Đời là nửa mảnh triền miên ………
Đời cũng là tươi đẹp thường-còn bất-biến tuyệt vời Chân-Thiện, cùng khắp Vũ-Trụ đều là Thường-Chân. Ngược lại: Vũ-Trụ cũng là bao-phủ triền-miên bất-tận . . . . . Kẻ đi tìm Chân-Lý cùng Chân-Đế, cố đào-tạo đến chỗ Thường-Còn Bất-Biến, thời nó liền Bị-Biến bao trùm . . . . .
Duy chỉ có kẻ bình-dị hay Thánh-Tăng mới thỏa-mãn, Trong ngoài và Vũ-Trụ cùng Nhân-Sinh, còn kỳ dư chính nó là: Đời, nó là Vũ-Trụ, Nó vẫn Triền-Miên vô tận vậy.
Triền-miên hay cứ xuôi dòng . . . . . . . .
Càng đi tìm mãi thêm tròng cơn mê.
Vì-Sao Ngọn-Núi trông kề
Mãnh đời tuôn chảy tỉ-tê nơi lòng . . . . . .
Nghe tiếng xao-động trên cành lá. Hay mặt nước dợn lăn-tăn, vạn-vật khoe mình giữa buổi triền-miên . . . . . Gió hiu-hiu mát-dịu, hư-không ru-mộng êm-đềm, tất-cả nương-chìu trong lúc triền-miên . . . . . . Có những cơn mưa tầm tả, các loài ủ-rủ vì gió lạnh. Cũng có loài mừng-rỡ được ấm-no. Nó cũng gọi là: Nửa giòng Xuôi-ngược . . . . . . Nó chen-lấn đủ thứ dọc-ngang xuôi-ngược để mà triền-miên . . . . Lại bao tiếng khóc lẫn giọng cười, pha lẫn cái cực và sướng, vui buồn khi ẩn lúc hiện để mà triền-miên xuôi chảy . . . . . Khi nó ngược vui, lúc nó xuôi-buồn, nó thuyên diễn không chừng để mà triền-miên, vì vậy mà có lúc:
Cá thỏa tung mình khi ngập nước
Ve lo bỏ xác lúc mưa non.
Vũ-Trụ xoay-chiều mưa, gió, nóng, lạnh nên có bốn mùa, nhưng chỉ có tàn và mọc . . . . . Khi một mùa tàn . . . . Cái vui-sướng của loài vui sướng hết . . . . . . Lúc một mùa khởi mọc, thì hoàn lại, loài khác được ấm-no êm-ái. Vì có tàn và mọc xoay-chuyển, từng loài sanh và diệt, diệt lại sanh của chuyển hướng bốn mùa. Các loài cũng vui vẻ lo-âu sợ-sệt sướng-khổ buồn-vui, đồng phụ họa trong buổi triền-miên vô-tận . . . . Như mùa Đông bằng chứng cho sự cuối năm, cũng mô -tả sắp-dứt cho một kiếp già-nua yếu đuối . . . . Sang xuân lại nảy-nở tượng trưng trẻ-trung đầy sự-sống, Cũng lại là buổi đầu năm. Nó xoay-chuyển hết đầu đến cuối, giảm mạnh đến yếu, bao-trùm quanh-quẩn của triền-miên.
Vũ-Trụ cũng đồng một chiều với Nhân-Sinh in nhau không sai khác. Vũ Trụ lấy thời-gian và không-gian đo lường. Nhân-Sinh lấy Năm, Tháng làm kiếp, cứ tuần-hoàn xoay-chuyển chẳng hơn kém đến sự kết-quả của nó cũng hoàn-Không . . . .Vạn-vật từ nhỏ đến lớn, từ cao đến thấp, từ núi-non hay hang cùng hoặc mương nước, các loài vạn-vật đều một khuôn in nhau không sai khác.
So-sánh non-sông với cánh đồng
Các loài Kiến-Bọ biết hay không
Vui-đòan đưa đón đây kia nọ
Khổ-Sướng như nhau Thể vẫn đồng.
Nhìn vào Vũ-Trụ bao-la rộng lớn với nhân-sinh đang phô diễn . . . Lại ví với hư-Không vô-tận, thì vũ-trụ kia chẳng khác nào hạt mồ hôi . . . . .
Cảnh trời nắng gắt-gao như thiêu-đốt, chỉ-làm cho muôn vật và các loài khổ-sở bức-rức hay chết khô trên bãi cát vàng . . . . . Đối với Trời-Đất bao la như vậy, thì chỉ một vi-tế trong cõi Ta-Bà . . . . Ta đứng hay Ngồi? Đi hay chạy? Đều là triền-miên, chẳng chi là thực cả. Ôi! Giòng Đời nhỏ quá, chẳng khác nào một nhóm con lăn-quăng đang múa-men nơi vũng nước đọng . . . . . . Thử đem sự triền-miên của vạn-vật so-sánh với triền-miên của vũ trụ in nhau không sai khác.
Mỗi một bước đi là ảo-mộng bao trùm của triền-miên . . . . . Tất-cả đều nhọc-nhằn sướng-khổ vui-buồn, nhịp-nhàng lẫn-lộn chen-chúc kéo dài không bao giờ ngừng nghĩ trong khuôn-cảnh triền-miên . . . .
Khen ai khéo vỗ nên khuôn.
Gây chi? Sinh cảnh để luồn triền-miên . . . . .
Gây chi? Sinh cảnh để luồn triền-miên . . . . .
Phân chi? Từng kiếp trao duyên.
Nhất-Nguyên chẳng chịu, chịu liền tư danh . . . . . .
Nhất-Nguyên chẳng chịu, chịu liền tư danh . . . . . .
Nọ kia đây khác tranh-dành.
Lối ngăn Bị Biệt, bức mành triền-miên.
Lối ngăn Bị Biệt, bức mành triền-miên.
Tất cả đều diễn tấm-tuồng HƯ-THIỆT-CÓ-KHÔNG để vạn-vật triền-miên xuôi chảy không bến bờ. Tất-cả đều triền-miên không lối thoát . . . . . Đứng vào ngàn phương vô-tận vẫn là triền-miên . . . . Đi vào cảnh-giới chân-thật là hoài-ảo . . . . Gò-bó để hướng lấy Thần-Thông Bất-Diệt lại Bị-Diệt . . . . Trái-lại càng vùng-vẫy càng tròng thêm cái mù-mịt của triền-miên . . . . . Thử tìm sự công-bằng chánh-đáng. Ngược lại không công-bằng chánh-đáng. Vì nó đang ở trong triền-miên. . . . .
Tìm trong, lóng sạch để làm chi?
Đang lúc triền-miên có nghĩa gì?
Xuôi ngược lộng hình trong ác tạo.
Múa-men gầm hét gẫm cuồng-si.
Có những buổi bình-minh, vừng Thái-Dương vừa rựng sáng. Cây cảnh phơi mình dưới ánh trời non, lại có những đám mây giăng trên ngọn núi, như vừa bừng tỉnh giấc thâu canh. . . . . .
Lại có những đêm trăng soi vằng-vặt trên mặt nước lăn-tăn, muôn ngàn con Rắn vàng dồn dập đùa-giỡn tuôn theo những chiếc ghe đang lướt chạy . . . . .Tất-cả Cảnh và vật xuôi diễn đêm và ngày có thật thế không? Hay là ảo-tượng? Hay buổi triền-miên thao-diễn? Hay nó là con Thoi chạy nhảy trên khuôn cửi để dệt nửa mảnh hàng nhung? Nên Mới có Đêm, Ngày, Sáng, Tối. Đến như các loài chịu thường No-Đói quẩn-quanh lại thêm cái Hơn-Thua hoặc Được và Mất, thành-thử chen-lấn tranh-dành, chẳng khác nào trên nước trổi thành Cuồn-Sóng chực-chờ vờn nuốt lẫn nhau tạo thành lăn-tăn liếu-tiếu . . . . . . Giữa lúc triền-miên thuyên-diễn Cảnh và Vật không chừng đổi nghĩ ngừng. Có khi cũng con người đó nhưng lại bình-tĩnh hiên-ngang tựa như ngọn Núi. Khi sáng sủa tưng bừng như vừng Thái-Dương mới mọc. Lúc lại tao-nhã nhu-mì như-trăng treo cành trúc . . . . . Sự thao-diễn của Tâm-Loài và Cảnh Tượng nhịp-nhàng chẳng sai khác với động-cơ của khuôn-cửi dệt, qua lại lẹ-làng in con Thoi trên chiếc thảm hàng không sai khác hay hơn kém.
Lại có kẻ cố tìm ra sự thật để khám phá vũ-trụ triền-miên, dùng hết Tâm-Ý suy-ngẫm, xem-xét tỉ-mỉ từng chiếc lá rơi, từng giòng suối chảy, từng muôn ngàn hạt cát cấu-kết nên viên Sỏi Đá. Từng muôn ngàn Tính-Chất liên kết nên Tế-Bào. Từng muôn ngàn Tế-Bào trở thành Thân-Xác của loài và vật. Lại trớ-trêu có người hỏi kẻ ấy: Nó chết sẽ về đâu? Thời kẻ suy-ngẫm cũng chỉ thở dài, khó mà giải đặng. Như vậy nó vẫn triền miên không lối thoát . . . . . .
Cứ thế triền-miên đến lúc cùng.
Không đem ai lại mối tình-chung.
Ngày qua xuôi-chảy, nương xuôi-chảy . . . . .
Trọn-kiếp hoang-mang vẫn lạnh-lùng.
Hỡi vạn-vật xuôi-chảy? Tại nó hay tại Thời-gian Không-Gian chừa lại một khuôn khổ để triền-miên . . . . . Hay một kiên-cố hẹp-hòi để mà sống từng loài riêng-biệt, hay từng kiếp rộng-hẹp của mức quy-định để mà sống . . . . . Để mà triền-miên nơi ảo-vọng. Hay để nương Nghiệp chung đúc tình thương riêng-rẽ, ôm-ấp một cái sống Nghiệp-Đồng, còn ngoài ra nhai nuốt lẫn nhau, dành xé cướp đoạt thân để ăn uống cho thỏa-mãn . . . . .
Vì vậy nên sinh ra nếp sống mau hay chậm từng kiếp mà tận-hưởng. Như loài con người 61 năm là một kiếp, còn con Phù-Dung chưa đặng 24 tiếng đồng-hồ chịu một đời. Nó cứ như thế mà tan hợp, hợp tan theo từng khuôn-khổ mà chịu, thay đổi đổi thay không ngừng nghĩ . . . . . Và nó cũng chập-chờn thương-ghét, hiểu biết in nhau. Nó lại tận hưởng sự khoái-lạc cũng không sai khác. Nhưng nó chỉ phân-tách ra từng loài để đóng thành TÌNH và NGHIỆP.
Cũng như:
Đồng-Nghiệp đồng-vương rất tỏ-tường
Vợ-chồng con cái nối tình thương
Đến khi Biệt-Nghiệp sinh ra Quái
Sát-hại chồng con vốn lẽ thường.
_o0o_
Giòng đời cứ thế mãi buông trôi
Hết kiếp này qua kiếp khác trồi
Vướng-vít luân-hồi đâu chấm-dứt
Chỉ vì: Mỗi Nghiệp, mỗi Tình thôi.
Này các nhân-sinh, các loài hiểu biết: Hãy coi đó là Chiêm-Bao . . . . . Nó không thực, nó là Ảo-mộng mà có . . . . . Nên nó không tồn-tại vĩnh-viễn . . . . . Xem nó là một bức tranh lầm Sống, chớ cầu-cạnh nó quá, không lấy chỗ đắm-đuối Vũ-Trụ Nhân-Sinh làm quan-hệ. Chỉ cốt Chân-Thiện-Mỹ hoàn lại cho TA là đủ. Gạt bỏ nó ra, sự rỗng-rang hiểu biết, Tâm không phiền trách và mắc-miếu là đặng. Lần lần sự CÓ và KHÔNG thuyên-diễn không chỉ quan-hệ. Sau mới tỏ CÓ . . . . KHÔNG đều là MỘNG và THỰC vậy.
Bậc Bình-Dị hay Thánh-Tăng mới tỏ-rõ Nửa Mảnh Triền-Miên Tuyệt-Mỹ Thanh-Bình tuyệt-đẹp vô kể.
Nó chính là:
Ngàn phương duy chỉ một màu không-gian
Chẳng chia, đâu xẽ mọi đàng
Đi tìm lối thoát là ngang với giòng
Chân-Không, Vốn nó Sẵn-Không
Đem chi cái Chấp, thêm tròng Nó MÊ
Ai khen Vạn-Pháp nọ tê
Ta cười Vạn-Pháp, trò hề chính nơi . . . . . .
TỊNH-VƯƠNG NHẤT-TÔN.
Ngày 24 tháng 12 năm Tân-Sửu
Ngày 24 tháng 12 năm Tân-Sửu
