-Thấy-Biết Bồ-Đề-Tâm không thiếu-sót tận Giác.
Nhưng lạ thay. Đọc tụng rất rõ-ràng, lời vàng nơi thệ-nguyện, nhất-tâm không thiếu-Sót một Từ-Ngữ nào, mãi tu-hành chưa tiến bước, do đó Phật nói: Chưa bao giờ xem kinh-pháp, vì sao? Vì chưa bao giờ lãnh-hội đặng kinh, thì làm thế nào khai-hóa vô-minh qua từng lớp, để tự-biết những gì chưa đặng biết, mà nay đặng biết. Học những gì chưa nhận nghe mà nay đặng nghe Nhận, đến tự-biết chân-giác.
Đức Thế-Tôn còn tại-thế, Ngài tường-tận Con Người với Vũ-Trụ. Chúng-Sanh cùng Pháp-Giới Quả-Đất với Cành-Cây, cho đến Con Ruồi cùng Vị Trưởng-Giả quá ư bất-đồng từng lớp lớp. Duy chỉ có Thể-Tánh đồng-đẳng như nhau. Thể-tánh chính là Nghe-Thấy-Biết tuy nó có rộng hẹp lớn nhỏ nhưng đều nghe-thấy và biết sẵn có như nhau. Vì sự bất-Đồng kia nên chi chia ra từng tuổi thọ sống chết sanh-tử khác nhau trong mỗi lớp-lang thứ bậc, gọi là Túc-Mạng-Thông.
Ngài thật tỏ rõ Mạng-Sống nơi con người chưa đặng bao lâu thì Viên-Tịch. Còn Chân-Lý lại bất tận vô biên, Chúng Sanh thì lớp-lang trí-tuệ có hạn-lượng, sự sanh-tử thêm nơi dời đổi từng kiếp đổi thay, làm thế nào cho tất-cả Tứ-Loài Tận-Giác? Ngài mới sắp-xếp minh-thuyết chỉ dạy tường-tận thứ lớp hóa-giải đủ môn 49 năm khai-hoang Cái-Biết cho chúng-sanh đối với Bản-Thể Vũ-Trụ, Vạn Pháp di-chuyển Tâm-Sanh lầm-lạc chúng-sanh tứ-loài chưa thấm vào đâu, chỉ gieo-trồng hạt-giống Như-Lai vào tâm-khảm, trở thành Tam-Tạng-Kinh, Ngài thật biết nó chưa đủ với những bậc bê-trễ kém nhận chớ nó đầy-đủ với những bậc tỏ-biết lãnh-hội để mà tu. Ngài là Bậc Vô-Thượng Chánh-Giác, tỏ-thông tận thành với Bản-Thể Vũ-Trụ, lời vàng kia chưa thể thọ-lãnh của tất cả chúng-sanh, nên Ngài nói: Ta thuyết-pháp lời Ta chỉ dạy, không khác mấy với Lá-Cây-Rừng vô-lượng vô-biên, mà Ta chỉ nắm lấy một nắm lá rừng dạy các ông thôi, cốt để cho tất-cả nhận-chân được vô-biên trải qua các thứ lớp tận-biết mà Giác-Ngộ. Chính Bản-Năng nơi Ngài đã tận thấu Vũ-Trụ, Tận-Độ chúng sanh, tận dụng tất-cả rừng lá sử dụng làm thành môn-pháp cứu độ mà những bậc tín-tâm chỉ hưởng nhận mới một nắm Lá-rừng lần tu đến Tận-Giác. Chính các Chư-Tổ ra đời kế-tiếp, các ngài cùng một lý-trí bổ-sung, một là những điều chưa giải nói, hai là tùy thời ứng-dạy hóa-giải cho Nhân-Sinh, lời Chư-Tổ toàn lời Trực-Ngộ thật-chân, lời Trực-Ngộ chân-thật đều là lời thừa-hành chư-Phật diễn nói hay chư Bồ-Tát hiện-hành. Bằng lời tham-vọng dục-kiến tự-ngã nói ra thảy đều lời Ma-Ba-Tuần giả thuyết.
Mỗi một khi chư-Tổ đăng đàn minh-thuyết. Tín-Chúng tin-vâng lãnh-hội, thời những bậc nầy đã từng trải qua trăm cay nghìn đắng tuổi-thọ nơi Ngài đã gần xế chiều một kiếp, thành-thử có bậc giải-phân nhiều ít phải theo thời cuộc thăng-trầm trong nền-tảng Tôn-Giáo của thế-nhân ưa-chuộng hay chưa ưa-chuộng mà cứu-độ. Đối với chư Tổ cùng Đức Thế-Tôn duy-nhất có một lòng tận-tình cứu-độ, tận-dụng hết khả-năng của mình giúp-đỡ cho Tín-Chúng đủ mọi phương-thức không bao giờ nhàm-chán, không có óc Địa-Phương do đó mà không Thọ-Ngã. Chẳng khác nào: Bậc Đại-Lương-Y cứu chữa con bệnh không phân-biệt giai-cấp, chuyên-ròng phương-thức cứu chữa mà thôi.
Đến thời Hạ-Lai cùng một tấm-tình duy-nhất tận-dụng hết toàn-năng, nhưng thời-kiếp chia thành hai lối, vì sao? Vì Thượng-Sanh. Hạ-Kiếp. Con người thời Thượng-Sanh ưa-chuộng Danh-Giả hiền-lành mộc-mạc. Thời Hạ-Kiếp cần lấy cái sống sự-sống hiện-tại lại khôn-ngoan phần Danh-Giả trở thành danh-nghĩa tài-năng thực-tại, chia ra nhiều tư-tưởng hiếu-kỳ, từ ngành khoa-học cho tới tài phép thần-thông, thuyết-minh phải biện-minh lời truyền-thuyết. Phật-Đạo nếu như bậc chưa thông-đạt tận-thành, chưa Tứ-Hiện liễu đạt Vũ-Trụ với Con Người cùng hàng Tứ-Thánh làm sao minh-thuyết chứng-từ để mà diễn-đạt? Đứng nơi Danh-Nghĩa con người thời danh-nghĩa tự-tôn hiển-đạt. Còn Danh-Nghĩa nơi Phật-Đạo lại là Danh-Nghĩa tận-tường tận-giác Bản-Năng, do đó mà nhiều bậc tu-đạt tận-tường chưa gặp đặng thời Tự-Tôn hiển-đạt đành phải lặng lẽ nhập Niết-Bàn.
Khó khăn mâu thuẫn thay! Tận-Độ thời Hạ-Lai, Đạo-Phật những bậc tín-tâm, thâm-hiểu với từng bậc tối-đa hạn lượng, vạn-pháp thao-diễn vô-biên không hạn-lượng, nhiếp-tâm tâm vẫn tuôn mãi từng dòng, bằng an cư, chưa tận-thấu thời cái sống lẽ sống nơi tinh-thần kia nó chẳng khác nào nương nơi cánh nhạn mà sống. Những bậc Tín-Thành lần theo Tỏ-Tánh kia, hãy an-nhiên tu học chớ nên nản-chí nãi lòng, tuy nhiên tầm hiểu biết nó có hạn-lượng, tinh-tấn thu-nhiếp không ngừng, thời-gian đầy đủ công-năng đương nhiên giác-ngộ. Con người cùng Quả-Đất, cho đến Vũ-Trụ bao la nó có khác chi nhau, quả đất nó vẫn nương theo đường kính lần-lượt quay tròn, lý sự tuần-hoàn nhịp-nhàng của nó không sai chạy. Còn Vũ-Trụ vận-chuyển tuân-hành theo Thời Khóa Biểu, đo lường nhiệt độ chẳng tách-ly. Con Người thì thay đổi, đổi thay từng cơn nơi đầu óc nó nào phân-biệt dị-biệt bản-chất tánh hiểu biết chi đâu, đồng-hành đồng sự Vũ-Trụ với con người cùng Quả đất đồng đều qua từng giai-đoạn, được gọi là: Huyền-Cơ vận-chuyển, Thế-Giới diễn tuồng, con người sống theo Thời Cuộc, mặc dù nó khác nơi hình thức thời thế, từng lớp người đổi thay sanh-tử, nhưng thể tánh bổn-lai nơi con người cùng Vũ-Trụ như nhau, đâu sai khác, phần con người nhỏ bé, hạn-lượng hiểu biết từng phân-ly tỷ-lệ, do nơi hiểu biết như thế mới có quan-điểm theo thời-kiếp của mình mà tự-hào, tự-mãn nên mới tự-sanh cho đương thời nơi mình đang sống là thời hiện-đại văn-minh. Nào có ngờ đâu thời văn minh đã sẵn có từng thời xa xưa ngày trước?
Bậc Chánh-Giác, chính là Bậc đã tận-tường diễn-hóa Vũ-Trụ Nhân-Sinh, chia ra từng lớp lớp thọ-sanh thọ-báo thọ-nghiệp, thọ chủng mỗi nơi nơi, sự đòi hỏi than-van vui mừng sướng khổ qua từng giai đoạn .Cá-Nhân, Cá-Thể, Cá-Tánh của mỗi nơi, của mỗi con người đang đòi cái sống, đang lo chỗ sống cùng sự-sống, chính nó vẫn sống nhịp-nhàng theo Vũ-Trụ mà thôi.
Có những vận-chuyển thời-cơ, nhịp nhàng Vũ-Trụ với con người mới diễn-tuồng Thượng-Sanh Hạ-Kiếp. Chư-Phật Thị-Hiện tùy-thuộc Thời-Cơ, đồng-hành đồng-sự với tất-cả chúng sanh nơi hiện-kiếp mà cứu độ Tứ-Loài, nơi cứu độ nầy chính là lời Trực-Ngộ hóa giải lầm-mê, tùy mỗi một con người hay hàng hàng lớp lớp mà hóa-giải, cốt khai-hoang nơi lầm nhận đến thông-đạt tận-tường trực ngộ mà Chánh-Giác, nhưng thời cuộc Hạ-Lai Thượng-Kiếp thuyên-diễn khác nhau, mà nhất thiết Tôn-Chỉ Mục-đích thảy đều duy-nhất, do đó mới có Tự-Thán như sau:
THẾ TÔN Ngài thấu Chăng Ngài
Thượng-Sanh Hạ-Kiếp diễn hai tấm-tuồng.
Ngài Thái-Tử triệu đời vang tiếng
Tôi CƯ-NHÂN bốn biển nào hay
Vai mang bao đãy ăn mày
Khai-hoang TỨ-HIỆN phơi bày Tình chung.
THẾ NÀO LÀ TỨ-HIỆN HIỆN-GIÁC ?
TỨ-HIỆN HIỆN-GIÁC có Bốn Thể Cách Hiện:
Một là : ỨNG-HIỆN
Hai là : TRỰC-HIỆN
Ba là : CẢM-HÓA-HIỆN
Bốn là : THẬT-HÀNH THU-NHIẾP-HIỆN
ỨNG-HIỆN là Thể-Tánh Vạn-Pháp hiện trùm khắp Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-Giới, tùy nghi, tùy thuận-hiện mà Ứng-Hiện nên mới Hóa-Sanh Sơn-Hà Đại-Địa, Tam-Giới, Tam-Thiên, Cõi-Trời, Cõi-Tiên cùng lớp lớp không thiếu-sót. Nó từ nơi TƯ-TƯỞNG hiện, nơi TƯỚNG hiện, nơi THỨC hiện, nơi CẢM hiện, nơi XÚC hiện, nơi HÀNH hiện, nơi HỶ hiện, NỘ-ÁI-Ố. THƯỜNG-LẠC-NGÃ-TỊNH hiện.
Nếu như. Hỷ là VUI, xóa tất-cả buồn khổ để mà Vui an-trụ làm gốc thời Vui kia liền Ứng-Hiện chuyện phải trái chi cũng vui cười không ngớt trở thành loạn-trí. Bằng NỘ là Giận để trụ-xứ nó liền Ứng-Hiện khởi-sanh Nộ-Nạt tất-cả mọi sự việc, hung-cường đủ hoàn cảnh. Bậc tu-hành quan-điểm trừ Tà, diệt Ma phải sa vào Ngoại-Giáo. Còn nặng về ÁI Ố làm nơi Thương-Ghét, Thù-Hận, Mến-Yêu làm nơi an-trụ nó liền Ứng-Hiện Ái-Nịch, Ái-Dục cho đến nỗi va-chạm tình thương tự-sanh khóc-kể, tự khóc chúng-sanh lâm vào Loạn-Não Điên-Khùng chạy la than khóc. Ố-hiện là hiện-tượng Ganh-Tị, Hiềm-Tị, lúc đến giai-đoạn an-trụ nó liền Ứng-Hiện chống-trả hận-thù. Bốn Tướng Ứng-Hiện nầy, thuộc về TRẦM-TƯỚNG ỨNG-HIỆN, những bậc tu-hành non-yếu thường vấp phải bốn tướng ứng-hiện nầy.
Còn THƯỜNG-LẠC-NGÃ-TỊNH, nó lại có chốn Thăng và Trầm như sau: Bậc tu-hành tu-đạt đến Thường-Chân, Thường-Còn Bất-Biến mà an-trụ chưa Thông-Đạt Tỏ-Thông liền Ứng-Hiện Hoan-Lạc, do nơi Thọ-Ngã mà Tịnh chưa rốt-ráo Tận-Thành, đó gọi là Thăng-Trầm Ứng-Hiện.
Đối với Nhân-Sanh Tứ-Loài thường sống với CẢNH sanh TÌNH. Có Tướng nương theo Tướng mà sống. Bằng không Tướng thời biết lấy đâu nương-tựa đặng để sống, thành-thử sống nơi LINH-CẢM-HIỆN mà sống, gọi là Tư-Tưởng Lý-Tưởng-Hiện, Suy-Tưởng-Hiện, nó không ngoài ý-thức, trí-thức, cùng với Tiềm-Thức nên hư Thiệt-Giả, Tốt-Xấu, Được-Mất trong quan-niệm hiện. Lúc nó đang thao-diễn chưa trụ-xứ gọi nó là CẢM-HIỆN, đến khi HÌNH-THÀNH trụ-xứ mới cho nó là ỨNG-HIỆN, do đó mới có danh-từ: HIỆN-VẬT, THỰC-HIỆN hay HIỆN-HÀNH HIỆN-DIỆN.
Sự Thấy Biết của tất-cả Tứ-Loài, thấy biết nó không ngoài chốn-hiện bưng bít che-đậy, mới có Cảnh thời có một, nhưng Tình lại hóa ra nhiều nơi, tùy theo quan-niệm giai cấp trình độ hiện. Nghĩ như thế nào, suy như thế nào, tính như thế nào liền hiện theo không sai chạy. Khi đầy đủ Công-năng Đỉnh-Đạt thì nó Hiện-Giác. Lúc lầm-mê sai chạy đảo-điên đọng-vọng, nó liền hiện mê hoài-vọng ước ao gọi là Mộng-Tưởng điên-đảo.
Trên con đường tu Phật, phải tu đến Tri-Kiến Phật mới nhận thấy vết chân của Phật mà tu. Bằng tu chưa Tri Kiến-Phật thì chẳng bao giờ thấy vết chân nơi Phật mà tu, thì làm sao Chánh-Giác? Mỗi Một khi chưa hiểu, chưa biết thì làm thế nào kết-quả con đường tu Phật, do đó nên sự lãnh-hội Phật-Pháp tối cần cho các bậc tu-hành thọ-pháp chính là món ăn bất-diệt vậy.
Bậc Chánh-Giác tường-tận Thể-Tánh, tận-tường nhiễm trước nơi Chúng-Sanh-Giới cầu Tri-Kiến-Phật, sự tu-cầu thiết-tha thành-khẩn, nhưng ngặt thay dùng Ứng-Hiện tu-cầu làm sao nhận nhìn ngón tay Phật, nên Ngài nói :
Nhược Dĩ-Sắc Kiến Ngã. Âm-thanh cầu ngã
Thị Nhơn hành Tà-Đạo. Bất năng-Kiến Như-Lai.
Bằng dùng Hiện-Sắc thấy TA hay Âm-thanh cầu Ta, sự thấy làm nơi nhân-sinh sai-biệt, không thể nào thấy Ta, vì sao? Vì Như-Lai không có chỗ nào gọi là Đi hay Về, duy chỉ TRỰC-HIỆN mới nhận thấy TA mà thôi.
TRỰC-HIỆN và ỨNG-HIỆN vốn nó kèm nhau, nếu là bậc tu-hành biết sử-dụng Trực-Hiện làm một bước tiến từ Thế-Gian đến Xuất-Thế-Gian, từ nơi Hữu-Tướng đến Vô-Tướng đều công-dụng lấy nó, để kiểm-soát sáng-soi mở-mang Trí-Tuệ, nó cũng gọi là một con đường hóa-giải chấp-mê lần tiến Tri Kiến Giải-Thoát.
Những bậc tu Đại Thừa tự tánh tỏ-tánh, khi tư tưởng phát-hiện suy-tưởng không ngừng, tự lòng ham muốn, nghiệp-thức đảo-điên, liền công-dụng TRỰC-HIỆN đo-lường nghiệp-thức, hóa-giải lòng tham, làm như vậy, tu như thế gọi là: Nương theo Vạn-Pháp Tỏ-Pháp.
Những bậc chưa hiểu, chưa biết sử-dụng gọi là chưa tu trên con đường giải thoát thì con đường tu-hành thảy đều nương nơi HIỆN mà cầu-báo, cấu-tạo vạn-pháp tu-cầu vạn-pháp Ứng-Hiện Công-Quả cho mình, do đó nên chi Đạo-Phật mới có muôn-hình ngàn-tướng. Nơi muôn hình ngàn-tướng thảy đều cầu vái phụng thờ Chư-Phật Ứng-Hiện ban cho, đặng gọi là Sắc-Tướng Âm-Thanh Cầu-Ngã đã nói trên vậy.
Trên con đường tu Phật, đối với Phật Đạo tu như thế nào vẫn kết quả từng môn, không ngoài Thiện-Căn Thiện-Chí. Có những bậc Biết sử-dụng sáng soi, cấu-tạo nung đúc Trực-Hiện về với chính mình Tỏ-Tánh, nhưng thiếu căn bản Đạo-Đức vẫn vương vào sai-lạc Thiện-Chân, không khéo tu-hành thường đi trên con đường Dục-Kiến hay Kiến-Dục cũng thế. Nơi Thiện-Căn Đạo-Đức là cơ bản CẢM-HÓA HIỆN Dung-Thông, còn Kiến-Dục không Thọ-Ngã vẫn là nguồn-gốc Tự-Mãn trong con đường Ứng-Hiện, Dụng-Tướng mà cầu Sắc-Tướng đi trên con đường Tiên-Đạo. Thần-Thánh-Đạo chớ chưa rốt-ráo Thành Phật.
Một trong hai môn Ứng-Hiện và Trực-Hiện nó liên-hệ nhau, không Lấy cũng chẳng Bỏ, không nặng hay nhẹ mỗi một bên nào, vì sao? Vì Ứng-Hiện là TƯỚNG còn Trực-Hiện là TÁNH nên phải song tu. Bằng lìa Tướng Ứng-Hiện áp-dụng hóa-giải Trực-Hiện, hiếm bậc Phi-Đạo Suốt-Đạo thường vấp phải Tăng-Thượng hay Chân-Không đến nơi Không Chấp bị Chấp-Không đó chính là giữa thời Hạ-Lai thường lâm vào nơi Không-Chấp Chấp-Không trong con đường Chứng Tu mơ màng chưa lối thoát.
Nếu Nhất-Tâm về Tướng Hiện, thời tu đến Thường-Tưởng bước qua trạng thái Định-Tưởng tu luyện Thần-Thông tự chính mình chưa tỏ ngộ phải riêng sống trong trừu-tượng mà cầu chứng Hữu-Vi sa vào Ngoại-Giáo.
Hai môn nầy rất trọng yếu trên con đường tu hành, vì sao? Vì Ứng-Hiện về HỮU-LẬU Công-Quả. Còn Trực-Hiện về VÔ-LẬU BÁT-NHÃ thuộc về Công-Năng. Lại nữa: Trực-Hiện Tam-Muội Pháp-Môn, còn Ứng-Hiện thuộc về Định-Tưởng Sắc-Pháp Thần-Thông diễn-đạt, do đó mà hai môn nầy không Cấu mà chẳng có Ly. Nếu Cấu nắm bắt giữ gìn hay Ly là xa-lìa vứt-bỏ thảy đều sai lạc.
Các bậc tu có lý-trí nhất-tâm, thiết-tha-tâm tu-cầu giải-thoát. Sự tu hành lấy bỏ chưa thông nơi Tăng-Giảm chưa Hoàn-Mỹ, nên tình-trạng nặng nhẹ chẳng Quân-Minh thành-thử khó-khăn Hiện-Giác, do đó nơi Kim-Cang-Kinh Phật dạy các ông hãy lìa Bốn-Tướng Giải-Thoát. Thế nào gọi là Bốn-Tướng? Thiên-Tướng. Nhân-Tướng, Chúng-Sanh-Tướng cùng Thọ-Giả-Tướng gọi là Bốn-Tướng Giải-Thoát. Như thế vẫn chưa đủ, vì sao? -Vì nơi Hiện-Giác chớ chưa hẳn rốt-ráo tận-thành mà Chánh-Giác, nó rất cần cho Trí-Tuệ dung-thông bao-dung chung khắp nên phải tu-trì pháp-môn CẢM-HÓA-HIỆN, thực-hành trong bước đường đã trải qua nơi Ứng-Hiện và Trực-Hiện cốt Kiến-Tạo Tự-Lợi cùng Tha-Lợi cho tất-cả chúng-sanh, tất-cả Tứ-Loài từng lớp đặng Tri-Kiến Hoàn-Mỹ, thời chính mình Sở-Đắc Chánh-Giác nơi Căn-bản THẬT-HÀNH CẢM-HÓA-HIỆN tương-song CHÁNH-GIÁC.
Hay thay. ỨNG-HIỆN khắp Trùng-Dương
TRỰC-HIỆN là Môn-Pháp Cúng-Dường
CẢM-HÓA HIỆN-HÀNH thu-nhiếp hiện
THẬT-HÀNH TẬN-HIỆN thấu Khôn-Phương.
NAM-MÔ TỨ-HIỆN TỲ LÔ GIÁ-NA-PHẬT.
Kỷ-Niệm mùa Trăng-Tròn. Tháng Tám
TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN