BÀI THỨ BA MƯƠI
NHƯNG TA CÓ THỂ NÓI:
TÂM có một, nhưng Ta có thể nói là Tâm-Pháp, Tướng-Pháp hay Tâm-Thức cùng Như-Lai-Tạng, do đó Tâm không có chỗ chỉ, vì cùng khắp liên kết chung gồm.
Ta đứng về TƯỚNG thì Ta có thể nói, các Tướng-Pháp tiêu-biểu cho Tâm. Ta suy-nghĩ về Tâm thời Ta có quyền nói: Do Tâm sinh Vạn-Pháp nên gọi là TÂM-PHÁP.
Khi Ta phân- biệt các pháp tỉ-mỉ để nhận biết Ta nói là: TÂM-THỨC, nhưng Ta có thể cho là Ý-Thức. Lúc Ta nếm-ngưỡi Hương vị hoặc Nắm-bắt đụng chạm sự: Nóng-Lạnh, Chua-Chát, Ngọt-Bùi, Đắng-cay thời Ta nói do Như- Lai-Tạng đồng ứng Thân-Tâm phát sanh THẤY-BIẾT.
CHUNG LẠI: Tâm Bất-Nhị Bổn-Lai Diện-Mục đứng yên không di chuyển Động-Tịnh. Cũng như: Nước là Nước chớ không có SÓNG nên Tâm không thể chỉ hay nói hoặc phê-phán. Nếu chỉ hay nói cùng phê- phán đến nó, thì nó liền ngăn-cách dị-biệt trở thành nhiều lối phiên diễn mà có SÓNG-CỒN. Tâm bị chỉ, bị phân gọi là Tâm điên-đảo Loạn-Tâm.
Khi Ta đã bị Tâm Loạn-Tưởng thì Ta phải ngược-chiều tu hành trở lại về Tâm, bằng cách nhiếp-thâu các Pháp, hay chịu đựng các Tướng-Pháp Thuận-Nghịch để ngự-chế TỊNH-TÂM, làm cho Tâm-Thức bớt xao-xuyến. Lại có cách thường Quán Như-Lai-Tạng suy-ngẫm đến suốt-thông sự chung gồm của nó mà biết được nó chính là TÂM mà đoạt đến BẢN THỂ-TÂM, lại đi trong Hạnh-Nguyện Độ-Sanh đến Tâm- Thông cùng thi-hành Lục-Ba-La-Mật-Đa chẳng Sở-Chấp để về TÂM-KHÔNG Bất-Biến CHƠN-TÂM VIÊN- MÃN.
TÂM THÌ CÓ CHỪNG ĐÓ.
Nhưng các Bậc tu nó cứ loanh-quanh khó hiểu, khó lãnh hội thâm-nhập, phải nương tựa các Pháp để tu, cốt sao Tỏ-Pháp liền Tỏ-Tâm. Bậc như vậy gọi là biết tu.
Bằng chưa biết, hay chẳng chịu biết, thời trong lúc tu nơi pháp, liền Chấp-Pháp để Tu-Luyện củng-cố lấy pháp vội cho là Chánh-Đáng, thì thử hỏi Bậc ấy làm sao Tỏ-Tâm đến rốt ráo?
Sau đây Ta thử đứng về Tâm-Pháp tự suy-ngẫm nó ra sao? Thì nguyên nó cũng là TÂM, bậc biết nó một THỂ-TÂM thì nhập về Tâm, vì nó không hai chẳng sai khác.
Bằng Bậc chưa biết hay không chịu biết, đem phân-biệt bên trong, bên ngoài với ý-nghỉ Chủ-Quan, liền bị hai-tứơng Dị-Biệt trở nên TÂM-PHÁP và TƯỚNG-PHÁP. Sự loanh-quanh đó tự mình Chủ-Xướng phân biệt nên mờ tối phải đi tìm Tâm, đó là nguyên-nhân thứ-nhứt.
Đây đứng về TÂM-THỨC Ta tự suy-ngẫm nó ra sao? Nó chính vẫn là Tâm. Những sự nhận biết của nó vốn-sẵn. Cũng như: Có GiÓ thì phải có SÓNG, có Nước thì phải có Giá-Lạnh hay Mát. Nên Tâm-Thức di- chuyển lần đi để Ta tự-biết nó sẵn như thế, nếu Ta lần theo tỷ-mỷđể biết thì Ta đến tận-biết nó có một mối về Tâm.
Bằng Bậc chưa biết, hay chẳng chịu biết, tự sanh rụt-rè quái ngại vì sợ đảo-loạn, coi nó như vật phân- biệt đảo-điên, nên không nhờ nó đặng soi-biết mà đi đoạn trừ TÂM-THỨC. Bởi lầm cho nó là Ý-THỨC NỊNH-THẦN mà chẳng quan-tâm suy-nghĩ đặng biết, trái lại ngăn-cách để tu bằng lối TẬN-DIỆT cho Thanh-Tịnh hơn là Tỏ-Biết. Thì làm sao Tỏ-Pháp đến Tỏ-Tâm rốt-ráo Bản Thể-Tâm? Đó là nguyên-nhân thứ hai.
Đây Ta đứng về NHƯ-LAI-TẠNG bày tỏ sự NGHE-THẤY-BIẾT để nhận xét nó ra sao, có phải là Tâm chăng?
Khi Ta đụng chạm vào Lửa thì Ta liền biết Nóng. Lúc Ta sờ vào Nước-Đá thời Ta biết Lạnh. Ta vịn nơi MỊN thì biết nó XỐP. Ta cầm nắm ĐÁ hoặc SẮT, Ta liền biết nó Nặng và Cứng. Chung lại từ va-chạm đến vấp-đánh thảy đều biết cả, chớ không thể chỉ hay nói CÁI-BIẾT nó ở đâu, vì đâu nó cũng có ở.
NÓI ĐẾN CÁI THẤY-NGHE-BIẾT.
Nếu Ta nhìn thấy trái CHANH trước mắt màu XANH, Ta nếm Chanh liền biết Chua. Ta nhìn thấy ĐƯỜNG-CÁT nó màu vàng hay trắng, nếu Ta nếm thì nó ngọt. Ta nhìn MUỐI thấy nó có từng hột trắng. Ta nếm nó mặn. Tất cả nhìn thấy, nếm biết, từ cay-đắng hương-vị màu-sắc nó đồng hợp với Ta trở thành THẤY-BIẾT chẳng thiếu sót. Nơi NHƯ-LAI-TẠNG đều là TÂM.
Bằng nói đến CÁI-NGHE Ta có thể nghe từng tiếng-Chuông, tiếng trống, tiếng-kèn, tiếng-phách, cùng tất cả các tiếng khua-động chẳng có thiếu sót. Bậc biết NGHE, biết nhận-định tìm hiểu cái-nghe sau mới rõ sự Nghe cùng Thấy-Biết liên-hệ hữu-hiện Tự-Tánh đến Tỏ-Biết, gọi là TÌM ĐẶNG CHƠN-TÁNH để tu. Trong một thời-gian tường-tận hết nghi mà Sở-Đắc CHƠN-TÂM TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT.
Bằng chưa biết hay không chịu biết. Bậc ấy có một quan-niệm tìm cao-siêu cầu-kỳ, hay tìm Chơn-Tâm theo lề lối Viễn-Ảo, mộng tưởng cứu cánh giác-ngộ, bằng theo sở-thích của tư-tưởng mình, rồi tự mơ- màng tạo thành TÂM-TƯỞNG để cấu tạo ĐỊNH-TƯỞNG liền sa nơi Tuệ trong-tưởng, đến Nhãn Tưởng, Hương-Tưởng, Pháp-Tưởng cùng tất cả sự sự giao-động đều tưởng đến XÚC-TƯỞNG, nó đi mê mờ Chơn-Tâm vượt đến DỊ-BIỆT, sống trong hoài-mơ vọng loạn BA-CÕI SÁU-ĐƯỜNG chạy theo Sanh-Tử của TÂM.
SAU ĐÂY TA CÓ THỂ NÓI:
CÁC BẬC NGHE và TÙY-THEO LÃNH LẤY GIÁC-NGỘ TÂM.
Một trong Bốn giai-đoạn. Khi Ta nói về TÂM-PHÁP, TƯỚNG-PHÁP hay TÂM-THỨC cùng NHƯ-LAI- TẠNG, hoặc nhiều hơn thế nữa. Miễn các Bậc TIN-VÂNG thọ-lãnh thì có thể biết TÂM. Tỏ-Tánh được thông-đạt các Pháp cùng Tâm cặn kẽ an-vui khen tặng tán-thán và đặng GIÁC-NGỘ.
Đó chẳng phải là TA mà không phải TÂM. Nhưng cũng thật là TA, cũng thật là TÂM, nên mới có sự thể biết thông như thế.
ĐIỂM NHỨT: TA NÓI VỀ TÂM-PHÁP.
Các Ông được nghe, liền mừng-rỡ mà tự nói rằng: Phải rồi, phải rồi. Do TÂM-PHÁP nơi Ta, Ta lại nghi- ngờ sự di-chuyển nên mơ-màng mà chẳng nhận ra sự hiện diện SƠN-HÀ ĐẠI-ĐIẠ chung-cùng Cảnh-Vật vốn nó đều là TA. Không khác mấy với kẻ nằm CHIÊM-BAO, kẻ ấy thấy trong giấc mộng có những Chùa- Tháp và Chư-Tăng đang tế-Lễ. Đến khi tỉnh mộng thời tất cả đều tan mất, thì thử hỏi nó trở về đâu? Đối với Ta cùng Cảnh-Vật cũng thế. Bởi Ta lầm không biết nhận nên trở thành Dị-Biệt SƠN-HÀ bên ngoài, không phải nó là Ta, nên Ta có nơi nghi, từ nghi ấy đâm ra tìm kiếm TÂM của Ta, mà chính TÂM Ta trước mặt không nhận. Phải tìm TÂM Ta trong hư-không vô tận, cầu mong sự ban cho vô lối tín mê. Nay Ta được nghe mà Ta được biết Thân-tâm ngoại vật đều là TÂM, tâm đó chính là Ta cùng là tất cả. Liền hết nghi Sở-Đắc CHƠN-TÂM BẤT-NHỊ.
ĐIỂM NHÌ: TA NÓI VỀ TƯỚNG-PHÁP.
Khi nghe Ta nói TƯỚNG-PHÁP tỏ rõ. Các ông được Nghe liền mừng rỡ tự nói: Phải rồi, phải rồi. Do nơi chướng-ngại ngăn-biệt, cùng ái-nịch Chấp-Ngã của Ta, riêng dành nó tự trở thành đắm trong NGŨ- DỤC Tham-Sân-Si nên thân-tâm bị hèn yếu eo-hẹp mà si mê, do đó mà Cái-Thấy ngăn-ngại Tốt-Xấu Thuận-Nghịch, Thiện và Bất-Thiện để ưa-thích cùng không ưa-thích tạo nên NGHIỆP-CẢM chướng-đối, vì vậy mà đường tu-hành chập-chờn biếng-trể. Tâm xao-động đảo-điên. Nay Ta được Nghe và được Biết TƯỚNG-PHÁP và TÂM-PHÁP vốn đều là TÂM, thì Ta chẳng chướng-ngại trong-ngoài dị-biệt. Ta đã Phát- Bồ-Đề-Tâm rộng-rãi nay Ta hãy thực-hành rộng-rãi và phá-chấp ngăn-ngại đặng cho Lý-Sự Đồng-Song mà đến CHƠN-TÂM rốt ráo vậy, nhờ thế mà giác-ngộ.
ĐIỂM BA: TA NÓI VỀ TÂM-THỨC.
Các ông được Nghe, liền mừng rỡ tự nói: Phải rồi, phải rồi. Do sự chưa biết lầm lẫn nên ta khởi diệt TÂM-THỨC, cho nó là pháp động-vọng nào ngờ chính Tâm-Thức vốn là Tâm-Ta, thể-tánh tâm-thức sẵn có sự di-chuyển cốt để đưa Ta đến hiểu-biết Sáng-Soi mà tìm đặng Chơn-Tánh tu đến Tự-Tánh thường- còn. Thật tuyệt-mỹ khó nghĩ bàn đến sự tác-dụng của Tâm-Thức. Nếu đối với Bậc biết nương nhờ sử- dụng thì nó là cứu-cánh Giải-Thoát. Bằng chưa biết thì trái lại đi diệt trừ đã chẳng lợi chi mà tu-hành phải chịu loanh-quanh nơi mê lầm xó tối. Đó chính là điểm rất cần cho ta công nhận để sử dụng Tâm- Thức mà đoạt đến TÂM BẤT-NHỊ vậy.
ĐIỂM TƯ: TA NÓI VỀ NHƯ-LAI-TẠNG.
Các Ông được Nghe, liền mừng rỡ mà tự nói rằng: Phải rồi, phải rồi. Như-Lai-Tạng chung gồm tất cả Tâm-Pháp, Tướng-Pháp cùng Tâm-Thức điều động đụng-chạm ngưởi nếm mà đặng sanh ra NGHE-THẤY- BIẾT trùm khắp Bất-Nhị. Do Ta lầm lẫn nên đem nó mà DỊ-BIỆT đoạn phân từng phần mà Ta phải mê mờ nơi DỊ-CHỦNG, vì vậy Ta công nhận Cái-Ta nơi thân-tâm nhỏ-bé, vứt bỏ một Nguyên-Thể Như-Lai-Tạng rộng lớn bao la trùm khắp. Nên Phật thường nói rằng: Ta bỏ biển-cả không nhận mà đi nhận lấy bọt nước. Nay Ta được nghe và biết Như-Lai-Tạng cũng vốn là Tâm, đồng hợp đồng ứng tương sinh liên-hệ với thân-tâm sanh ra NGHE-THẤY-BIẾT nó không hai như Ta lầm tưởng. Bởi sự lầm ấy mà Ta ĐOẠN-DỊ- DIỆT, chớ thật ra trong ngoài đều sẵn, chẳng có DỊ-DIỆT phân chia chung cùng Bất-Nhị.
VÍ NHƯ: Ta nhìn THẤY con Chim-Én trên hư không, thì Ta không nên hỏi, tại sao Ta thấy? Đó là điên đảo. Nếu Ta nói, tại cặp Mắt Ta thấy, hay tại con Chim-én trên hư-không mà ta thấy? Đó chính ta lộn- xộn, vì sao? Vì có cặp con mắt nơi ta sẵn, mà chưa có con Chim-én trên hư-không thì làm chi ta được thấy? Bằng có con Chim-én trên hư-không nhưng ta chưa gặp nhìn thấy thì làm sao thấy?
Nên khi Ta đã nhìn thấy rồi, thì dù cho con Chim-én bay nơi khác, hoặc ta có bịt mắt chăng thì Cái- Thấy ấy vẫn còn nơi tròng con mắt ta. Cũng như: Có một người to-lớn trắng trẻo uy-nghi, đứng trước mặt ta, ta đã Thấy rồi, khi người ấy đi trong một hai năm chăng, nếu có kẻ nhắc lại thời ta nhớ và vẫn nhìn thấy người to-lớn trắng trẻo đứng trước mặt ta. Như thế là cái Tánh-Thấy của ta không mất, vì sao lạ vậy? Vì nó chính là Tánh-Thấy CHƠN-TÂM DIỆU-MINH Thường-Tịch Như-Lai-Tạng, nó chẳng phải tự- nhiên hay như-nhiên, nó vốn bất-nhị chung cùng đồng hợp lúc đụng-chạm giao-cảm mà có. Khi đã hợp rồi thì dù cho hư-không kia hay con Chim-én nọ nó không có trước mắt nữa thời ta cũng có thể Thấy trước mắt trở lại không bao giờ mất là vậy.
Còn nói đến sự Đụng-Chạm, Nếm-Ngưởi, nó cũng không phải là biệt hẳn bên ngoài, mà nó chẳng phải phần riêng hẵn bên trong Thân-Tâm nơi Ta. Chính nó đều sẵn viên-dung trong-ngoài đồng hiệp thành ra THẤY-BIẾT, do đó từ một khẻ động trên đầu ngón tay của ta nhịp hay cọ xát thì liền có Cái-Biết nơi cọ-xát. Như ta vấp phải viên-đá ở đầu ngón chân,thì giữa viên đá đồng cái vấp nơi chân nó liền có cái biết đau, Ta cùng viên-đá.
Khi Ta nếm đến Cay-Đắng, Ngọt-Bùi, Chua-Mặn thì giữa vật cùng Lưởi giao-động đồng-hợp tương- ứng phát ngay cái-biết. Cái-Biết ấy nó sẵn có nơi toàn thân-Ta và cùng khắp NHƯ-LAI-TẠNG, Cảnh cùng Vật ngoài chung trong không thiếu sót, đến sự Mưa-Gío, Nóng-Lạnh tê-tái thanh-thô nặng-nhẹ, đến từ cảm-nghĩ nhiều ít giữa ta và Sơn-Hà Đại-Địa đồng-nhất, không riêng khác cùng ta với sự NGHE-THẤY- BIẾT đều là TÂM-TA cũng là NHƯ-LAI-TẠNG bất-biến không hai của TA và cũng Ta tất cả.
TA CÓ THỂ NÓI: TÂM NÓ CHUNG-GỒM NGHE-THẤY-BIẾT.
TÂM-PHÁP. TƯỚNG-PHÁP. TÂM-THỨC cùng NHƯ-LAI-TẠNG, từ một lời đến vạn lời hay các Môn tu- hành, lớn-nhỏ rộng-hẹp và các phương-tiện trong ngôn-ngữ cử-chỉ đến hành-động hạnh-nguyện trùm khắp, Ta có thể nói nó thảy đều là TÂM chung gồm NGHE-THẤY-BIẾT.
VÍ NHƯ: Một trong hai Bậc tu-hành. Có Bậc tu, đã hiểu-biết hay biết hơn thế nữa. Bậc ấy biết tận từ tuyệt-mỹ thâm-diệu rốt ráo Tâm-Pháp và Tướng-Pháp, Tâm-Thức cùng Như-Lai-Tạng cặn kẽ tỷ-mỷ, mà Vị đó hiện tại thi-hành BỔN-NGUYỆN độ-sanh thì đều là TÂM. Đến mãn-nguyện nhập Đại Niết-Bàn mới thành Phật.
Còn một Kẻ kia chưa biết Bốn Pháp Tâm, Tướng-Tâm, Thức Tâm và Như-Lai-Tạng. Nhưng Kẻ ấy tin- tưởng hết sức niệm danh hiệu: A-DI ĐÀ-PHẬT, thì vẫn được là TÂM chừng mãn kiếp cũng được Thành- Phật. Vì sao? Vì lớn nhỏ rộng-hẹp đều là TÂM. Duy chỉ có công-năng tận-biết Nguyện-Lực rốt ráo trường- tồn thôi.
Một trong hai Bậc trên thảy đều chung gồm có nơi NGHE-THẤY-BIẾT đều là TÂM cũng là NHƯ-LAI- TẠNG, Bậc chưa trọn-biết nhưng vẫn Nhất-Tâm mà Thành-Phật, thời PHẬT NƠI TÂM. Bậc rốt ráo biết tận cùng đều NGHE-THẤY-BIẾT chung khắp đoạt Bản-Thể Chơn-Tâm Thành-Phật, thì PHẬT là PHẬT.
CŨNG NHƯ: Có một BIỂN-CẢ, biển ấy của Vị TRƯỞNG-GIẢ. Khi bấy giờ có một trăm ngàn người đến xin Nước-Biển, kẻ thì đem chén để múc, Người thời đem gàu để múc, kẻ đem tô để múc họ đem đủ thứ dụng-cụ để múc nước biển. Thì thử hỏi đồ họ đến múc xách mang về có phải chung một gốc Nứơc Biển không? Đối với Tâm rốt ráo và Tâm-Niệm cũng thế, cùng với sự Thành-Phật cũng vậy. Tuy nhất-tâm chưa biết và đối với Bậc rốt ráo không sai khác, nhưng nó vẫn sai khác nơi tận-hưởng và chưa được Tận- Hưởng nhiều ít, bền hay không bền thôi. Bởi tùy theo Công-Năng và Công-Đức của mỗi Bậc trọn đến hoặc chưa trọn đến CHƠN-TÂM VIÊN-TỊCH mà ở nơi Tâm phiên diễn.
NÊN PHẬT NÓI: Tất cả Nhất-Tâm thảy đều Thấy-Phật và gặp Phật. Nhưng Phàm-Phu thấy Phật, thì Phật của Phàm-Phu. Tiên-Thần thấy Phật thì Phật của Tiên-Thần. La-Hán thấy Phật thì Phật của La-Hán. Bích-Chi thấy-Phật thì Phật của Bích-Chi. Bồ-Tát thấy Phật thì Phật của Bồ-Tát. Đến chừng Phật thấy Phật mới là PHẬT.
Lời nói trên thời Ta đủ biết. Tâm thì có một nhưng phần tu tập thành tựu lấy Tâm nhiều ít tùy theo TU-CHỨNG mà đến nơi tận-hưởng. Đối với Bản Thể-Tâm trùm-khắp viên-dung bình-đẳng. Chỗ nào nó cũng ở, mà nó không đâu chẳng ở, do thế mà TÂM chẳng có chỗ chỉ, đương nhiên sanh Tâm.
Nếu Ta vừa khởi TÂM-PHÁP, liền có Tâm trong Tâm-Pháp. Bằng Ta nghĩ Tướng-Pháp liền có trong Tướng-Pháp. Nếu ta cho nó nơi TÂM-THỨC, liền sanh nơi Tâm-Thức. Bằng Ta nhớ đến Như-Lai-Tạng trùm khắp, thì nó liền thung-dung vô-ngại, lúc đến khi không trong Như-Lai-Tạng. Từ một khởi niệm Tâm liền ứng theo khởi niệm, từ một Quán-Tưởng Tâm liền đồng trong quán-tưởng. Do đó các Bậc tu-hành từng lớp như: TU-TIÊN, TU-THẦN, TU-THÁNH, Tu-Phật nơi nơi cũng ngỡ mình Tu-Phật, vì sao? Vì thờ- Phật tưởng-niệm Phật mà sự đòi hỏi nơi Tâm lại nặng về Tiên-Thần-Thánh hay CÔ-BÀ, thời Tâm kia của mình nó phải vì mình mà ứng hiện theo CÁI-MUỐN.
TÂM chính là của Mình, mà trái lại mình đi tìm TÂM? Nếu Mình mong muốn, thì Tâm mình nó phải tuân theo mình. Vì mình lầm chưa biết nó, nên mình phải cầu-lụy van xin. Khi mình được biết, thời mình lại khen tặng thích thú, cho đó là vi-diệu.
Tất cả sự phiên diễn, mình đã tạo biết bao cảnh để diễn-tuồng hư-thật và thật hư, nơi Tâm của mình mà mình chẳng hay biết, vậy mình phải cố gắng để đoạt đến Thật-Biết, thì Chân-Thiện-Mỹ sẽ hoàn lại cho ta vậy.
VỀ – TÂM.
Tâm ta, ta chẳng rõ thông
Ta cùng Tâm diễn, bềnh-bồng Giới-Sinh
TÂM-KHÔNG chưa phải lặng trong
Tỏ-Tường chu-đáo, mới hòng Viên-Minh
Cũng Ta khắp chốn, cũng Mình
Vẹn chung tận biết, Lộ-Trình vốn Ta
NAM MÔ PHỔ-HIỀN ĐẠI-HẠNH VÔ-TẬN BỒ-TÁT MA-HA-TÁT
BẢN ĐÃ DÒ BẢN GỐC
